Thị trường khoa học và công nghệ ở việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 30

Thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Nguyễn Mạnh Hùng Trung tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận án TS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 62.31.01.01
Người hướng dẫn: GS. TS. Vũ Văn Hiền; TS. Đặng Đình Thanh
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về thị trường Khoa học và công
nghệ (KH&CN), các tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động tới phát triển thị trường
KH&CN trong tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT). Nêu bật kinh nghiệm xây
dựng và phát triển thị trường KH&CN ở một số quốc gia trong tiến trình HNKTQT. Phân
tích và đánh giá quá trình phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong tiến trình
HNKTQT theo những nội dung và các tiêu chí đã đề xuất.

Keywords. Kinh tế chính trị; Khoa học công nghệ; Thị trường; Hội nhập quốc tế;
Việt Nam

Content

MỤC LỤC

Trang
LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC


1.3
Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển thị trƣờng
khoa học và công nghệ
48
1.3.1
Những xu hướng chính trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế tác
động tới phát triển thị trường khoa học và công nghệ
48
1.3.2
Cơ hội và thách thức đối với phát triển thị trường khoa học và công
nghệ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
51
1.4
Kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trƣờng khoa học và công
nghệ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
59
1.4.1
Kinh nghiệm về hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển thị trường
khoa học và công nghệ
59
1.4.2
Kinh nghiệm về phát triển các yếu tố cấu thành thị trường khoa học và
công nghệ
66
1.4.3
Kinh nghiệm về nâng cao năng lực các chủ thể tham gia thị trường khoa
học và công nghệ
68
1.4.4
Kinh nghiệm về tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức trong tiến trình

Quy mô và tốc độ phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt
Nam
99
2.2.2
Chất lượng phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam
111
2.2.3
Đánh giá thực tiễn phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
124
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
136
3.1
Bối cảnh mới và quan điểm phát triển thị trƣờng khoa học và công
nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới
136
3.1.1
Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến phát triển thị trường khoa
học và công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới
136
3.1.2
Quan điểm phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới
145
3.2
Những giải pháp chủ yếu để phát triển thị trƣờng khoa học và công
nghệ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
151
3.2.1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
trong tiến trình HNKTQT là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công
cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Nhiệm vụ
này gắn với việc phát triển các loại thị trường, trong đó có thị trường KH&CN.
Việc phát triển thị trường KH&CN sẽ giúp tăng cường tiềm lực KH&CN quốc
gia, gắn kết nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất, kinh doanh, tạo động lực
cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, bền vững và chủ động hội nhập vào nền
kinh tế toàn cầu.
Thực tiễn sau hơn 25 năm đổi mới, đặc biệt là khi Luật KH&CN năm 2000
ra đời và Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thị trường KH&CN (Quyết định
số 214/2005/QĐ-TTg ngày 30/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ), thị trường
KH&CN ở nước ta đã có bước phát triển và đạt được một số kết quả quan trọng.
Quy mô và tốc độ phát triển của thị trường KH&CN có sự gia tăng về số lượng
và loại hình hàng hoá KH&CN, số lượng các chủ thể tham gia thị trường, số
lượng các giao dịch trên thị trường, đội ngũ nhân lực KH&CN Mặc dù vậy, đến
nay thị trường KH&CN ở Việt Nam vẫn là thị trường ở trình độ thấp, chưa phát
triển đồng bộ và đầy đủ. Điều này được thể hiện ở các nội dung như: Số lượng
hàng hoá KH&CN, số lượng các doanh nghiệp KH&CN dù đã nhiều thêm nhưng
chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong bối cảnh
HNKTQT; Năng lực sáng tạo, năng lực hội nhập quốc tế của các tổ chức
KH&CN còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới; Nhu cầu đổi
mới công nghệ của các doanh nghiệp chưa cao; Các yếu tố cấu thành thị trường
KH&CN phát triển chưa đồng bộ, đặc biệt là các cơ chế, chính sách cụ thể tạo
điều kiện và cơ sở pháp lý cho việc phát triển thị trường KH&CN còn bất cập,
chưa theo kịp tình hình

5
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế

Với tất cả những ý nghĩa nêu trên, Tác giả chọn vấn đề: “Thị trường khoa
học và công nghệ ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế" làm đề
tài nghiên cứu cho luận án tiến sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến chủ đề thị trường KH&CN trong tiến trình HNKTQT đã có
một số công trình nghiên cứu được công bố. Có thể khảo sát những công trình
này theo các nhóm như sau: Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về thị trường
KH&CN ở Việt Nam; Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu thị trường KH&CN
ở một số quốc gia dưới góc độ HNKTQT.
Thứ nhất, đối với nhóm công trình nghiên cứu về thị trường KH&CN ở
Việt Nam:
Trong nhóm công trình này có thể phân chia thành những công trình như
sau: Một là, công trình dưới dạng sách, tạp chí, đề tài NCKH nghiên cứu về thị
trường KH&CN ở Việt Nam; Hai là, các luận văn, luận án nghiên cứu về thị
trường KH&CN ở Việt Nam.
Một là, công trình dưới dạng sách, tạp chí, đề tài NCKH nghiên cứu về
thị trường KH&CN ở Việt Nam. Những công trình này nghiên cứu tổng quát cả lý
luận và thực tiễn về thị trường KH&CN ở Việt Nam dưới góc độ tổng thể thị
trường quốc gia như các công trình: [2], [3], [34], [78], [168], [169] và những
công trình nghiên cứu một khía cạnh của thị trường KH&CN ở Việt Nam như:
[68], [73], [162] Mặc dù có các cách nghiên cứu và tiếp cận khác nhau, tổng
hợp lại các công trình kể trên đã đạt được các kết quả như sau:
Về lý luận, đã phân tích tương đối hệ thống lý luận về thị trường KH&CN ở
Việt Nam thông qua việc phân tích các yếu tố cấu thành thị trường KH&CN như
hàng hoá, các chủ thể , thể chế

7
Vấn đề đầu tiên khi nghiên cứu về thị trường KH&CN, các tác giả đã đưa ra
quan niệm để trả lời câu hỏi “ thị trường khoa học và công nghệ” là gì? chỉ có
“thị trường công nghệ” hay tồn tại cả thị trường “khoa học và công nghệ” ?. Các

trường KH&CN ở Việt Nam để từ đó đưa ra những nhận xét, khuyến nghị và giải
pháp phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong thời gian tới.
Tổng kết kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc phát triển thị trường
KH&CN, đã có nhiều công trình đề cập, phân tích và đưa ra nhiều bài học đối với
Việt Nam để phát triển thị trường KH&CN. Trong những bài học đối với Việt
Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò của nhà nước
trong việc xây dựng hệ thống chính sách, hệ thống pháp luật cho việc phát triển
thị trường KH&CN, tiêu biểu như công trình: Bài Chính sách tạo lập và phát
triển thị trường khoa học – công nghệ ở một số quốc gia của PGS. TS. Phạm
Văn Dũng [36, tr. 34-45]; Bài Một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát
triển khoa học - công nghệ của Dương Quỳnh Hoa [65, tr. 20-28]
Đánh giá về thực trạng hoạt động của các tổ chức KH&CN ở Việt Nam,
công trình Đổi mới quản lý và hoạt động các tổ chức khoa học và công nghệ theo
cơ chế doanh nghiệp của TSKH Phan Xuân Dũng – TS. Hồ Thị Mỹ Duệ [32] đã
phân tích tương đối hệ thống và chỉ ra những hạn chế trong việc chuyển đổi các
tổ chức KH&CN nhà nước sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cho rằng
nguyên nhân gây ra những hạn chế này là do: Sự lúng túng của cơ quan quản lý
nhà nước trong việc tách quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hoá KH&CN; Các
điều kiện để thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức
KH&CN chưa được hình thành đồng bộ…[32, tr. 95-96]. Còn trong cuốn sách
Thúc đẩy các tổ chức khoa học và công nghệ chuyển sang hoạt động theo cơ chế
doanh nghiệp của PGS. TS. Phạm Ngọc Ánh [1], ngoài việc phân tích thực trạng
hoạt động chuyển đổi các tổ chức KH&CN, tác giả còn tập trung phân tích sâu về

9
thực trạng tài chính, vốn và các giải pháp về tài chính để thúc đẩy các tổ chức
KH&CN chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp [1, tr.195-225].
Phân tích về cầu hàng hoá KH&CN trên thị trường, các công trình nghiên
cứu chủ yếu tập trung phân tích nhu cầu về sản phẩm KH&CN của doanh nghiệp.
Có thể kể đến các công trình như: Bài Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho

điều kiện HNKTQT….
Như vậy, đối với nhóm công trình dưới dạng sách, tạp chí, đề tài NCKH
nghiên cứu về thị trường KH&CN ở Việt Nam, bên cạnh những kết quả đạt được,
vẫn còn những nội dung sau chưa được nghiên cứu, khảo sát một cách hệ thống
và đầy đủ:
- Xét về cách tiếp cận, chưa có công trình nào tiếp cận, khảo sát thị trường
KH&CN ở Việt Nam dưới sự tác động ngày càng sâu rộng của tiến trình
HNKTQT.
- Xét về nội dung, chưa có công trình nào tổng hợp, phân tích đầy đủ, hệ
thống các khái niệm, nội dung và tiêu chí đánh giá sự phát triển của thị trường
KH&CN ở Việt Nam trong điều kiện thị trường này chịu sự tác động của tiến
trình HNKTQT.
Hai là, các luận văn, luận án nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến thị
trường KH&CN.
Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thị trường KH&CN có một số luận án
tiến sỹ, luận văn thạc sỹ tiêu biểu như: [6], [57], [58], [126], [170]
Luận án tiến sỹ Phát triển thị trường KH&CN: Kinh nghiệm của Trung
Quốc và vận dụng vào Việt Nam của Đoàn Hữu Bảy năm 2009 [6]: Với đối tượng
nghiên cứu là kinh nghiệm phát triển thị trường KH&CN của Trung Quốc, luận
án đã hướng tới mục đích là rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng để
phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam. Luận án đã có những đóng góp về lý
luận và thực tiễn dưới góc độ phân tích kinh nghiệm quốc tế để phát triển thị
trường KH&CN ở Việt Nam. Tuy nhiên, luận án này chưa đề cập, xem xét, phân

11
tích phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong tiến trình HNKTQT theo
một hệ thống các nội dung, tiêu chí thống nhất.
Đối với các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ còn lại, nhìn tổng thể các công
trình này đã đề cập đến các chủ đề khác nhau liên quan đến thị trường KH&CN ở
Việt Nam như nguồn nhân lực, vai trò của nhà nước, chính sách tài chính

tiến”[132, tr. 228]; “Hiệu quả hơn sẽ là một quỹ nhằm trực tiếp động viên những
đổi mới vì quyền lợi của các nước đang phát triển. Một hệ thống giải thưởng,
trong đó, nhà nghiên cứu được hưởng theo giá trị của những đổi mới của họ, sẽ
đưa các biện pháp động viên đi theo một hướng đúng đắn ”[132, tr. 238].
Bên cạnh đó, có nhiều tài liệu phân tích tác động của Hiệp định TRIPS đối
với thị trường KH&CN ở các nước đang phát triển như các tài liệu: [164], [173],
[178] Các tài liệu này đã phân tích và chỉ ra tác động đối với các nước khi tham
gia vào hiệp định TRIPS, trong đó, các nước đang phát triển gặp bất lợi và chịu
sức ép nhiều nhất từ các nước phát triển. Do đó, để thực hiện hiệp định TRIPS
hiệu quả, các công trình nghiên cứu này đã đưa ra các giải pháp cho các nước
đang phát triển để có có bước đi và chính sách hội nhập phù hợp khi thực hiện
Hiệp định TRIPS.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã có phân
tích về mối quan hệ giữa HNKTQT và phát triển thị trường KH&CN ở một số
quốc gia. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu phát triển thị trường
KH&CN ở Việt Nam dưới tác động của tiến trình HNKTQT theo một hệ thống
nội dung và tiêu chí thống nhất, phù hợp với đặc thù Việt Nam là nước đang phát
triển và nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi.
Hai là, các công trình của các tác giả trong nước
Các công trình của các tác giả trong nước chủ yếu đề cập đến thị trường
KH&CN ở Việt Nam dưới góc độ HNKTQT. Các công trình này bao gồm:
- Các công trình chuyên khảo dưới dạng sách và công trình NCKH.

13
Đối với các công trình này, tiêu biểu phải kể đến cuốn sách Phát triển thị
trường KH&CN Việt Nam trong điều kiện HNKTQT của TS. Nguyễn Thị Hường
[77]. Ngoài những tổng kết về lý luận và thực tiễn thị trường KH&CN ở Việt
Nam như các công trình đã nêu ở trên, cuốn sách đã bước đầu có phân tích cơ hội
và thách thức của hội nhập kinh tế đối với thị trường KH&CN ở Việt Nam với
các nội dung: (1) Tăng nhanh nguồn cung sản phẩm KH&CN cho thị trường; (2)

SHTT của Việt Nam của Lê Xuân Thảo [140], tác giả còn tập trung phân tích,
đánh giá pháp luật Việt Nam theo các yêu cầu của TRIPS như: Các thủ tục tố
tụng dân sự, hành chính, các biện pháp hành chính đã đáp ứng đầy đủ; Các biện
pháp và thủ tục dân sự về cơ bản đáp ứng yêu cầu của TRIPS; Các biện pháp
khẩn cấp tạm thời đã đáp ứng về cơ bản yêu cầu của TRIPS
Trong quá trình HNKTQT, đầu tư trực tiếp nước ngoài là kênh đầu tư quan
trọng và có tác động nhất định đến thị trường KH&CN. Đề cập đến chủ đề này có
các bài báo tiêu biểu: Bài Tăng cường năng lực công nghệ của doanh nghiệp để
hấp thụ hiệu quả công nghệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nguyễn Quang
Hồng [68, tr. 37-44]; Bài Chuyển giao công nghệ qua FDI: thực tiễn ở một số
nước đang phát triển và Việt Nam của Nguyễn Anh Tuấn [160, tr. 51-67] Các
bài báo này phân tích mối quan hệ giữa CGCN và FDI thông qua việc tổng hợp,
phân tích tác động của FDI với CGCN và khảo sát thực tiễn CGCN tại các nước
đang phát triển, thông qua các phân tích này, tác giả đã nhận xét “chuyển giao
công nghệ qua FDI không chỉ mang lại lợi nhuận cho bên chuyển giao mà còn
phục vụ lợi ích kinh tế cho cả bên tiếp nhận” [160, tr. 53]. Đồng thời, tác giả
cũng lưu ý các nước đang phát triển nếu không tự tiến hành hoạt động R&D thì
vẫn chịu sự chi phối, quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài [160, tr. 61]. Trên
cơ sở các phân tích như vậy, các bài báo có đề xuất, kiến nghị để tăng hiệu quả
việc CGCN qua FDI ở Việt Nam, trong đó tập trung nhấn mạnh vào giải pháp
tăng cường năng lực tiếp nhận công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam.

15
Như vậy, dù có cách tiếp cận, đánh giá khác nhau nhưng các tác giả đều
thống nhất HNKTQT một mặt tạo ra cơ hội, mặt khác cũng tạo ra nhiều thách
thức đối với phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam như các vấn đề về nhân
lực KH&CN, quyền SHTT, môi trường pháp lý do đó Việt Nam cần chủ động
đưa ra các bước đi, giải pháp để tận dụng được cơ hội và hạn chế thách thức
nhằm thu được lợi ích lớn nhất.
Tóm lại, qua việc nghiên cứu các công trình liên quan đến chủ đề của

phát triển và có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi ở các công trình nêu
trên chưa được tiếp cận, phân tích và thực hiện một cách hệ thống, chuyên sâu.
Luận án góp thêm một cách tiếp cận mới và luận giải thêm một số nội dung
mới khi nghiên cứu, đặc biệt sẽ hệ thống hoá và phân tích chuyên sâu về lý luận
và thực tiễn phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong tiến trình HNKTQT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của luận án là phân tích những vấn đề lý luận về phát triển thị
trường KH&CN và đánh giá thực trạng phát triển thị trường KH&CN ở Việt
Nam trong điều kiện tác động của quá trình HNKTQT những năm qua. Từ đó, rút
ra những giải pháp phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, Luận án có nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về thị trường KH&CN, các tiêu
chí đánh giá và các yếu tố tác động tới phát triển thị trường KH&CN trong tiến
trình HNKTQT.
- Nêu bật kinh nghiệm xây dựng và phát triển thị trường KH&CN ở một số
quốc gia trong tiến trình HNKTQT.
- Phân tích và đánh giá quá trình phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam
trong tiến trình HNKTQT theo những nội dung và các tiêu chí đã đề xuất.

17
- Phân tích bối cảnh mới và quan điểm phát triển thị trường KH&CN trong
bối cảnh mới.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường KH&CN ở Việt
Nam trong điều kiện HNKTQT thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thị trường KH&CN ở Việt Nam hiện
nay. Đối tượng này được nghiên cứu gắn với quá trình phát triển dưới tác động

- Luận án phân tích và tổng hợp các lý luận cơ bản về phát triển thị trường
KH&CN trong tiến trình HNKTQT như phân tích và tổng hợp các yếu tố cấu
thành thị trường KH&CN; Phân tích và tổng hợp các cơ hội và thách thức đối với
phát triển thị trường KH&CN trong tiến trình HNKTQT; Phân tích và tổng hợp
kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển thị trường KH&CN trong tiến
trình HNKTQT và có sự đối chiếu, so sánh với Việt Nam để rút ra những bài học
kinh nghiệm và giải pháp.
-Phương pháp phân tích định tính, phân tích định lượng và thu thập, xử lý
thông tin được sử dụng trong luận án để đánh giá thực trạng phát triển thị trường
KH&CN ở Việt Nam trong tiến trình HNKTQT. Phân tích định tính để đưa ra
các nhận xét, đánh giá, làm rõ bản chất của thị trường KH&CN ở Việt Nam trong
tiến trình HNKTQT. Các số liệu của phương pháp thu thập và xử lý thông tin và
phân tích định lượng để kiểm chứng, chứng minh cho các nhận xét, đánh giá
được đưa ra.
- Phương pháp so sánh được sử dụng trong việc phân tích, tổng hợp và đối
chiếu các quy định trong hệ thống pháp luật, thể chế của Việt Nam với các quy
định trong các hiệp định, định chế quốc tế liên quan đến phát triển thị trường
KH&CN.

19
- Phương pháp tiếp cận hệ thống để xem xét thị trường KH&CN như là một
hệ thống chỉnh thể bao gồm nhiều chủ thể, nhân tố gắn kết hữu cơ với nhau như
hàng hoá, cung, cầu, thể chế Phương pháp tiếp cận hệ thống giúp khắc phục
cách nhìn cô lập, từng mặt của thị trường KH&CN.
6. Đóng góp của luận án
Đóng góp nổi bật của Luận án là nghiên cứu vấn đề phát triển thị trường
KH&CN theo góc độ tiếp cận từ những tác động của tiến trình HNKTQT. Đóng
góp này được thể hiện ở những nội dung cụ thể như sau:
- Xây dựng được khung lý thuyết về phát triển thị trường KH&CN dưới tác
động của tiến trình HNKTQT thông qua việc đề xuất và phân tích những nội

5. Mai Văn Bảo (2008), "Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy nhân lực khoa học và
công nghệ tham gia đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp", Tạp chí Những
vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới (5), tr. 51-59.
6. Đoàn Hữu Bẩy (2009), Phát triển thị trường khoa học và công nghệ: Kinh
nghiệm của Trung Quốc và vận dụng vào Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế,
Viện Kinh tế và chính trị thế giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
7. Bộ Chính trị (2001), Nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế ngày 27/11/2001
8. Bộ Khoa học và Công nghệ (2006), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2001-
2005, Hà Nội.
9. Bộ Khoa học và Công nghệ (2005), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2004, Hà
Nội.
10. Bộ Khoa học và Công nghệ (2004), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003, Hà
Nội.
11. Bộ Khoa học và Công nghệ (2003), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2002, Hà
Nội.
12. Bộ Khoa học và Công nghệ (2002), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2001, Hà
Nội.
13. GS. TSKH. Vũ Hy Chương- Chủ trì (2007), Năng lực sáng tạo của các tổ chức
khoa học và công nghệ, Báo cáo chuyên đề nhánh 2 Đề tài độc lập cấp nhà nước
ĐTĐL 2003/22.

188
14. Phạm Đình Chướng (12/2006), “Gia nhập WTO: Cơ hội và thách thức về vấn đề
sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Hoạt động khoa học (571), [trực tuyến]. Địa chỉ truy
cập: http://www.tchdkh.org.vn/
15. GS. TS Trần Văn Chử (2006), “Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị
trường khoa học – công nghệ”, Tạp chí Lý luận chính trị (6), tr. 43-45.
16. Liên Cơ (2007), “Trả lại ngân sách 125 tỷ đồng: Không hiệu quả, không chi”,
http://www3.vietnamnet.vn/khoahoc/tdsk/2007/09/74190/.
17. La Côn (2008), Toàn cầu hoá bắt đầu một chu kỳ mới, Nxb Chính trị Quốc gia,

cao với tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
31. TSKH Phan Xuân Dũng – TS. Hồ Thị Mỹ Duệ (2006), Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở Việt Nam, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
32. TSKH Phan Xuân Dũng – TS. Hồ Thị Mỹ Duệ (2006), Đổi mới quản lý và hoạt
động các tổ chức khoa học và công nghệ theo cơ chế doanh nghiệp, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
33. TSKH. Phan Xuân Dũng (2004), Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam thực trạng
và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
34. PGS. TS. Phạm Văn Dũng (2010), Phát triển thị trường khoa học - công nghệ
Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
35. PGS. TS. Phạm Văn Dũng (2008), "Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển thị
trường khoa học-công nghệ ở Việt Nam", Tạp chí khoa học (24), tr. 35-48.
36. PGS. TS. Phạm Văn Dũng (2008), "Chính sách tạo lập và phát triển thị trường
khoa học – công nghệ ở một số quốc gia”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á (1),
tr. 34-45.
37. Hồ Mỹ Duệ, Đổi mới quản lý nhà nước và nghiên cứu triển khai các hoạt động
khoa học- công nghệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ
kinh tế, Hà Nội.
38. Vũ Cao Đàm, “Định nghĩa khái niệm “khoa học” trong Luật KH&CN nên như
thế nào”, Tạp chí Hoạt động khoa học, [trực tuyến]. Địa chỉ truy cập:
http://www.tchdkh.org.vn/
39. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
40. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp
hành Trung ương (khoá VI), số 08A-NQ/HNTW ngày 27/3/1990.
41. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Nxb Sự thật, Hà Nội.
42. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp

53. Võ Văn Đức, Nguyễn Thị Miền (2/2007), “Đổi mới cơ chế quản lý khoa học-
công nghệ phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường”, Tạp chí lý luận chính trị (2),
tr. 81-84.
54. Thanh Hà (2006), “Các giải pháp đẩy mạnh hội nhập khoa học và công nghệ”,
Tạp chí Tia sáng (5), tr. 19–21.

191
55. Thanh Hà (2004), “Diễn đàn phát triển thị trường công nghệ: Gắn phát triển
công nghệ với kinh tế”, Tạp chí Tia sáng (10), tr. 20–22.
56. Thanh Hà (2004), “Phát triển thị trường khoa học công nghệ tại Việt Nam:
Nhiều vướng mắc cần tháo gỡ”, Tạp chí Tia sáng (7), tr. 14–17.
57. Phạm Văn Hà (2006), Vai trò của nhà nước trong việc hình thành và phát triển
thị trường công nghệ ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Trung tâm Đào tạo, Bồi
dưỡng giảng viên lý luận chính trị , Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
58. Nguyễn Chí Hải (1998), Một số vấn đề về việc phát triển khoa học- công nghệ
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế ở Việt Nam, Luận án
tiến sỹ kinh tế, Hà Nội.
59. Trần Văn Hải (9/2008), “Về thuật ngữ sở hữu trí tuệ trong Luật Khoa học và
công nghệ”, Tạp chí Hoạt động khoa học (592), [trực tuyến]. Địa chỉ truy cập:
http://www.tchdkh.org.vn/
60. Minh Hạnh (10/2009), “Triển khai Nghị định 115: 3 năm nhìn lại”, Tạp chí
Công nghiệp (10), tr. 5-6.
61. GS. TS. Vũ Văn Hiền (2010), "Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường nhìn từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu", Tạp chí Cộng sản điện tử,
( 1). [trực tuyến]. Địa chỉ truy cập: http://www.tapchicongsan.org.vn/
62. GS. TS. Vũ Văn Hiền (2010), Nhận thức về thời đại ngày nay, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
63. GS. TS. Vũ Văn Hiền (2009), Việt Nam tiến bước cùng thời đại, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
64. Trần Thị Mai Hoa (5/2008), “Đầu tư mạo hiểm – hình thức đầu tư cần quan

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
75. Lan Hương (9/2007), “Một số giải pháp phát triển khoa học và công nghệ trong
thời kỳ hội nhập quốc tế”, Tạp chí Công nghiệp (4), tr. 14-15.
76. Thu Hương (4/2007), “Thực trạng và một số suy nghĩ về phát triển khoa học và
công nghệ”, Tạp chí khoa học – công nghệ (4), tr. 9-11.
77. Nguyễn Thị Hường (2007), Phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
78. TS. Nguyễn Thị Hường (2006), “Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự hình
thành và phát triển thị trường Khoa học và Công nghệ”; Tạp chí Kinh tế và Dự
báo (10), tr. 36-37.
79. TS. Nguyễn Thị Hường (2006), “Chợ thiết bị công nghệ ở Việt Nam – Những
kết quả đã đạt được”; Tạp chí Thương mại (18), tr. 6-8.
80. Vũ Văn Hưng (2008), “Khuyến khích doanh nghiẹp đầu tư cho KH&CN: Chính
sách cần được phát huy”, Tạp chí hoạt động khoa học điện tử (592) [trực
tuyến].Địa chỉ truy cập: http://www.tchdkh.org.vn/.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status