BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ ĐÀO
GIẢI ĐOÁN HÀM Ý HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KỂ CHO
HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC QUYẾT TÂM –
THÀNH PHỐ SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2015
Lời cảm ơn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
nhiệt tình, chu đáo của Tiến sĩ Vũ Tiến Dũng đã hướng dẫn để em hoàn thành khóa
luận này.
Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi của Ban chủ
nhiệm Khoa Tiểu học – Mầm non, Phòng Đào tạo, Thư viện, sự động viên cổ vũ của
các thầy cô giáo Bộ môn Khoa học cơ bản, cảm ơn tập thể lớp K52 ĐHGD Tiểu học A
đã ủng hộ em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này.
Sơn La, ngày tháng 05 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Đào
MỤC LỤC
Một số từ viết tắt
TGĐ: tiền giả định
SGK: sách giáo khoa
SGV: sách giáo viên
GV: giáo viên
HS: học sinh
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài khóa luận
Khái niệm hàm ý cùng lý thuyết hàm ngôn hội thoại của H.P. Grice được đánh giá
là một bước tiến quan trọng của ngôn ngữ học, mới ra đời cách đây non nửa thế kỷ.
Mặt khác, trong một số tác phẩm văn học dân gian được đưa vào giảng dạy
trong chương trình Tiểu học thông qua các tiết kể chuyện, việc dùng hàm ý trong các
cuộc thoại xuất hiện khá phổ biến. Vì vậy, việc khám phá hàm ý của các cuộc hội thoại
trong các câu chuyện đó vừa góp phần làm sáng tỏ đặc tính cơ bản của hàm ý hội
thoại, vừa lí giải về thi pháp nghệ thuật trong câu chuyện. Đây là một việc làm cần
thiết và có ý nghĩa thiết thực, giúp học sinh tiểu học học tập tốt hơn.
Từ lí do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Giải đoán hàm ý hội thoại trong truyện
kể cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Quyết Tâm - thành phố Sơn La”.
2. Lịch sử vấn đề
Ngữ dụng học đã xuất hiện từ lâu. Mãi đến thập niên 70 của thế kỉ XX, ngữ dụng
học mới phát triển mạnh mẽ cả về lí thuyết lẫn nghiên cứu cụ thể. Khi xuất hiện, ngữ
dụng học đã cuốn hút rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Liên quan đến vấn đề hàm
ý, có các công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
Khái niệm “hàm ngôn hội thoại” được Herbert Paul Grice “thai nghén” từ cuối
những năm 50 của thế kỷ XX rồi hoàn thiện trong phác thảo thuyết hàm ngôn mà ông
đưa vào tập bài giảng William James khi đang giảng dạy tại Đại học Harvard năm
1967. Ngay từ đầu, các vấn đề về hàm ngôn trong tập bài giảng William James đã có
ảnh hưởng rất lớn nhưng có lẽ phải một thời gian, sau khi cuốn Logic và hội thoại
(1975) và bài báo Ghi chú thêm về logic và hội thoại (1978) ra đời thì thuyết hàm ngôn
hội thoại của Grice mới thực sự trở thành “một trong những chuyên luận kinh điển”
của ngữ dụng học.
Phát hiện của Grice đã mở ra một trào lưu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ. W.A.
Davis (2005) khẳng định: “Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề
chính của ngữ dụng học.”
Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học – tập 2 đã nêu ra cơ chế tạo ra hàm
ẩn không tự nhiên. Ông đã gọi thuật ngữ hàm ý là hàm ngôn và phân chúng thành hai
loại: hàm ngôn ngữ nghĩa và hàm ngôn ngữ dụng.
Còn Hồ Lê trong Cú pháp tiếng Việt – quyển 3, đã phân loại nghĩa hàm ẩn gồm
hàm nghĩa và hàm ý, trong hàm ý thì bao gồm ẩn ý, dụng ý và ngụ ý. Mặc dù Hồ Lê có
sự phân loại khá chi tiết tuy nhiên để áp dụng nó vào việc xác định nghĩa hàm ẩn trong
chính là những gì người nghe phải tự suy ra qua phát ngôn, để hiểu đúng và đầy đủ ý
nghĩa của phát ngôn đó” [9; 136].
(2) Hàm ý là phần có giá trị thông tin thuộc nghĩa hàm ẩn, đối lập với tiền giả
định (TGĐ) là phần không có giá trị thông tin.
4
H.P.Grice (1975) phân biệt nghĩa hàm ẩn tự nhiên (natural meaning) với nghĩa
hàm ẩn không tự nhiên (non-natural meaning). O. Ducrot thống nhất với quan niệm
của Grice nhưng thể hiện sự phân biệt đó bằng các thuật ngữ “hàm ngôn” và “tiền giả
định” (TGĐ). Ông coi TGĐ là một hình thức hàm ngôn quan trọng, là hàm ngôn nằm
trực tiếp trong bản thân “nghĩa từ ngữ” của lời (Dẫn theo [14; 98]).
Mặc dù đã đạt được sự thống nhất cơ bản như trên, giữa các nhà nghiên cứu vẫn
còn những khác biệt tương đối lớn và có thể coi đây là những điểm chưa rõ trong lý
thuyết hàm ngôn hội thoại, cần được tiếp tục nghiên cứu thêm.
Cùng với những khác biệt trong sử dụng thuật ngữ, các nhà nghiên cứu ngữ dụng
học còn thể hiện quan niệm khác nhau về phạm vi của hàm ý. Phần đông các tác giả có
xu hướng giới hạn hàm ý ở nghĩa miêu tả (nghĩa mệnh đề) [6]; [7]; [9]; [12]; [14], chỉ
có một số ít tác giả cho rằng nghĩa tình thái cũng có thể là hàm ý ([13]).
H.P.Grice và nhiều tác giả nước ngoài theo học thuyết của ông như Horn (1989),
Levinson (1983; 1987b; 2000), George Yule (1997),… hay một số tác giả theo lý
thuyết về tính quan yếu như D. Sperber& D. Wilson (1995), Carston (2002) và các nhà
nghiên cứu ở Việt Nam như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân,… đều
thống nhất dựa vào mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp để phân biệt hai loại
hàm ý là hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại. Bên cạnh đó, sự phân biệt hàm ý quy ước
với hàm ý hội thoại tuy rất quan trọng nhưng vẫn chưa phản ánh được đầy đủ các khía
cạnh rất phong phú của hiện tượng hàm ý trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con
người. Một tác giả Việt Nam là Hồ Lê đã đề xuất phân loại hàm ý theo khu vực tình
thái mà người nói ký gửi vào phát ngôn [13; 139 – 143], nhưng theo chúng tôi, ranh
giới của các loại hàm ý trong cách phân loại này rất mờ nhạt, khiến người học khó
nhận diện đối tượng.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
cuốn Truyện đọc lớp 5 của PGS. TS. Hoàng Hòa Bình và TS. Trần Thị Hiền Lương
làm ngữ liệu khảo sát. Bên cạnh đó, tôi sử dụng những đoạn thoại mô phỏng đối thoại
trực tiếp ngoài đời thực, một số chi tiết của tác phẩm báo chí, văn chương. Trong một
số trường hợp cần thiết (để so sánh, đối chiếu hoặc minh chứng cho quan điểm của tác
giả), chúng tôi có mượn lại một số ví dụ đã dẫn trong các tài liệu nghiên cứu về ngữ
dụng học trong và ngoài nước.
6. Ý nghĩa của khóa luận
6.1. Ý nghĩa lí luận
Trên cơ sở trình bày lí thuyết ngữ dụng học (qua học tập và nghiên cứu tài liệu)
ở phương diện hàm ý hội thoại, phương châm hội thoại, khóa luận xác định cách phân
tích và tìm hiểu ý nghĩa của hàm ý trong truyện kể cho học sinh lớp 5.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
6
Kết quả nghiên cứu của khóa luận góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng
sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hằng ngày, có thể được sử dụng làm tư liệu cho việc
giảng dạy phân môn Kể chuyện, phần nào đó giúp cho việc giảng dạy phân môn Kể
chuyện trong nhà trường tiểu học theo phương pháp mới. Đồng thời đây sẽ là một tư
liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc của khóa luận gồm 3
chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Hàm ý hội thoại trong truyện kể ở tiểu học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Hành động ngôn ngữ
1.1.1.Khái niệm hành động ngôn ngữ
Khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành
động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Đó là hành động ngôn ngữ.
cho hoạt động giao tiếp mà người nói có ý định đặt ra. Ví dụ, có một người nước ngoài
nói tiếng Việt:
(1) Xin lôi cac đông chi.
thì như vậy chưa được coi là là hành động tạo lời (vì phát âm không đúng hệ thống
ngữ âm tiêu chuẩn tiếng Việt) mà người nói hoàn thành hành động tạo lời phải nói là:
(2) Xin lỗi các đồng chí!
Sản phẩm của hành động tạo lời là đối tượng nghiên cứu của cú pháp tiền dụng học.
1.1.2.2 Hành động mượn lời
Khi nói về nội dung của diễn ngôn, chúng ta đã nói đến đích tác động của hoạt
động giao tiếp. Hành động ngôn ngữ liên quan tới đích tác động của diễn ngôn là hành
động mượn lời (hành động xuyên ngôn). Hành động mượn lời là những hoạt động
mượn phương tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu
quả ngoài ngôn ngữ nào đó như biến đổi trong nhận thức, trong tâm lí, trong hành
động vật lí có thể quan sát được ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói.
Ví dụ:
(3) Sp
1
: Đóng cửa lại!
Sp
2
: Đứng dậy đóng cửa, khó chịu, bực tức, càu nhàu, gắt gỏng.
Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời
của phát ngôn. Có những hiệu quả mượn lời là đích cuả một hành động tại lời. Hành
động vật lí: đóng cửa là hiệu quả mượn lời của hành động tại lời mệnh lệnh: Đóng cửa
lại nhưng có những hiệu quả không thuộc đích của hành động tại lời như khó chịu, bực
tức, càu nhàu, gắt gỏng khi nghe mệnh lệnh. Đây cũng là hiệu quả thuộc về hành động
mượn lời.
1.1.2.3. Hành động tại lời
Hành động tại lời (hành động ngôn trung) là hành động mà đích của nó nằm ngay
trong việc tạo nên phát ngôn được nó nói (viết) ra. Chính cái đích này phân biệt các
giữa những người đã quen biết nhau. Ví như khi ta gặp một người quen, ta biết họ
đang trên đường đi chợ về, mang theo rau, thịt, cá , ta vẫn hỏi:
(5) - Đi chợ về đấy à? hoặc: Mua nhiều đồ ăn vậy?
Hình thức các phát ngôn ở ví dụ (5) là câu hỏi nhưng đích của các phát ngôn (5)
là lời chào. Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, có một số lời mời mang tính xã giao
của người Việt nhưng đích của các lời mời xã giao đó trong một hoàn cảnh giao tiếp
cụ thể có thể là lời chào.
1.1.3. Hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp
1.1.3.1. Hành động ngôn ngữ trực tiếp
Hành động ngôn ngữ trực tiếp là những hành động ngôn ngữ được thể hiện
đúng với đích tại lời (the point of illocutionary). Đích tại lời được hiểu là điều kiện căn
bản, chính là trách nhiệm của người nói và người nghe bị ràng buộc khi hành động tại
lời đó được phát ra. Thường thì một hành động ngôn ngữ có một đích tại lời. Đó là
hoạt động ngôn ngữ trực tiếp (direct speech act). Những phát ngôn có quan hệ trực tiếp
giữa một cấu trúc và một chức năng là những phát ngôn có hành động ngôn ngữ trực
tiếp. Hay nói cách khác, hành động ngôn ngữ trực tiếp là hành động ngôn ngữ được
thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng.
Ví dụ:
(6) Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao!
(Nguyễn Thế Hội)
(7) Ai đứng chóp bu bọn này?
10
(Tô Hoài)
(8) Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
(Ca dao)
(9) Đừng có nhảy lên boong tàu!
(Hà Đình Cẩn)
Câu (6) là câu cảm thán vì câu này tác giả sử dụng tình thái từ làm sao ở cuối
câu; câu (7) là câu hỏi vì có từ nghi vấn ai; câu (8) là câu khẳng định; câu (9) là câu
Ví dụ:
(12) Sp
1
: Tối nay đi thăm Hà với chị nhé.
Sp
2
: Ngày mai em thi rồi.
Để có thể nhận ra phát ngôn của Sp
2
là một lời từ chối, Sp
1
phải có một quá
trình suy luận rất nhanh trong tình huống này diễn ra trong tư duy: “Mình rủ đi thăm
một người bạn thì ít đúng ra Sp
2
nên chấp nhận hoặc từ chối hoặc thảo luận thêm.
Nhưng Sp
2
trả lời không như Sp
1
tính toán. Như vậy, hành động tại lời của Sp
2
không
phải là nghĩa trực tiếp của phát ngôn đem lại. Sp
1
hiểu rằng ngày mai thi rồi nên Sp
2
không có thời gian đi thăm bạn bè cùng Sp
1
được nữa. Lời đáp của Sp
Phê phán:
(20) Những việc vô đạo đức như thế mà anh cũng làm được à?
Hành động trực tiếp cảm thán cũng có thể dùng cho các hành động tại lời gián tiếp.
Nhờ vả:
(21) Ôi, bài này khó quá! (Anh giải giúp em với).
Đòi hỏi:
(22) Mẹ ơi, cái váy kia đẹp quá! (Mẹ mua cho con đi).
Có rất nhiều hành động tại lời được dùng gián tiếp như vây. Muốn xác định
được hành động tại lời nào được dùng gián tiếp như vậy chúng ta cần phải dựa vào
một số căn cứ sau:
Một là phải nhận biết hành động tại lời là hành động nào. Điều này phải căn cứ
vào các phương tiện chỉ dẫn hành động đặc thù cho từng hành động tại lời.
Hai là phải căn cứ vào nội dung mệnh đề, tức là căn cứ vào cấu trúc quan hệ
ngữ nghĩa của các thành tố tạo nên nội dung mệnh đề. Thông thường, thành tố ngữ
nghĩa tạo nên nội dung mệnh đề có quan hệ nào đấy với người tiếp nhận phát ngôn.
Ba là phải căn cứ vào ngữ cảnh, căn cứ vào mối quan hệ nguyên nhân giữa
người thực hiện hành động tại lời gián tiếp với người tiếp nhận thì mới xác định được
đúng thực chất của hành động tại lời được dùng gián tiếp. Thông thường, muốn xác
định được hành động tại lời là hành động gián tiếp gì thì chúng ta phải dựa vào lời hồi
đáp của người tiếp nhận. Có thể khẳng định rằng việc xác định hành động tại lời gián
tiếp chính là vấn đề quan hệ giữa phát ngôn với ngữ cảnh hay chính là sự kiện lời nói
góp phần quan trọng để nhận diện hành động tại lời gián tiếp sau hành động tại lời
trực tiếp.
Ví dụ:
(23) Sp
1
: Anh có khỏe không ạ?
Sp
2
: Chào em.
2
, phát ngôn của Sp
1
trong ví dụ (20) có hành
động tại lời trực tiếp hỏi; phát ngôn của Sp
1
trong ví dụ (21) có hành động gián tiếp
thỉnh cầu (hoặc yêu cầu, đề nghị); phát ngôn của Sp
1
trong ví dụ (22) có hành động
gián tiếp phê bình.
Trong giao tiếp tiếng Việt có một số biểu thức ngôn hành của một số hành động
ngôn ngữ trực tiếp được dùng lặp đi lặp lại thành những công thức có tính ước định để
biểu thị những hành động gián tiếp gần như cố định. Đây là những biểu thức ngôn
hành đã được cộng đồng người Việt quy ước thành những nghi thức giao tiếp. Chẳng
hạn, một số câu hỏi được ước định dùng để chào nên người Việt mới có từ chào hỏi.
Ví dụ:
(28) - Thầy lên lớp về đấy ạ?
- Bác đi chợ về đấy ạ?
- Em đi chơi à?
Những câu hỏi này trong một ngữ cảnh cụ thể thường hỏi để mà hỏi, hỏi mà
không quan tâm đến nội dung trả lời như thế nào và người được hỏi cũng không cần
phải trả lời đúng với nội dung câu hỏi. Đây là những phát ngôn hỏi trực tiếp mà hiệu
lực gián tiếp là để chào.
Hành động tại lời vừa có tính phổ quát cho mọi ngôn ngữ, vừa có tính đặc hữu
của từng dân tộc và hàng loạt những vấn đề đang đặt ra mà trong khuôn khổ của khóa
luận này không thể trình bày hết được.
1.2. Lí thuyết hội thoại
14
1.2.1. Mở đầu
Những vấn đề đó được đặt ra như thế nào (công khai hay ngầm ẩn)?
15
Phương thức thể hiện sự ngầm ẩn ấy cũng như sự nhận biết đó ra sao?
Người ta tổ chức và chi phối cuộc thoại như thế nào để đạt được nội dung đề ra.
Chẳng hạn như cách thức xưng hô, các hành động cảm ơn, chào, xin lỗi… của những
người tham gia hội thoại giữa các dân tộc không hoàn toàn giống nhau. Chẳng hạn
người Anh nói cảm ơn là lịch sự nhưng người Việt mà sử dụng quá nhiều lời cảm ơn
trong giao tiếp sẽ bị nhìn nhận là khách sáo. Tương tự, lời chào của người Anh, người
Pháp có tính khuôn mẫu khá cao và thường chào theo thời gian; còn lời chào của
người Việt có tính linh hoạt và uyển chuyển tùy theo ngữ cảnh và mối quan hệ liên
nhân giữa các nhân vật giao tiếp.
Ví dụ:
(29) Lời chào gặp mặt của người Anh:
Good morning! (Chào buổi sáng).
Good afternoon! (Chào buổi chiều).
Good evening! (Chào buổi tối).
(30) Lời chào chia tay (tạm biệt) của người Anh: Good bye hoặc bye!
Ngoài ra người Anh còn sử dụng các lời chào gặp mặt có tính khuôn mẫu khác như
hello, hi, how do you do
(31) Lời chào gặp mặt của người Việt:
Cháu chào ông (bà, cô, bác ) ạ!
Em chào thầy (cô) ạ!
Chào anh!
(32) Lời chia tay (tạm biệt) của người Việt:
Em xin phép cô, em về ạ!
Mình về nhà đây!
Anh (chị) về nhé!
Ngoài ra, người Việt còn sử dụng rất nhiều cách thức chào hỏi khác nhau như
hỏi để chào, mời để chào và các cách thức chào linh hoạt khác nữa
1.2.3. Nguyên tắc cộng tác hội thoại
a. Phương châm về lượng: phương châm này chia làm 2 vế:
a
1
: Hãy làm cho đóng góp của anh có lượng tin đủ như đòi hỏi của đích cuộc hội
thoại;
a
2
: Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó được đòi hỏi.
b. Phương châm về chất: phương châm này được phát triển tổng quát như sau:
hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:
b
1
: Đừng nói điều gì mà anh tin là không đúng;
b
2
: Đừng nói điều gì mà anh không có đủ bằng chứng.
17
c. Phương châm quan hệ: (còn gọi là phương châm quan yếu) hãy làm cho phần
đóng góp của anh là quan yếu, tức có dính lứu đến câu chuyện đang diễn ra.
d. Phương châm cách thức: dạng tổng quát của phương châm này là: hãy nói cho
rõ ràng, đặc biệt là:
d
1
: Hãy tránh lối nói tối nghĩa;
d
2
: Hãy tránh lối nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa;
d
3
: Hãy nói ngắn gọn;
meaning) được các nhà ngôn ngữ học giải thích là “ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố
ngôn ngữ đem lại” [3, 359] , “nghĩa được nói rõ trong mỗi câu” [6, 191], “nghĩa có thể
rút ra từ nghĩa nguyên văn (nghĩa đen và cả nghĩa bóng) của các từ ngữ có mặt trong
câu và từ những mối quan hệ cú pháp giữa các từ ấy” [11, 115], “cái nghĩa biểu hiện rõ
qua nguyên văn câu nói” [12, 112],…
Trong đề tài này, khái niệm nghĩa tường minh mà chúng tôi sử dụng tương ứng
với các khái niệm nghĩa câu chữ, nghĩa hiển hiện, hiển ngôn,… của hầu hết các tác giả
khác. Tuy nhiên, so với hệ thống quan niệm của tác giả Cao Xuân Hạo thì nó tương
ứng với hiển nghĩa, chứ không tương ứng với hiển ngôn, bởi vì chúng tôi không coi
tiền giả định (điều kiện tiên quyết để câu nói có thể đúng hoặc sai) là một bộ phận của
hiển ngôn như quan niệm của tác giả (xem: [12, 112]).
1.3.2. Nghĩa hàm ẩn
Nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn, implicit meaning) là thông tin không được thể hiện
trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng có thể nhận biết nhờ suy ý trên cơ sở hiển
ngôn, hoàn cảnh phát ngôn và quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập
luận, điều khiển hội thoại,…
O. Ducrot giải thích rằng thực chất của hàm ngôn là nói mà coi như không nói,
nghĩa là “nói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có nghĩa là
vừa có được hiệu lực của nói năng, vừa có được sự vô can của im lặng.”(Dẫn theo [14,
100]). Còn theo Hoàng Phê, “khi một lời nói có hàm ngôn thì ý hàm ngôn thường là
quan trọng, thậm chí có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn là ý
chính”. [14, 93].
Herbert Paul Grice – người đầu tiên nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn, cho rằng nghĩa
hàm ẩn gồm hai thành phần là nghĩa hàm ẩn tự nhiên và nghĩa hàm ẩn không tự nhiên.
(Dẫn theo [3]). Sau H.P. Grice, O. Ducrot phân biệt hai loại hàm ẩn là tiền giả định
(tiền đề, presupposition, viết tắt: TGĐ) và hàm ngôn. Ông cũng phân biệt loại hàm
ngôn là kết quả được rút ra từ sự suy luận của người nghe dựa vào nội dung khách
quan của lời (ví dụ, nói Trời đẹp là để thông báo “muốn đi chơi”) với loại hàm ngôn là
kết quả suy luận của người nghe từ hành vi nói năng (ví dụ, đang tiếp khách mà hỏi
Mấy giờ rồi? là muốn đề nghị khách ra về). (Dẫn theo [14, 100]).
Riêng Hồ Lê (1996) thì phân biệt hai lớp nghĩa hàm ẩn là hàm nghĩa và hàm ý
dựa theoquan hệ về nội dung đối với hiển ngôn: hàm ý (bao gồm: ngụ ý, ẩn ý, dụng ý) là
20
ý nghĩa hàm ẩn có nội dung khác với hiển ngôn; còn hàm nghĩa là ý nghĩa hàm ẩn bổ
sung một phương diện nào đó cho hiển ngôn.
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn đề cập đến thành phần thứ ba của nghĩa hàm
ẩn là dẫn ý (entailment). Dẫn ý vốn là một thuật ngữ thuộc lĩnh vực logic học, biểu thị
mối quan hệ kéo theo giữa các mệnh đề (p và q chẳng hạn) nếu trị đúng của q tất yếu
nảy sinh từ trị đúng của p và trị sai của q tất yếu nảy sinh từ trị sai của p (tức p kéo
theo q).Ví dụ:
(34) - A nhận B vào làm việc tại Công ty X (p)
- B là nhân viên của Công ty X (q)
Ta nói: p ⇒ q (p dẫn ý q) bởi nếu p (A nhận B vào làm việc tại Công ty X) đúng
sự thật thì q (B là nhân viên của Công ty X) tất yếu đúng sự thật. Do “đặc tính kỹ
thuật” của dẫn ý mà thuật ngữ này (entailment) được một số tác giả dịch là “kéo theo”
để biểu thị “những điều rút ra theo logic từ những cái được khẳng định trong phát
ngôn” [11, 126].
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, trong khóa luận này, tôi quan
niệm nghĩa hàm ẩn là những thông tin không được thể hiện trong ý nghĩa nguyên văn
của từ ngữ và các mối quan hệ cú pháp của câu nhưng có thể nhận biết nhờ suy ý từ
hiển ngôn, hoàn cảnh phát ngôn và quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển
lập luận, điều khiển hội thoại,… Nghĩa hàm ẩn gồm TGĐ và hàm ý.
1.3.2.1. Tiền giả định
Khi bàn về tiền giả định, người ta thường nêu định nghĩa tiền giả định, thuộc tính
của tiền giả định, và các kiểu tiền giả định. Cách nhìn về các nội dung này có thể xê
dịch ở những nhà nghiên cứu khác nhau. Sau đây chúng tôi xin dẫn những cách nhìn
có nhiều điểm chung và sẽ được áp dụng vào việc học tập, nghiên cứu, khi cần thiết.
Tiền giả định (TGĐ) là hiện tượng được quan tâm khá tập trung trong giai đoạn
đầu của việc lí giải ngĩa hàm ẩn của phát ngôn. Từ những năm 90 (thế kỉ XX), về mặt
nghiên cứu, cách hiểu về TGĐ đã khá thống nhất và nó không còn giữ địa vị quan
TGĐ không chân thực thì câu nói có thể trở thành vô nghĩa, mặc dù vẫn đúng ngữ
pháp. Trên thực tế, TGĐ được sử dụng quen thuộc đến mức người nói không hề có ý
thức về nó khi nói ra lời. Thế nhưng, TGĐ vẫn là cái mà người nói có, chứ không phải
từ ngữ có. Điều này có thể chứng minh được bằng cách mà con người sử dụng TGĐ
một cách chủ định nhằm đạt được mục đích của mình.
TGĐ vốn không mang ‘cái mới’, không có ‘giá trị thông báo’, nhưng cách sử
dụng chúng đôi khi có tác dụng tìm ra ‘cái mới’, cái có ‘giá trị thông báo’. Có thể quan
sát cách sử dụng TGĐ với mục đích vừa nêu qua hai trường hợp sau đây:
a. Dùng TGĐ chưa chắc là chân thực để “bẫy” người
22