PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm
trọng, nó không bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, một khu vực mà là vấn đề được cả
thế giới đặc biệt quan tâm.
Việt Nam trong thời gian gần đây với cơ chế thị trường đã có sự phát triển mạnh
mẽ về kinh tế. Do tốc độ phát triển ở mức cao việc khai thác các nguồn tài nguyên thiếu
tính toán, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh, chưa có một quy hoạch
đô thị và khu công nghiệp hoàn chỉnh đã làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề môi trường
như: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm chất thải rắn và độc hại.v.v…
Việc quản lý môi trường đô thị đang là một vấn đề bức xúc. Sự ô nhiễm môi
trường đô thị có tác động xấu đối với sức khỏe con người (đặc biệt là gây ra các bệnh
đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng nhà kính,
mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát
triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng
không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, thực trạng này đặt ra cho các nhà quản lý, nhà
khoa học những nhiệm vụ nặng nề trong việc xử lý và kiểm soát tình trạng ô nhiễm. Để
làm tốt vấn đề này, rất cần sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và
của từng người dân trong xã hội.
Riêng Thành phố Hà Nội là một trung tâm kinh tế và cũng là một trung tâm văn
hóa, khoa học kỹ thuật, giao lưu quốc tế của cả nước. Với sự tập trung đông đúc của dân
cư và các nhà máy, xí nghiệp, Thành phố đang đứng trước những trở ngại rất lớn về tình
trạng ô nhiễm môi trường.
Ngăn cản ô nhiễm môi trường là việc làm cần thiết và cấp bách nhưng phải đảm
bảo duy trì tốc độ phát triển kinh tế. Để đạt được điều đó cần phải có biện pháp quy
hoạch và quản lý môi trường thích hợp.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý môi trường, chúng e đã chọn
đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu lực Quản lý về môi trường tại khu đô thị mới Định
Công” để nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô
nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã
hội.
+ Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh
thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân
cư.
2. MỘT SỐ ĐIỀU KIỆNCÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CÓ
TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG
2.1 Điều kiện tự nhiên:
2.1.1 Vị trí địa lý
Nằm ở phía tây bắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ
20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các
tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc
Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây. Sau đợt mở rộng địa
giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai
bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn.
2.1.2 Địa hình:
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với
độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển. Nhờ phù sabồi đắp, ba phần
tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông
Hồng và chi lưu các con sông khác. Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các
huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh như Ba Vì cao 1.281 m, Gia
Dê 707 m, Chân Chim 462 m, Thanh Lanh 427 m, Thiên Trù 378 m Khu vực nội
thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng.
2.1.3 Đặc điểm khí tượng khí hậu ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội và môi
trường:
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió
mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa. Thuộc vùng nhiệt đới, thành
phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Và do tác
động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một
Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp Hưng Yên. Đoạn sông
Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông
này trên đất Việt Nam. Hà Nội còn có Sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ,
hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì. Ngoài ra, trên địa
phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ,
Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, là
những đường tiêu thoát nước thải của Hà Nội.
Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòng
sông cổ. Trong khu vực nội thành, hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500 ha, đóng vai
trò quan trọng trong khung cảnh đô thị, ngày nay được bao quanh bởi nhiều khách sạn,
biệt thự. Hồ Gươm nằm ở trung tâm lịch sử của thành phố, khu vực sầm uất nhất, luôn
giữ một vị trí đặc biệt đối với Hà Nội. Trong khu vực nội ô có thể kể tới những hồ nổi
tiếng khác như Trúc Bạch, Thiền Quang, Thủ Lệ Ngoài ra, còn nhiều đầm hồ lớn nằm
trên địa phận Hà Nội như Kim Liên, Liên Đàm, Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù,
Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn,
Do quá trình đô thị hóa mạnh mẽ từ năm 1990 đến nay, phần lớn các sông hồ Hà
Nội đều rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Sông Tô Lịch, trục tiêu thoát nước thải
chính của thành phố, hàng ngày phải tiếp nhận khoảng 150.000 m³. Tương tự, sông Kim
Ngưu nhận khoảng 125.000 m³ một ngày. Sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày cũng
đổ vào sông Kim Ngưu khoảng 110.000 m³. Lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp
này đều có hàm lượng hóa chất độc hại cao. Các sông mương nội và ngoại thành, ngoài
vai trò tiêu thoát nước còn phải nhận thêm một phần rác thải của người dân và chất thải
công nghiệp. Những làng nghề thủ công cũng góp phần vào gây nên tình trạng ô nhiễm
này.
3. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI.
3.1 Dân số:
Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ
gần đây. Vào thời điểm năm 1954, khi quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội, thành phố
có 53 nghìn dân, trên một diện tích 152 km². Đến năm 1961, thành phố được mở rộng,
diện tích lên tới 584 km², dân số 91.000 người. Năm 1978, Quốc hội quyết định mở rộng
3.2
Lao động:
Lao động trên 15 tuổi
2005 2007 2008 2009 Sơ bộ 2010
Hà Nội 1553,1 1653,7 3421,2 3405,8 3581,3
3.3 Tăng trưởng kinh tế:
Theo Cục thống kê Thành phố Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2011, tổng sản phẩm nội địa
(GDP) Hà Nội tăng 9,3% so cùng kỳ năm trước, mặc dù thấp hơn tốc độ tăng trưởng của
6 tháng đầu năm 2010 nhưng vẫn là một kết quả đáng khích lệ, trong đó:
Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 5,1% (đóng góp 0,3% vào
mức tăng chung).
Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng 6 tháng đầu năm tăng 10,4% (đóng
góp 5,1% vào mức tăng chung), thấp hơn một chút so với tốc độ tăng của 6 tháng đầu
năm 2010.
Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng 8,7% so cùng kỳ (đóng góp 3,9% vào mức
tăng chung).
4. Hiện trạng môi trường ở thủ đô Hà Nội
4.1 Chất thải rắn:
Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt toàn thành phố Hà Nội hiện nay ước tính
khoảng 5000 tấn/ngày, trong đó có khoảng 3500 tấn chất thải sinh hoạt đô thị và khoảng
1500 tấn chất thải sinh hoạt nông thôn. Vận chuyển rác thải đô thị chủ yếu do Công ty
TNHH Nhà nước một thành viên Môi trường đô thị với khối lượng khoảng 3000
tấn/ngày, một số doanh nghiệp thu gom vận chuyển rác thải các huyện ngoại thành.
Tại khu vực nông thôn ngoại thành đã có 361/435 xã, thị trấn thành lập tổ thu gom
rác, trong đó đã có 148 xã chuyển rác đi xử lý. Rác thải chủ yếu được vận chuyển đi chôn
lấp hợp vệ sinh tại bãi rác Nam Sơn ( Sóc Sơn ) với khối lượng trung bình khoảng 3000
tấn /ngày, bãi rác Kiêu kỵ ( Gia Lâm ), bãi Xuân Sơn ( Sơn Tây), Núi Thông ( Huyện
Chương Mỹ ), và nhà máy xử lý rác Cầu Diễn, Seraphin Sơn Tây.
Chất thải công nghiệp ước khoảng 750 tấn / ngày, mới thu gom khoảng 85 – 90%,
trong đó chất thải nguy hại khoảng 97 – 112 tấn / ngày ( chiếm 13 – 15 % ) mới chỉ thu
Nước Sông Hồng : Kết quả phân tích chất lượng nước Sông Hồng tại thành phố
Hà Nội cho thấy, chất lượng nước Sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội các chỉ tiêu quan
trắc đều đạt TCVN 5942-1995 (loại B) ngoại trừ chỉ tiêu BOD
5
, COD, NH
4
+
, Coliform và
dầu mỡ khoáng tại hạ lưu mương thoát nước của trạm bơm Yên Sở , vị trí cầu Long Biên
(do nước thải từ chợ Long Biên và từ khu dân cư tập trung ). Kết quả này cho thấy nước
Sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội chưa bị ảnh hưởng lớn bởi nước thải công nghiệp, sinh
hoạt của thành phố xả vào qua trạm bơm Yên Sở. Hơn nữa Sông Hồng có lưu lượng lớn,
khả năng tự pha loãng cao nên đã tự làm sạch lượng nước của thành phố xả vào sông.
Nước Sông Nhuệ : Sông Nhuệ có tổng chiều dài là 74 km, bề rộng trung bình từ
30-40m. Chất lượng nước sông không đạt tiêu chuẩn do hàm lượng nitrit vẫn rất cao (từ
0,88 đến 1mg/l), BOD cao trên mức tiêu chuẩn cho phép với chất lượng nước loại A.
Như vậy chất lượng nước sông khi chảy ra khỏi Hà Nội (địa phận tỉnh Hà Tây cũ) vẫn
không đạt tiêu chuẩn cho phép trong phục vụ sinh hoạt, mới chỉ đạt ở mức tiêu chuẩn cho
phép đối với nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Nước Sông Đáy : Chất lượng nước sông Đáy thay đổi thất thường, phụ thuộc rất
nhiều vào chất lượng nước các kênh, mương, sông nhánh dồn vào trên suốt chiều dài của
sông. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra ô nhiễm nguồn nước sông Đáy và từ đó
dẫn đến làm giảm chất lượng môi trường sống trên toàn lưu vực. Nguyên nhân chủ yếu là
do dòng chính sông Đáy phải tiếp nhận rất nhiều nguồn nước thải, từ nước thải sản xuất
đến nước thải sinh hoạt trên phạm vi rộng. Chất lượng nước sông Đáy đang bị ô nhiễm
bởi các thành phần hữu cơ và vô cơ như COD vượt tiêu chuẩn cho phép 3,54 lần,
BOD
5
vượt 3,2 lần.
Nước Sông Bùi : Sông Bùi bắt nguồn từ Thuỷ Xuân Tiên (Chương Mỹ) đến Ba
5
từ 15-
20mg/l, DO >6mg/l). Nhưng ở vùng ven bờ, đặc biệt là khu vực gần cống xả từ hồ Trúc
Bạch sang, BOD
5
có thời điểm đạt tới 25-28mg/l.
Các hồ ở ngoại thành (hồ Yên Sở, Linh Đàm, Hạ Đình, Pháp Vân…) thường được
sử dụng để nuôi cá. Do việc bơm trực tiếp nước thải từ các sông mương vào nên vùng
đầu hồ thường có BOD
5
lớn (trên 30mg/l), hàm lượng NH
4
+
từ 5-15mg/l. Trong hồ, nước
thải được pha loãng để làm giảm lượng BOD
5
và NH
4
+
đồng thời làm tăng DO nhằm đạt
chất lượng nước nuôi cá.
4.2.3 Chất lượng nước ngầm
Sự nhiễm bẩn nước dưới đất (NDĐ) xảy ra cả ở tầng chứa nước Holocen (tầng
trên) và tầng chứa nước Pleistocen (tầng dưới-tầng sản phẩm). Các kết quả nghiên cứu
chỉ ra rằng nước ngầm đang bị ô nhiễm bởi các hợp chất vô cơ, các hợp chất hữu cơ và
nhiễm bẩn vi sinh, mà chủ yếu là ammoni (NH
4
+
), phân bố trên diện rộng với hàm lượng
cao. Diện tích nhiễm bẩn và hàm lượng các chất bẩn tăng dần theo thời gian.
Nước thải sinh hoạt. Tổng lượng nước thải sinh hoạt khu vực nội thành nội thị
khoảng 700 000m3/ ngày đêm. Nước thải sinh hoạt phần lớn chỉ được xử lý sơ bộ tại các
bể tự hoại trước khi xả vào các tuyến cống chung hoặc kênh, mương, ao. hồ. Hiện tại trên
địa bàn thành phố có 4 trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung với công xuất thiết kế đạt
48 5000m3/ngày đêm chiếm 6,9% là : Kim Liên, Trúc Bạch, Bắc Thăng Long- Vân Trì,
Khu đô thị mới Mỹ Đình.
Nước thải bệnh viện. Tổng số 48 bệnh viện và trung tâm Y tế do thành phố quản
lý mới chỉ có 8 cơ sở có hệ thống xử lý nước hải đang hoạt động, mọt số bệnh viện đang
trong giai đoạn xây dựng hệ thống xử lý, còn lại lượng nước thải bệnh viện không được
xử lý, thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung.
Nước thải từ các làng nghề, khu vực nông thôn. Thành phố Hà Nội hiện có 1310
làng nghề, trong đó có 310 làng đã được công nhận theo tiêu chí làng nghề, lượng nước
thải làng nghề đều không qua xử lý. Lượng nước thải không nhỏ từ sản xuất nông nghiệp
( hoạt động chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại….) cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường cần
được quan tâm giải quyết.
4.4 Chất lượng môi trường không khí
Môi trường không khí bị ô nhiễm ở khu vực nội thành Hà Nội theo thứ tự mức độ
từ cao đến thấp như sau : Nặng nhất là khu Thượng Đình, tiếp theo là Mai Động, các khu
vực khác như xung quanh các nhà máy Dệt kim Thăng Long, Giấy Trúc Bạch , ngoài ra
ô nhiễm bụi, khí thải cao do hoạt động giao thông nội thị tại nhiều tuyến đường như vành
đai II, III, Nguyễn Trãi, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng, Giải Phóng, Vĩnh Tuy, Minh
Khai…
Khu dân cư và huyện ngoại thành Hà Nội đang gia tăng ô nhiễm không khí do
lượng khí thải lớn từ các phương tiện giao thông đang xâm hại nghiêm trọng đến chất
lượng không khí Hà Nội.
Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường không khí do bụi trên địa bàn thành phố
Hà Nội đang ở mức “báo động đỏ”. Nồng độ bụi lơ lửng ở các quận nội thành đều vượt
quá tiêu chuẩn cho phép từ 2-3 lần. Ngoài ô nhiễm do bụi, môi trường không khí còn bị
ảnh hưởng bởi các loại khí thải như SO
2
thức bảo vệ môi trường của các chủ phương tiện trong việc sử dụng, bảo dưỡng xe cơ
giới còn nhiều hạn chế.
Theo kết quả quan trắc năm 2008 có tới 6/34 ngã tư nồng độ khí CO trung bình
vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,03-1,55 lần, có tới 30/34 ngã tư có nồng độ SO
2
vượt tiêu
chuẩn cho phép từ 1,02-2 lần, có 32/34 ngã tư có nồng độ C
6
H
6
vượt tiêu chuẩn cho phép
từ 1,1-3 lần.
Vấn đề ô nhiễm môi trường do khí thải của các phương tiện cơ giới gây ra đang là
thách thức lớn đối với quá trình phát triển đô thị của Hà Nội.
4.4.3 Ô nhiễm tiếng ồn
Mức ồn ở các trục đường giao thông Hà Nội nhìn chung chưa lớn lắm ngoại trừ
một số nút giao thông vào giờ cao điểm hoặc công trường xây dựng như bến xe buýt
Long Biên, chân cầu vượt đường Phạm Văn Đồng và ngã tư Ngô Gia Tự- Đức Giang độ
ồn vượt 1,18 lần, các ngã tư còn lại vượt 1,05 – 1,15 lần, nhưng tác hại ô nhiễm tiếng ồn
vẫn lớn do đặc điểm kiến trúc thoáng mở của Việt Nam.2.2. Các yếu tố kinh tế - xh
(nêu vắn tắt các hoạt động kinh tế - xh tác động như thế nào đến môi trường, tối đa
2 trang).
5. Quản lý môi trường khu đô thị
Nêu đặc điểm cơ bản trong quản lý môi trường các KĐT
6. Sự hình thành các khu đô thị ở Việt Nam (thu gọn lại, tối đa còn 2 trang)
Gần một thập kỷ sau chính sách đổi mới năm 1986, sự khuyến khích kinh tế theo
xu hướng thị trường đã thúc đẩy Hà Nội phát triển vượt bậc vào đầu những năm 1990.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng thị trường của đất nước, sự bùng
nổ các hoạt động thương mại và dịch vụ góp phần tạo nên những nhu cầu mới về nhà ở
đô thị.
Từ 1994 đến nay, hàng trăm khu đô thị mới đã và đang được xây dựng trên địa
bàn thành phố Hà Nội. Qua nghiên cứu, khảo sát, có thể thấy mặc dù rất khác nhau
nhưng về cơ bản các khu đô thị mới ở Hà Nội có thể chia theo 2 cách như sau:
Phân chia theo chức năng:
• Khu đô thị mới có chức năng tổng hợp (nhiều chức năng)
• Khu đô thị mới có chức năng chuyên ngành (khu ở, làng sinh viên, khu tái định
cư ).
Phân chia theo đối tượng và cấp độ phục vụ:
• Loại khu ở đạt chất lượng cao
• Khu ở đạt chất lượng trung bình
• Khu ở đạt chất lượng thấp
Trong đó, khu ở chất lượng cao là loại hình phổ biến để đáp ứng nhu cầu ở văn
minh hiện đại của người dân thành phố, khu ở chất lượng trung bình chủ yếu đáp ứng nhu
cầu cho thành phần cán bộ công nhân viên chức nhà nước, tiểu thương còn khu ở chất
lượng thấp là những khu đô thị mới với quy mô nhỏ để phục vụ mục đích di dân giải
phóng mặt bằng phục vụ các công trình và dự án trọng điểm của thành phố.
Khu đô thị mơi Trung Hòa – Nhân Chính
Trên địa bàn Hà Nội, các khu đô thị mới phân bố chủ yếu ở một số khu vực sau:
• Các khu đô thị mới xây dựng tại phía Bắc sông Hồng: khu đô thị mới
Bắc sông Hồng, khu đô thị mới Bắc Thăng Long, khu đô thị mới Đại Mạch có vị trí độc
lập, cách xa khu vực trung tâm thành phố, thuận lợi để phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở,
gần các tuyến giao thông chính như tuyến quốc lộ, các đường vành đai và khu vực sân
bay quốc tế Nội Bài nên có điều kiện để phát triển mạnh.
• Các khu đô thị mới xây dựng phía Nam sông Hồng có thể chia ra thành
3 nhóm là: khu đô thị mới thuộc Quận Hoàng Mai, Huyện Thanh Trì; Nhóm các khu đô
thị mới thuộc Quận Thanh Xuân, Cầu Giấy và Từ Liêm; Và các khu đô thị mới thuộc khu
vực trung tâm với mục đích tái định cư tại chỗ.
Nhìn chung các khu đô thị mới nằm ở phía Nam sông Hồng đa dạng hơn về chủng
loại và quy mô.
• Khu đô thị mới loại rất lớn trên 100 ha chiếm 10,69%.
• Khu đô thị mới có quy mô theo dự án chiếm 27,48%.
• Ảnh bên : Biểu đồ đánh giá về quy mô 131 khu đô thị
mới tại Hà Nội
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý môi trường tại KĐT mới Định công
I. Sơ lược về vấn đề môi trường Khu đô thị mới Định Công
1. Giới thiệu KĐT mới Định Công
+ Quy mô khu đô thị mới Định Công: 35ha, dân số:16.520 người, tổng diện tích
sàn nhà ở 297.000 m2, được khởi công năm 1999 và hoàn thành năm 2007
+ Đơn vị chủ quản: Khu đô thị mới Định Công là một trong những đô thị mới do
Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD)- thuộc Bộ Xây dựng làm chủ đầu tư
nay là Tập đoàn phát triển nhà và đô thị. Đơn vị quản lý vận hành trực tiếp là Chi nhánh
Công ty HUDS- Xí nghiệp 3
.
Khu đô thị mới Định Công được triển khai đồng thời với Khu đô thị mới Linh
Đàm, khu đô thị mới Định Công đã nhanh chóng đóng góp một quỹ nhà ở lớn phục vụ
chương trình phát triển nhà ở của thành phố. Bên cạnh hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ,
dự án có đầy đủ công trình xã hội phục vụ cuộc sống của người dân như trường học, nhà
trẻ, siêu thị, chợ xanh, bệnh viện và các công trình dịch vụ vui chơi giải trí như công viên
cây xanh, sân tennis, bể bơi, câu lạc bộ, v.v…
2. Thực trạng vấn đề môi trường đô thị của KĐT mới Định CÔng
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường KĐT mới Định công
II. Thực trạng quản lý môi trường KĐT mới định công
1. Mô hình quản lý môi trường đô thị
2. Cơ chế, chính sách quản lý môi trường
III. Đánh giá hoạt động quản lý môi trường KĐT mới Định công
1. Các kết quả đạt được
2. Các tồn tại, hạn chế.
3. Các nguyên nhân cơ bản.
3
Sân vườn chung cư
CT5 13 275.72 45 13.88 74.94
4
Sân vườn chung cư
CT6 12 385.11 61 30.42 119.72
5
Sân vườn chung cư
CT16 420.72 47 109.42 78.22
Cộng 33 399 8002.67 0 434 557.6 460.13
432 8002.67 434 557.6 460.13
- Việc chăm sóc cây xanh, thảm cỏ đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn cảnh quan
môi trường, một phần làm điều hòa tiểu khí hậu khu vực
2. Công tác vệ sinh môi trường các tuyến đường
- Với tổng số 25 công nhân vệ sinh môi trường, hàng ngày được chia làm 2 ca để
tổ chức quét vỉa hè, lòng đường, tua vỉa và vệ sinh moi hầm ếch.
TT
Tên công
trình
Lòng đường Hè phải Hè trái Tổng cộng
dài rộng dt quét Rộng dt quét Rộng dt quét dt quét tua vỉa
m m m2 m m2 m m2 m2 m
1 2 3=4*1 4 5=4*1 6 7=1*6 8=3+5+7 9=1*2bªn
A
Trục đường
quy hoạch
604
3
74.1 24192 36.3 17955.8 46.1 26141 68288.8 12086
1 Tuyến 1 636 7 2544 3.8 2416.8 5 3180 8140.8 1272
nắm vững nghiệp vụ chuyên môn của bộ máy và cán bộ thực hiện.
(2). Xây dựng và hoàn chỉnh các cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, các
quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn Thành phố:
- Xây dựng, hợp nhất các quy định về quản lý chất thải rắn, nước thải và không khí
(bụi và khí thải giao thông) trên địa bàn Thành phố.
- Xây dựng quy định phân cấp Quản lý môi trường trong công tác thu gom, vận
chuyển, xử lý chất thải rắn.
- Xây dựng và cụ thể hoá các cơ chế chính sách ưu đãi, khuyến khích các thành phần
kinh tế tham gia xử lý nước thải và dịch vụ môi trường.
- Xây dựng quy định về phối hợp phòng ngừa, ứng cứu và xử lý các sự cố môi
trường trên địa bàn Thành phố.
(3). Tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường.
- Huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội, xã hội nghề
nghiệp trong các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức, giáo dục pháp luật, phổ
biến các quy định, cơ chế chính sách về: Phân loại rác tại nguồn, đổ rác, phế liệu xây
dựng đúng nơi quy định, không xả rác và nước thải chưa qua xử lý vào nguồn nước mặt,
thực hiện những biện pháp giảm bụi trong quá trình xây dựng các công trình và vận
chuyển vật liệu, phế thải xây dựng, tăng cường sử dụng phương tiện giao thông công
cộng, tham gia trồng và bảo vệ cây xanh…Đưa các nội dung, hoạt động tuyền truyền về
môi trường vào tài liệu sinh hoạt của các tổ chức và cộng đồng dân cư.
- Đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng vào các phong trào vệ sinh tại khu vực cư
trú, đưa nội dung bảo vệ môi trường vào tiêu chuẩn xây dựng gia đình văn hoá…
- Biên tập tài liệu phục vụ tuyên truyền về môi trường trong các trường phổ thông.
- Công khai thông tin về tình hình vi phạm pháp luật Bảo vệ môi trường để nhân dân
cùng giám sát và tạo áp lực xã hội đối với các vi phạm. Xây dựng chuyên mục môi
trường trên các phương tiện thông tin đại chúng của Thành phố.
(4). Áp dụng các biện pháp kinh tế và các biện pháp khoa học công nghệ tiên tiến trong
bảo vệ môi trường:
- Thực hiện nguyên tắc gây thiệt hại đối với môi trường phải khắc phục bồi thường.
Áp dụng các chính sách, cơ chế hỗ trợ về vốn, khuyến khích về thuế, trợ giá đối với hoạt
Nam Sơn (Sóc Sơn), khu xử lý Xuân Sơn (Sơn Tây) và xây dựng một số bãi chôn lấp hợp
vệ sinh mới.
- Triển khai dự án xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt với công nghệ tiên
tiến, hiện đại và đã được thực hiện có hiệu quả trên thế giới với chi phí phù hợp (dự kiến
đặt tại Nam Sơn hoặc Đồng Ké)
- Xây dựng các khu xử lý chất thải rắn quy mô cấp huyện đáp ứng được các yêu cầu
về xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh như : Chương Mỹ, Thạch Thất, Mỹ Đức, Phú
Xuyên…
- Trường hợp chôn lấp phân tán, nhỏ lẻ (quy mô cấp xã) phải đảm bảo theo tiêu
chuẩn môi trường. Các hố chôn lấp rác quy mô nhỏ sau khi đầy có thể phủ đất và trồng
cây lên trên để tạo cảnh quan môi trường, phù hợp quy hoạch.
- Phấn đấu 100% chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom và xử lý.
- Phấn đấu thu gom 95% và xử lý 70% chất thải rắn công nghiệp, trong đó chất thải
công nghiệp nguy hại phải thu gom, lưu giữ 90% và xử lý được 60%.
2.2. Đối với nước mặt
2.2.1. Xử lý ô nhiễm nước các sông, hồ
- Cải tạo nạo vét khơi thông dòng chảy các sông đảm bảo cân bằng nguồn nước
phục vụ việc tưới tiêu nông nghiệp và thoát lũ, chống úng ngập cho Thành phố Hà Nội.
- Tập trung ưu tiên xử lý một bước ô nhiễm nước sông Tô Lịch đảm bảo các tiêu chí
về thoát nước, môi trường và cảnh quan.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng, thống kê các vi phạm pháp luật về đất đai, môi
trường; quản lý sử dụng đất đai lưu vực Sông Nhuệ; quan trắc, xác định mức độ ô nhiễm
các địa điểm xả thải. Từ đó thực hiện các giải pháp về quản lý, xử lý vi phạm và từng
bước thực hiện 12 dự án ưu tiên của “ Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông
Nhuệ-sông Đáy đế năm 2020 ” đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt theo Quyết định
số 57/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008.
- Đối với các hồ trên địa bàn Thành phố : Triển khai thử nghiệm một số phương án
xử lý giảm thiểu ô nhiễm 7 hồ trong năm 2009 và nhân rộng áp dụng cho 26 hồ đã được
kè bờ trên địa bàn thành phố trong năm 2010.
2.2.2. Xử lý nước thải công nghiệp
môi trường tại làng nghề. Quy hoạch, di chuyển các cơ sở, các điểm sản xuất của hộ gia
đình gây ô nhiễm môi trường ra các cụm công nghiệp làng nghề tập trung đã được xây
dựng.
2.3. Đối với ô nhiễm không khí do bụi và khí thải giao thông
Nhiệm vụ chung là Xây dựng mạng lưới quan trắc chất lượng không khí của Thành phố,
ưu tiên thiết lập mạng lưới các trạm quan trắc chất lượng không khí cố định. Tập trung
quan trắc xác định những khu vực ô nhiễm trọng điểm ( khu vực nội thành, kho đô thi
mới….) để từ đo đưa ra những biện pháp khắc phục. Quy hoạch mở rộng các khu không
gian công cộng và phát triển không gian xanh đô thị để điều hoà khí hậu. Phát triển giao
thông công cộng, hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân để giảm bụi và khí thải từ hoạt
động giao thông. Tăng cường kiểm tra, có biện pháp hạn chế bụi xây dựng các công trình
và phương tiện vận chuyển vật liệu, phế thải xâydựng.
2.3.1. Về ô nhiễm bụi
- Phấn đấu100% các công trường xây dựng phải được che chắn và áp dụng các biện
pháp giảm bụi.Vật liệu xây dựng, đất thải phế thải phải được vận chuyển bằng các
phương tiện chuyên dụng đảm bảo không rơi vãi ra đường.
- Lực lượng thanh tra xây dựng, thanh tra giao thông tăng cường giám sát việc
chống bụi ngay tại các công trường xây dựng, các bãi khai thác, trung chuyển cát, sỏi; các
phương tiện vận chuyển vật liệu và phế thải xây dựng.
- Các quận, huyện, thị xã bố trí và công bố công khai các điểm tập kết để trung
chuyển đất thải, phế thải xây dựng trên địa bàn. Xử lý nghiêm đối với các trường hợp đổ
đất thải, phế thải không đúng nơi quy định, làm rơi đất, phế thải trên đường.
- Xây dựng một số trạm rửa xe tại khu vực bãi trung chuyển, khai thác cát, sỏi, vật
liệu xây dựng và trên một số tuyến đường cửa ngõ vào trung tâm Thành phố.
2.3.2. Về ô nhiễm khí thải giao thông
- Tăng cường công tác tổ chức giao thông, chống ùn tắc
- Kiểm soát khí thải (thông qua đăng kiểm) các phương tiện giao thông cơ giới,
trước mắt tập trung vào xe buýt và xe tải trên địa bàn Thành phố.
- Phát triển mạng lưới giao thông công cộng.
- Nghiên cứu kiến nghị với Chính phủ để có quy định xử dụng phương tiện giao
nghiệp vụ chuyên môn của bộ máy và cán bộ thực hiện.
(2). Xây dựng và hoàn chỉnh các cơ chế, chính sách, văn bản
quy phạm pháp luật, các quy định về bảo vệ môi trường trên địa
bàn Thành phố:
- Xây dựng, hợp nhất các quy định về quản lý chất thải rắn,
nước thải và không khí (bụi và khí thải giao thông) trên địa bàn
Thành phố.
- Xây dựng quy định phân cấp Quản lý môi trường trong
công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn.
- Xây dựng và cụ thể hoá các cơ chế chính sách ưu đãi,
khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xử lý nước thải và
dịch vụ môi trường.
- Xây dựng quy định về phối hợp phòng ngừa, ứng cứu và
xử lý các sự cố môi trường trên địa bàn Thành phố.
(3). Tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi
trường.