iv
TịMăTTăLUNăVĔN
Phương pháp giảng dạy đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng đào tạo. Dạy học là quá trình trợ giúp người học chiếm lĩnh nội dung và kiến
thức. Theo PPDH truyền thống, dạy học thường được xem là quá trình truyền thụ
kiến thức từ thầy sang trò theo lối ghi - chép; tuy nhiên với thời kỳ hội nhập quốc tế
buộc người lao động phải linh hoạt, sáng tạo và có khả năng giải quyết các vấn đề
phức hợp trong những tình huống thay đổi. Với việc ứng dụng phương pháp giảng
dạy theo định hướng tương tác là một sự thay đổi mới mang lại hiệu quả cao trong
giảng dạy.
Dạy và học ngoại ngữ được xem là một quá trình khám phá, trong đó người
học luôn đóng vai trò chủ động, tiếp nhận kiến thức sử dụng ngôn ngữ phù hợp cho
những mục đích giao tiếp cụ thể. Do vậy, người dạy cần vận dụng và phát huy triệt
để mọi phương tiện để thúc đẩy các hoạt động giao tiếp nhằm nâng cao khả năng
ngôn ngữ, gây được sự hứng thú trong học tập, khích thích khả năng tư duy buộc
người học phải nổ lực để có thể chuyển biến thành ngôn ngữ của chính mình.
Nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ cơ bản và đầu tiên của nhà
trường và cũng là nhiệm vụ trực tiếp của mỗi cá nhân giáo viên. Từ những lý do
trên, người nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài: “ng dụng phương pháp dạy kỹ
năng Nói tiếng Anh theo hướng tương tác cho sinh viên tại trường Cao đẳng
Nghề Bạc Liêu”
* Nội dung của luận văn gồm những phần chính sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy kỹ năng Nói tiếng Anh theo định hướng tương tác
Chương 2: Thực trạng tổ chức dạy và học kỹ năng Nói tiếng Anh tại trường Cao
đẳng Nghề Bạc Liêu
Chương 3:Thực nghiệm sư phạm, đánh giá hiệu quả phương pháp giảng dạy
Cuối cùng là kết luận và kiến nghị
v
Trang
Quyết định giao đề tài
Lý lịch khoa học i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt iv
Mục lục vi
Danh mục từ viết tắt ix
Danh mục các sơ đồ x
Danh mục hình vẽ x
Danh mục các bảng biểu x
PHNăMăĐU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3. Giả thuyết nghiên cứu 4
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Cấu trúc luận văn 4
PHNăNIăDUNG
CHNGă 1:ă Că Să Lụă LUNă Vă DYă Kă NĔNGă NịIă TING ANH
THEO ĐNH HNGăTNGăTÁCă
1.1 Tổng quan 6
1.1.1 Các khái niệm 6
1.1.2 Kỹ năng lời nói 10
1.1.3 Sản sinh và tiếp nhận lời nói 12
1.2 Một số phương pháp dạy học tiếng Anh 15
1.3 Dạy học theo định hướng tương tác 18
1.4 Một số phương pháp dạy học tương tác 22
2.3.1 Khảo sát thực trạng dạy và học kỹ năng Nói tiếng Anh 53
2.3.2 Một số kết quả khảo sát 54
viii
2.3.2.1 Kết quả khảo sát lấy ý kiến của giáo viên 55
2.3.2.2 Kết quả khảo sát lấy ý kiến của sinh viên 56
2.4 Các giải pháp 58
2.5 Kiểm tra, đánh giá người học 61
2.6 Kết luận chương 2 64
CHNGă 3:ă THCă NGHIMă Să PHM,ă ĐÁNHă GIÁă HIUă QUă
PHNGăPHÁPăGINGăDY
3.1 Mục đích thực nghiệm 65
3.2 Nội dung thực nghiệm 65
3.3 Thiết kế và chọn mẫu khảo sát 66
3.4 Tổ chức thực nghiệm 66
3.5 Kết quả thực nghiệm xử lý số liệu 68
3.5.1. Kết quả định tính về tính tích cực học tập của SV 68
3.5.2. Kết quả định lượng điểm kiểm tra của sinh viên lớp đối chứng và lớp thực
nghiệm 73
3.5.3. Kết quả tổng hợp từ phiếu đánh giá nhận xét của giáo viên dự giờ 77
3.6 Kết luận chương 3 80
PHNăKTăLUNăKINăNGH
1. Kết luận 82
1.1. Kết luận chung về đề tài 82
1.2. Đánh giá đề tài 83
1.3. Những đóng góp của đề tài 83
1.4. Hướng phát triển của đề tài 85
2. Kiến nghị 85
TÀIăLIUăTHAMăKHO 87
PHăLC
x
DANHăMCăCÁCăSăĐă
1. Sơ đồ 1.1 Phương tiện giao tiếp của Nguyễn Quang 12
2. Sơ đồ 1.2 Mô hình tiếp nhận lời nói của M.Halle & K.N Stevens 14
3. Sơ đồ 1.3 Mô hình ba thành tố hình thành PPDH của giáo viên 16
4. Sơ đồ 1.4 Cơ sở khoa học của dạy học trực quan 36
DANHăMCăCÁCăHỊNH
1. Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện khối lượng nội dung môn học 58
2. Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện mức độ yêu thích kỹ năng nói T.Anh 59
3. Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện các PP ứng dụng trong dạy kỹ năng Nói T.A 60
4. Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn mức độ yêu thích 70
5. Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện không khí tổ chức lớp học 71
6. Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện mức độ Nói lưu loát 72
7. Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện khả năng trình bày trước tập thể của SV 73
8. Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện khả năng hỏi và trả lời câu hỏi 74
9. Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện khả năng vận dụng kiến thức 75
10. Hình 3.7 Biểu đồ phân phối tần số lớp ĐC và TN 77
DANHăMCăCÁCăBNGăBIUă
1. Bảng 3.1 Mức độ yêu thích kỹ năng Nói 70
2. Bảng 3.2 Kết quả quan sát không khí lớp học 71
3. Bảng 3.3 Khả năng Nói lưu loát tiếng Anh 71
4. Bảng 3.4 PTDH được ứng dụng trong giảng dạy kỹ năng Nói T.A 72
5. Bảng 3.5 Khả năng trình bày trước tập thể 73
6. Bảng 3.6 Khả năng hỏi và trả lời câu hỏi 74
7. Bảng 3.7 Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn 74
8. Bảng 3.8 Thống kê điểm số cu
̉
a lớp ĐC và lớp TN 76
9. Bảng 3.9 Kết quả điểm số của lớp đối chứng và lớp thực nghệm 76
cứu khoa học.
Trong quá trình học tiếng Anh, người học luôn gặp phải những khó khăn liên
quan đến cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Trong bốn kỹ năng đó, người học
thường gặp nhiều khó khăn với kỹ năng Nói. Có nhiều nguyên nhân làm người học
2
nhận thấy khó khăn, một trong những nguyên nhân đó là trong quá trình học tiếng
Anh ở trung học cơ sở, trung học phổ thông, hay học tiếng Anh ở các trường
chuyên nghiệp kỹ năng Nói thường không được chú trọng. Trong khi đó kỹ năng
Nói đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong môi trường năng động như ngày nay. Kỹ
năng Nói (Speaking skill) được xem là kỹ năng khó rèn luyện trong bốn kỹ năng
ngôn ngữ. Vì vậy, phát triển và cải thiện kỹ năng Nói tiếng Anh cho sinh viên ở các
trường Nghề là thực sự cần thiết.
Việc rèn luyện cho người học kỹ năng giao tiếp được xem là mục tiêu cơ bản
trong tiến trình dạy học ngôn ngữ trong đó cả bốn kỹ năng Nghe - Nói - Đọc - Viết
đều được đặc biệt chú trọng. Nghe nói không còn là kỹ năng ngôn ngữ thụ động đòi
hỏi kỹ năng tiếp nhận (receptive skill) như một số giáo viên quan niệm trước đây.
Nghe nói trở thành kỹ năng chủ động, trong đó người học đóng vai trò tích cực của
người tham dự vào thông tin được nghe, xử lý thông tin, hiểu và giải mã được thông
tin để cuối cùng phản hồi lại với thông tin đó, đúng như tiến trình gồm bốn thao tác:
cảm nhận - hiểu - đánh giá - phản hồi. Chỉ khi nào người nghe có thể phản hồi được
thông tin thì quá trình giao tiếp mới đạt được kết quả mong muốn. Kỹ năng nói bị
hạn chế có thể làm hỏng tiến trình giao tiếp. Vì vậy, kỹ năng nói (Speaking Skill)
được xem là yếu tố cơ bản của quá trình giao tiếp.
Thực tế cho thấy rằng, sinh viên sau khi tốt nghiệp ở bất kỳ ngành học nào,
nếu trong tay cầm chắc một chuyên môn vững vàng song song với việc có khả năng
giao tiếp, sử dụng tiếng Anh lưu loát sẽ giúp sinh viên đó giành được ưu thế vượt
trội trong các kỳ tuyển dụng. Thậm chí ngay cả khi còn ngồi trên ghế nhà trường,
nếu sinh viên có khả năng sử dụng tiếng Anh thì điều đó cũng giúp họ tiếp cận với
+ Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về PPDH ngoại ngữ và dạy học theo định hướng
tương tác.
- Khảo sát thực trạng dạy và học kỹ năng Nói tiếng Anh tại trường Cao đẳng
Nghề Bạc Liêu.
- ng dụng một số phương pháp giảng dạy theo định hướng tương tác nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo tại trường.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá, kiểm chứng phương pháp đã đề xuất.
4
3.ăăGiăthuytănghiênăcu
Nếu ứng dụng phương pháp dạy kỹ năng Nói theo định hướng tương tác sẽ
cải thiện kỹ năng Nói tiếng Anh của sinh viên, nâng cao chất lượng học tập và khả
năng giao tiếp; phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo ở người học, tạo điều kiện
thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường đáp ứng nguồn nhân lực
và nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
4. ĐiătngăvƠăkháchăthănghiênăcuă
+ Đối tượng nghiên cứu : Phương pháp dạy kỹ năng Nói tiếng Anh theo
định hướng tương tác.
+ Khách thể nghiên cứu : Nội dung chương trình học kỹ năng Nói thuộc bộ
môn Anh văn căn bản hệ trung cấp tại trường Cao đẳng Nghề Bạc Liêu.
5. Phngăphápănghiênăcuă
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu : nhằm làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề
nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến: để thu thập thông tin,
khảo sát thực trạng dạy và học kỹ năng Nói tiếng Anh tại trường Cao đẳng Nghề
Bạc Liêu với đối tượng là giáo viên tham gia giảng dạy và sinh viên đang học tại
trường.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Người nghiên cứu sẽ tiến hành thực 6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY KỸ NĂNG NÓI
TIẾNG ANH THEO ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG TÁC
1.1 Tngăquan
1.1.1 Cácăkháiănim
Theo GS. Nguyễn Quang:“Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình người
học chiếm lĩnh nội dung học, trong và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân
cách (năng lực, phẩm chất)”. “Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh
khái niệm khoa học (nội dung học) dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên”
[4,11]
Dyăhọc: Dạy học được xác định như một nổ lực để giúp một người nào đó
có được, hoặc thay đổi một kỹ năng, kiến thức và các ý tưởng. Nói cách khác,
nhiệm vụ của người giáo viên là tạo ra hoặc gây ảnh hưởng để có thể dẫn tới một sự
thay đổi về hành vi mong muốn. [ Nguyễn Hữu Châu (2005)]
Niădungădyăhọc:ăLà một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hoá của
dân tộc và nhân loại; đó là những hệ thống tri thức, những cách thức hoạt động,
những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và những tiêu chuẩn về thái độ đối với thế
giới, con người phù hợp về mặt sư phạm nhằm hình thành và phát triển nhân cách
người học.
Tngătác: Theo nhà tâm lý học Piaget tương tác là sự tác động vào người
học làm cho người học có khả năng thực hiện một hành động hay làm được một
việc gì đó năng động hơn, linh hoạt hơn, trong đó người học được đặt vào tình
huống để suy nghĩ và giải quyết các vấn đề, từ đó hình thành và phát triển hoạt động
học tập của họ nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Ngoiăng: là một ngôn ngữ cụ thể được tạo ra để thoả mãn nhu cầu giao
nhau thì phương thức thực hiện cũng khác nhau)
- Phương pháp được cụ thể hoá bởi nội dung. Nội dung công việc quy định
cụ thể việc sử dụng phương pháp này hay phương pháp khác. 8
- Thể hiện qua tính tối ưu và tính đa dạng. Tính đa dạng được thể hiện ở chỗ
có nhiều phương pháp khác nhau để thực hiện mục tiêu hoạt động. Chủ thể hoạt
động luôn phải đối mặt với việc lựa chọn, xác định rõ phương pháp nào là tốt nhất,
sử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt được hiệu quả cao nhất. Điều
đó nói lên tính tối ưu của phương pháp.
Phngăphápădyăhọcăngoiăng: Phương pháp dạy học ngoại ngữ là cấu
trúc logic của cách thức, phương thức hoạt động/hành động.
Trong dạy học ngoại ngữ nói riêng cũng như trong dạy học nói chung, có ba
yếu tố chính: một là người học, hai là môn học, ba là người dạy. Là một trường hợp
cụ thể của dạy học, ba yếu tố đó trong dạy học ngoại ngữ được hiểu cụ thể là người
học ngoại ngữ, môn học ngoại ngữ, và người dạy ngoại ngữ. Đây là ba yếu tố cơ
bản nhất cấu thành dạy học ngoại ngữ. Bất kỳ một định nghĩa nào muốn đầy đủ và
đúng đắn về dạy học ngoại ngữ cũng phải bao gồm được ba yếu tố trên. Không đủ
ba yếu tố trên thì không có dạy học ngoại ngữ.
Bản chất tâm lý học dạy học ngoại ngữ ở đây được lý giải việc người học
nhận thức (nắm vững) nội dung môn học ngoại ngữ như thế nào? Sự nhận thức này
diễn ra theo qui luật nào? Bản chất của ngoại ngữ là gì? Và người dạy có vai trò,
chức năng như thế nào ở đây, từ đó làm cơ sở để đề ra phương hướng, mục tiêu, đối
tượng, nội dung, và phương pháp dạy học ngoại ngữ thích hợp trong dạy học ngoại
ngữ.
Đặcătrngăcaăhotăđngădyăhọcăngoiăng: Gồm 5 thành phần
1) Đối tượng
2) Động cơ
3) Mục đích
hoạt động để giao tiếp và nhận thức.
Thật vậy, dạy học ngoại ngữ trước tiên phải hình thành, gây động cơ học tập
cho người học. Nhu cầu và động cơ luôn gắn bó mật thiết với nhau đến mức không
thể tách rời ra được, chúng tạo thành một khối thống nhất, một môi trường động cơ
– nhu cầu. Khi người học có hứng thú với môn học thì động cơ bắt đầu có liên
quan đến nhu cầu giao tiếp (động cơ đích thực); vì vậy, cần phải tạo ra các điều kiện
kích thích hứng thú học tập ngoại ngữ như làm cho người học ý thức được đầy đủ
sự cần thiết phải nắm được ngoại ngữ như phương tiện giao tiếp. Các điều kiện như:
xây dựng chương trình học tập ngoại ngữ hợp lý, tạo tình huống lời nói
c/ăMcăđích:ăMục đích của dạy học ngoại ngữ là làm cho người học nắm
được ngoại ngữ như một phương tiện giao tiếp để có thể nói, nghe, đọc, viết, dịch
và nghĩ bằng ngoại ngữ trong giao tiếp ngoại ngữ và trong nhận thức; để từ đó hình
thành kỷ năng, kỷ xảo lời nói ngoại ngữ.
d/ăPhngătin:ăPhương tiện hoạt động dạy học ngoại ngữ cơ bản nhất là
các hoạt động học ngoại ngữ. Hoạt động này cũng giống các hoạt động khác như
hoạt động phân tích, hoạt động mô hình hoá, hoạt động khái quát hoá, cụ thể hoá
nhưng chúng được thực hiện trên đối tượng là các đơn vị ngôn ngữ và lời nói ngoại
ngữ (hay phương tiện bên trong của hoạt động dạy học ngoại ngữ) và phương tiện
bên ngoài với vai trò chuyển mục đích của hoạt động dạy ngoại ngữ sang hoạt động
học ngoại ngữ đó là ngôn ngữ chung của thầy và trò. Đặc biệt trong giai đoạn đầu, 10
dạy học ngoại ngữ với tư cách là phương tiện cần phải hình thành dần dần, phải
theo quy luật chuyển dần từ mục đích sang phương tiện dạy học; sử dụng ngôn ngữ
tình huống, phải dùng nhiều cử chỉ, điệu bộ và có khi cả tiếng mẹ đẻ nhằm đạt được
hiệu quả cao nhất.
e/ăĐiuăkin:ăTheo V.A.Archionov (1969) cho rằng điều kiện của hoạt động
dạy học ngoại ngữ bao gồm:
- Đặc điểm của người thầy: trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy,
(body language). Điều này cho thấy dạy học kỹ năng nói ngoại ngữ chính là dạy học
hoạt động/hành động lời nói ngoại ngữ làm cho người học có được cách thức,
phương thức, trình độ thực hiện hành động lời nói ngoại ngữ. Quá trình này diễn ra
bằng việc rèn luyện khả năng tư duy và phát triển năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ
ở người học.
Để đánh giá cuộc giao tiếp thành công cần dựa vào nhiều yếu tố:
- Phản xạ xử lý và giải quyết tình huống một cách nhanh chóng và khéo kéo.
- Sử dụng ngôn ngữ lưu loát, ngôn ngữ cơ thể và các giác quan biểu cảm để
thể hiện ý muốn diễn đạt.
- Khả năng chuyển tải nội dung đến người nghe.
- Khi đặt câu hỏi cần đúng, chính xác, chân thành, tôn trọng người đối diện,
câu hỏi phải ngắn gọn, tránh gây sự khó chịu trong vấn đề đặt câu hỏi cho người đối
diện, tránh đặt câu hỏi dạng mệnh lệnh, nên khơi gợi hướng phát triển vấn đề để
người được hỏi lẫn người hỏi cảm thấy không bị áp lực.
Một người được xem có kỹ năng nói tốt nghĩa là người đó có khả năng phản
xạ tốt trong mọi trường hợp và xử lý tình huống nhanh chóng. Dạy học nhóm cũng
là cơ hội để các sinh viên tự rèn luyện khả năng phản xạ có điều kiện, tự khắc phục
những nhược điểm của chính mình.
12
- Hương nhân tạo
- Hoa,quà
- Địa điểm
- Khoảng cách giao tiếp
- Thời gian giao tiếp
- Ánh sáng
- Màu sắc
-Nhiệt độ
Giaoătipăngônăng
Nội ngôn
- Từ vựng
- Các quy tắcngữ pháp
- Các quy tắc ngữ âm
- Các quy tắc sử dụng
ngôn ngữ và kỹ năng
tương tác.
Các đặc tính của ngôn
thanh:
+ Cao độ
+ Cường độ
+ Tốc độ
- Các loại ngôn thanh
(dày, mỏng, đậm )
- Các yếu tố xen ngôn
thanh
- Im lặng
Ngôn
ngữ
cơ thể 14
Sơ đồ 1.2 Mô hình tiếp nhận lời nói ca M.Halle v̀ K.N Stevens Các quy
luật sản
sinh
Kiểm
tra
Phân
tích sơ
bộ ngữ
âm
Đối chi
u với
chuẩn
tích sơ
bộ ngữ
âm
Cơ chế
ghi
nhớ
Các quy
luật sản
sinh
Cấu trúc
sản sinh
lời nói 15
1.2ăMtăsăphngăphápădyăhọcătingăAnh
+ Phương pháp nghe - nhìn (Audio Lingual Method): nhằm tạo cho người
học khả năng hoạt động lời nói, tiếp nhận và phản hồi lại lời nói của người khác; tạo
ra ngôn ngữ lời nói của riêng mình trong giao tiếp. Đảm bảo giao tiếp là chủ đạo;
khẩu ngữ đi trước một bước; đảm bảo tính khái quát, đúng chức năng hoạt động của
lới nói, kết hợp giữa nghe-nhìn.
+ Phương trực tiếp (Direct Method): Dùng tiếng nói sinh động trong đời
sống sinh hoạt hàng ngày làm đối tượng chiếm lĩnh chủ yếu (thường được gọi là
học sinh ngữ) chứ không là các văn bản viết như trước đây. Cụ thể: Tạo tình huống
trong học tập bằng các đồ dùng và thao tác trực quan để giải thích ý nghĩa của từ
ngữ và nội dung câu. Nghĩa của từ mới và cụm từ được giải thích thông qua ngữ
cảnh thật. Bắt chước tiếng nói tự nhiên của người nước ngoài. Tăng cường luyện tập
thực hành, tránh giải thích lý thuyết dài dòng.
+ Phương pháp ngữ pháp - phiên dịch (Grammar-Translation Method): Giới
thiệu một cách có hệ thống toàn bộ ngữ pháp gắn liền với những thí dụ minh hoạ
Sơ đồ 1.3 Mô hình ba th̀nh tố hình th̀nh phương pháp dạy học ca giáo viên
a) Tiếp cận (Approach)
Học ngôn ngữ thứ hai thật sự là một lĩnh vực khoa học mới và chưa có câu
trả lời rõ ràng cho câu hỏi này. Có thể người học giỏi ngoại ngữ chỉ bằng cách lặp đi
lặp lại các từ, cụm từ hay một câu hoặc sinh viên nên lắng nghe các bài đọc trên báo
đài rồi cố gắng hiểu ý nghĩa ngay cả lúc cấu trúc văn phạm không luôn được sử
dụng đúng? Cái gì là quan trọng nhất khi bắt đầu học các kỹ năng: nghe, nói, đọc,
viết? Người học nên học tốt các kỹ năng ngay trong lớp học hay ở bên ngoài lớp
học và bằng những phương pháp nào? Họ phải luôn thoải mái hay suy nghĩ về vấn
đề mình học?
THăTCă(Procedure)
Cách thức giáo viên điều
hành lớp học
THITăKă(Design)
Cách thức giáo viên thiết kế bài giảng,
vai trò của giáo viên, học viên, tài liệu
học tập
TIPăCNă(Approach)
Giáo viên suy nghĩ về bản chất của
ngôn ngữ và việc học ngôn ngữ 17
b) Thiết kế (Design)
Thiết kế trong phương pháp dạy học phải bao gồm trách nhiệm của người
1.3 Dyăhọcătheoăđnhăhng tngătácă
- Tương tác: Là sự tác động vào người học làm cho người học có khả năng
thực hiện một hành động hay làm được một việc gì đó năng động hơn, linh hoạt
hơn, phát triển và nâng cao tính tích cực của người học, hình thành và phát triển
hoạt động học tập của họ nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Dạy học thông qua tương tác nhằm tạo nên mối quan hệ tương tác giữa trò
với trò, giữa thầy với trò, sự bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên và tạo nên
môi trường học tập an toàn. Thầy nêu ra nội dung vấn đề, đóng vai trò là người thiết
kế, tổ chức, hướng dẫn, khơi gợi và điều khiển hoạt động, còn việc giải quyết vấn
đề đó như thế nào là việc của trò, chính trò tự mình tìm cách giải quyết vấn đề và
qua đó rút ra cho mình những tri thức mình cần, chứ không phải thụ động tiếp thu
những kiến thức mà thầy áp đặt. Trong môi trường đó mỗi cá nhân được phép thể
hiện tối đa khả năng nhận thức và kinh nghiệm của mình một cách tự tin và thoải
mái bởi cảm giác an toàn. Học tập hợp tác theo nhóm còn phát triển cho người học
kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển và lãnh đạo. Thông qua thảo luận, tranh luận
trong nhóm, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ và được chia sẻ. Sinh viên không chỉ
có điều kiện học tập với nhau mà còn học tập lẫn nhau. Kiến thức mà người học thu
được là sự đóng góp của nhiều người. Đồng thời qua học tập hợp tác, các kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng lắng nghe tích cực, ý thức tổ chức, tinh thần
tương trợ được rèn luyện và phát triển. Người thầy phải là người “cầm cân nảy
mực”, sáng suốt trong việc điều khiển, định hướng cho lớp học cũng như các cuộc
thảo luận, đồng thời trong các hình thức kiểm tra và đánh giá. Người thầy không
những phải đáp ứng về kiến thức mà còn về phương pháp lãnh đạo, tổ chức, điều
hành,… Thông qua đó hình thành ở sinh viên những phẩm chất của người lao động
mới.