Hành vi tiêu dùng của phụ nữ đối với sản phẩm chăm sóc da ngoại nhập - Pdf 30

DDđ“Nghiên cứu hành vi tiêu dùng của phụ nữ Việt Nam tại thành phố Hồ Chí

Minh đối với sản phẩm chăm sóc da ngoại nhập và bài học kinh nghiệm cho
các

thương hiệu sản phẩm chăm sóc da của Việt Nam
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƢỜI TIÊU
I. Khái niệm về hành vi của ngƣời tiêu dùng
1. Ngƣời tiêu dùng và thị trƣờng ngƣời tiêu dùng
Trên thực tế những những khái niệm về khách hàng, người mua,
người
tiêu

dùng vẫn thường bị sử dụng nhầm lẫn. Có thể tham khảo một giải thích trên
trang

thông tin của Trường cán bộ thành phố Hồ Chí Minh như sau:
-
Khách hàng (tiếng Anh là customer): là người (có thể là cá nhân, tập thể,
chức…) giao dịch mua bán hàng hóa hay dịch vụ với các cơ sở sản xuất, dịch
vụ,
-
-
Người mua (tiếng Anh là buyer): là người thực hiện việc mua sắm [27].
Người tiêu dùng (tiếng Anh là consumer): là người sử dụng những của
vật chất để thỏa mãn nhu cầu sản xuất, đời sống [27].
Theo một số tài liệu tham khảo, có những ý kiến khác nhau về khái
niệm

người tiêu dùng. Theo đó, người tiêu dùng có thể đảm nhiệm nhiều vai

cứu, hoặc một môn học. Trong một số trường hợp khác, hành vi là những gì
khách

hàng nghĩ, cảm thấy và hành động. Trong phạm vi hẹp, khái niệm hành
vi được

xem là những hành động có thể quan sát hoặc đo lường được.
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (American Marketing Association)
hành

vi của người tiêu dùng được định nghĩa như sau: “Hành vi khách hàng tiêu
dùng là

quá trình tương tác động giữa cảm xúc, nhận thức, hành vi và môi
trường mà con

người thực hiện trao đổi phục vụ cho cuộc sống của mình.” [31].
Dựa trên nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của Hiệp hội Marketing Hoa
Kỳ
J.

Paul Peter và Jerry C. Olson đã nghiên cứu và đưa ra một khái niệm khác về
hành vi

tiêu dùng như sau: “Hành vi người tiêu dùng là một quá trình trong đó
hành vi mua

hàng chỉ là một bước trong quá trình đó. Hành vi tiêu dùng là sự
tương tác linh


khác (môi trường kinh tế, khoa học kỹ thuật, chính trị, văn hóa) xâm
nhập vào “hộp

đen” ý thức của người mua và gây ra nhất định, có thể quan sát
6
Sơ đồ 1.2: Mô hình hành vi ngƣời tiêu dùng của Philip Kotler
(Nguồn:
[8])
Mô hình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng của Philip Kotler là một


hình chi tiết và dễ tiếp cận. Tác giả chọn lý thuyết về hành vi người tiêu
dùng của

Philip Kotler làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu đề tài.
II. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hành vi của ngƣời tiêu dùng
1. Các yếu tố bên ngoài “hộp đen” ý thức ngƣời tiêu dùng
1.1 Các yếu tố kích thích của Marketing
1.1.1 Định nghĩa Marketing hỗn hợp
Từ mô hình hành vi người tiêu dùng của Philip Kotler có thể thấy những
yếu

tố marketing là một bộ phận kích thích mạnh mẽ đến hành vi của người tiêu
dùng.

Để nghiên cứu những yếu tố kích thích của marketing đến hành vi tiêu
dùng Philip

Kotler đã tiếp cận theo phương pháp phân tích Marketing hỗn hợp
bao gồm bốn

mua hàng
Các yếu
tố
kích thích
của
Các
tác
nhân kích
thích khác
Hàng hóa
Môi
Giá cả
Khoa
Phương
Chính trị
Khuyến mãi Văn hóa
thống nhất để ứng phó với những khác biệt và thay đổi trên thị trường. Có thể
nói

Marketing hỗn hợp là một giải pháp có tính tình thế của công ty”. [9]
1.1.2 Các thành phần của Marketing hỗn hợp

Sản phẩm:
Là thành phần cơ bản nhất trong Marketing hỗn hợp. Đó có thể là sản
hữu hình của công ty đưa ra thị trường, bao gồm chất lượng sản phẩm, hình
dáng

thiết kế, đặc tính, bao bì và nhãn hiệu. Sản phẩm cũng bao gồm khía cạnh
vô hình



mà nó thay đổi theo các yếu tố ảnh hưởng sau đây:

Uy tín của doanh nghiệp trên thị trƣờng: nếu doanh nghiệp đã chiếm
được một thị phần lớn thì lúc đó không cần tốn nhiều chi phí cho các hoạt động
xúc
8

Yếu tố sản phẩm: sản phẩm khác nhau phải có cách bán hàng, xúc tiến
nhau. Do đó, doanh nghiệp phải thiết kế hệ thống phân phối và sử dụng các công
cụ

Thị trƣờng: tùy thuộc vào khả năng mua hàng của từng thị trường mà
nghiệp phải có chiến lược Marketing hỗn hợp khác nhau. Ví dụ: sức mua của
thị

trường thành thị cao hơn của vùng sâu vùng xa. Vì vậy, chiến lược Marketing
hỗn

hợp cho sản phẩm ở các thị trường đó phải khác nhau.
• Các giai đoạn của chu kỳ sống của sản phẩm: mỗi giai đoạn của chu
kỳ

sống sản phẩm có đặc điểm khác nhau nên cần có chiến lược Marketing hỗn
hợp

khác nhau.
1.2 Các tác nhân kích thích khác
1.2.1 Môi trƣờng kinh tế
Trong xã hội, ngoài bản thân con người ra, sức mua của họ cũng rất

hành vi của

họ đối với cuộc sống nói chung và việc mua sắm nói riêng.
Nghiên cứu về môi

trường khoa học kỹ thuật là nghiên cứu về:
• Những thay đổi và tốc độ thay đổi trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật.
• Sự khuyến khích phát triển của xã hội đối với khoa học kỹ thuật bao
9
• Sự điều chỉnh của xã hội đối với các sản phẩm mới của ngành khoa học
kỹ
thuật vì sự đổi mới của khoa học kỹ thuật đôi khi cũng mang một tác động tiêu
cực

ở một mặt nào đó đến đời sống và xã hội.
1.2.3 Môi trƣờng chính trị
Môi trường chính trị xung quanh người tiêu dùng bao gồm các luật lệ, các


quan nhà nước, các nhóm xã hội có uy tín ảnh hưởng đến các tổ chức người
tiêu

dùng tham gia và cá nhân người tiêu dùng, đồng thời cũng hạn chế tự do hành
động

của họ trong một khuôn khổ nhất định.
1.2.4 Đặc điểm văn hóa
Con người lớn lên trong một xã hội cụ thể và chính xã hội đó đã trao
dồi


văn hóa,

nhánh văn hóa và tầng lớp xã hội của người mua.
2.1.1.1 Nền văn hóa
Nền văn hóa là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và
hành
vi

của một người. Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích lũy được một số những giá trị,
1
chế then chốt khác. Một đứa trẻ lớn lên ở Hoa Kỳ sẽ quen thuộc hay gặp phải
những

giá trị sau: làm việc để đạt thành tựu và thành công, tính tích cực, hiệu suất
làm việc

và tính thực tiễn, sự tiến bộ, tiện nghi vật chất, chủ nghĩa cá nhân, tự
do, tiện nghi

bên ngoài, chủ nghĩa nhân đạo và tính trẻ trung.
2.1.1.2 Nhánh văn hóa
Bất kỳ nền văn hóa nào cũng bao gồm những bộ phận cấu thành nhỏ hơn
hay

nhánh văn hóa, đem lại cho các thành viên của mình khả năng hòa đồng và
giao tiếp

cụ thể hơn với những người giống mình. Trong những cộng đồng lớn
thương gặp



viên thuộc các đẳng cấp khác nhau được nuôi nấng và dạy dỗ để đảm nhiệm
những

vai trò nhất định. Hay gặp hơn là trường hợp phân tầng thành các tầng lớp
xã hội.

Các tầng lớp xã hội là những bộ phận tương đối đồng nhất và bền vững
trong xã hội,

được xếp theo theo thứ bậc và gồm những thành viên có chung
những giá trị, mỗi

quan tâm và hành vi.

Những người thuộc mỗi tầng lớp xã hội đều có khuynh hướng hành
giống nhau hơn so với những người thuộc hai tầng lớp xã hội

Các giai tầng xã hội đều có những đặc trưng về sở thích rõ rệt đối với
hóa và nhãn hiệu quần áo, đồ gia dụng, cách tiêu khiển và giải trí, phương tiện đi

Con người được xem là có địa vị thấp hay cao tuỳ theo tầng lớp xã
1

Tầng lớp xã hội của một người được xác định theo một số biến, như
nghiệp, thu nhập, của cải, học vấn, và định hướng giá trị chứ không phải chỉ
theo

Các cá nhân có thể di chuyển từ tầng lớp xã hội này sang tầng lớp xã
khác, lên hoặc xuống, trong đời mình. Mức độ cơ động này khác nhau tuỳ theo

nhất

Các nhóm tham khảo tạo điều kiện để một cá nhân tiếp xúc với những
vi và lối sống

Những nhóm này cũng ảnh hưởng đến thái độ và tự ý niệm của mỗi
bởi vì người đó thường muốn hòa nhập vào

Những nhóm này tạo ra những áp lực buộc phải tuân theo những chuẩn
chung và có thể tác động đến cách lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu trong thực
tế

của người đó.
2.1.2.2 Gia đình
Gia đình là nhóm tham khảo quan trọng có ảnh hưởng lớn nhất đến
người

tiêu dùng. Cần phân biệt hai gia đình trong đời sống người tiêu dùng.
1

Gia đình định hướng gồm bố mẹ của người đó. Do từ bố mẹ mà một
có được một định hướng đối với tôn giáo, chính trị, kinh tế và một ý thức
về
tham

vọng cá nhân, lòng tự trọng và tình yêu. Ngay cả khi người mua không còn
quan hệ

nhiều với bố mẹ, thì ảnh hưởng của bố mẹ đối với hành vi của người
mua vẫn có

Người ta lựa chọn

những sản phẩm thể hiện được vai trò và địa vị của mình trong
xã hội.
2.1.3 Những yếu tố mang tính chất cá nhân
2.1.3.1 Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống
Người tiêu dùng mua những hàng hóa và dịch vụ khác nhau trong su
ốt
đời

mình. Cùng với sự thay đổi tuổi tác là sự thay đổi trong chủng loại và danh
mục

những mặt hàng và dịch vụ được mua sắm. Con người ăn thức ăn cho trẻ
sơ sinh

trong những năm đầu tiên, ăn phần lớn thực phẩm trong nhưng năm
lớn lên và

trưởng thành và phải ăn những thức ăn kiêng cử trong những năm
cuối đời của

mình. Thị hiếu của con người về quần áo, đồ gỗ và cách giải trí
cũng tuỳ theo tuổi

tác. Tính chất tiêu dùng cũng phụ thuộc vào giai đoạn của
chu trình đời sống gia

đình. Và có một số công trình nghiên cứu đã xác định các
1


người trong thế giới, được thể hiện ra trong hoạt động, sự quan tâm và niềm
tin của

người đó [8].
Những người cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và
cùng

nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau. Lối sống miêu
tả sinh

động toàn diện một con người trong quan hệ giữa họ với môi trường
xung quanh

của mình.
2.1.3.4 Kiểu nhân cách và ý niệm về bản thân
Mỗi người đều có một nhân cách khác biệt và có ảnh hưởng đến hành vi
của

người đó. Philip Kotler định nghĩa về kiểu nhân cách như sau:
“Kiểu nhân cách là một tập hợp những đặc điểm tâm lý của con người
đảm

bảo sự phản ứng đáp trả lại của người đó với môi trường xung quanh một
cách có

trình tự và tương đối ổn định”.
Nhân cách thường được mô tả bằng những nét như tự tin có uy lực,
tính
độc

“Động cơ (hay sự thôi thúc) là nhu cầu đã trở thành khẩn thiết đến mức
độ

buộc con người phải tìm cách và phương thức để thỏa mãn nó”.
2.1.4.2 Nhận thức
Một người có động cơ luôn sẵn sàng hành động. Tuy nhiên, người có
động

cơ sẽ hành động như thế nào trong thực tế còn chịu ảnh hưởng từ sự nhận
thức của

người đó về tình huống lúc đó.
Mỗi người có thường nhận thức khác nhau về cùng một tình huống bởi


mỗi người nắm bắt những tác nhân thông qua những cảm giác truyền qua năm
giác

quan của mình. Và mỗi người lại suy xét, tổ chức và giải thích thông tin
cảm giác

đó theo cách riêng của mình. Nhận thức được định nghĩa là “một quá
trình thông

qua đó cá thể tuyển chọn, tổ chức và giải thích thông tin tạo ra một
bức tranh có ý

nghĩa về thế giới xung quanh”. Nhận thức không chỉ phụ thuộc
vào những tác nhân


hết hành vi của con người đều được lĩnh hội. Các nhà lý luận về tri thức cho
rằng tri

thức của một người được tạo ra thông qua sự tác động qua lại của những
thôi thúc,

những tác nhân kích thích, những tấm gương, những phản ứng đáp lại,
sự học hỏi

và củng cố. Tri thức mô tả những thay đổi trong hành vi của cá thể
bắt nguồn từ

kinh nghiệm của họ.
2.1.4.4 Niềm tin và thái độ
Thông qua hoạt động và tri thức, người ta có được niềm tin và thái
độ.

Những yếu tố này lại có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của con người.
Những

niềm tin của con người tạo nên những hình ảnh về sản phẩm cũng như
nhãn hiệu và

người ta hành động theo những hình ảnh đó.
Thái độ diễn tả những đánh giá tốt hay xấu dựa trên nhận thức bền
vững,

những cảm giác cảm tính và những xu hướng hành động của một người đối
với một


Hành vi sau khi
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ quá trình ra quyết định mua hàng của ngƣời tiêu dùng
(Nguồn: [8])
2.2.1
Nhận thức nhu cầu
Tiến trình mua khởi đầu với việc người mua nhận thức được một m
ột
nhu

cầu. Nhu cầu có thể được nhận ra nhanh bởi các kích tác bên trong và bên
ngoài.

Các kích tác bên trong sẽ tác động lên ý thức và trở thành một sự thôi thúc.
Do kinh

nghiệm trước đó, người ta sẽ tìm cách giải quyết sự thôi thúc, dẫn
đến một đối

tượng mà người ấy biết sẽ thỏa mãn được sự thôi thúc. Ngoài ra,
nhu cầu cũng bắt

nguồn từ các tác nhân kích thích bên ngoài. Các kích tác bên
ngoài, thí dụ như một

chương trình quảng cáo về một sản phẩm hay nhãn hiệu
nào đó, sẽ dẫn khách hàng
1
2.2.2 Tìm kiếm thông tin
Một người tiêu dùng khi đã có nhu cầu, thì có thể kiếm thêm thông tin
hoặc

dùng sử dụng cho tất cả các tình huống mua sắm. Những mô hình thông
dụng nhất

của quá trình đánh giá của người tiêu dùng đều định hướng theo nhận
thức, tức là

khi hình thành những xét đoán về sản phẩm, người tiêu dùng chủ yếu
dựa trên cơ sở

ý thức và hợp lý.
Người tiêu dùng thường cố gắng thỏa mãn nhu cầu của mình. Họ tìm
kiếm

trong sản phẩm những ích lợi nhất định. Người tiêu dùng xem mỗi sản
phẩm như

một tập hợp các thuộc tính với những khả năng đem lại những ích lợi
nhất định và

thỏa mãn nhu cầu khác nhau của họ.
Người tiêu dùng có khuynh hướng xây dựng cho mình một tập h
ợp
những

niềm tin vào các nhãn hiệu, khi mỗi nhãn hiệu được đánh giá theo từng
tính chất.

Những niềm tin vào nhãn hiệu tạo nên hình ảnh về nhãn hiệu. Niềm
tin vào nhãn


thích cũng ủng hộ nhãn hiệu này. Ảnh hưởng của những người khác sẽ trở nên
phức

tạp khi có một vài người thân cận với người mua có ý kiến trái ngược
nhau và

Ý định mua hàng cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố tình huống bất
Người tiêu dùng hình thành ý định mua hàng trên cơ sở những yếu tố như
thu
nhập

dự kiến của gia đình, giá dự kiến và ích lợi dự kiến của sản phẩm. Khi
người tiêu

dùng sắp sửa hành động thì những yếu tố tình huống bất ngờ có thể
xuất hiện đột

Quyết định của người tiêu dùng thay đổi, hoãn hay huỷ bỏ quyết định
hàng chịu ảnh hưởng rất nhiều rủi ro nhận thức được. Mức độ rủi ro nhận thức
được

thay đổi theo số tiền bị nguy hiểm, mức độ không chắc chắn của các tính
chất và

mức độ tự tin của người tiêu dùng. Người tiêu dùng sẽ triển khai những
biện pháp

nhất định để giảm bớt rủi ro, như huỷ bỏ quyết định, thu thập thông tin
từ bạn bè, và


Sau khi mua, nếu khách hàng hài lòng thì rất có thể họ sẽ mua sản phẩm
đó

trong lần tới. Ngược lại, khi khách hàng bất mãn, thì họ cũng sẽ có những
thái độ

khác nhau, họ có thể sẽ không làm gì cả, nhưng cũng có thể kiện nhà sản
xuất.
III. Khái niệm về sản phẩm chăm sóc da
1. Sản phẩm mỹ phẩm
Theo định nghĩa của Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ
(FDA)

sản phẩm mỹ phẩm được định nghĩa như sau:
“Mỹ phẩm là những sản phẩm được sử dụng bên ngoài cơ thể để làm
sạch,

làm đẹp và tăng tính hấp dẫn, hay giúp thay đổi diện mạo mà không làm
ảnh hưởng

đến cấu trúc hay chức năng của cơ thể”. [31]
Trong Hiệp định về hệ thống hòa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm,
sản

phẩm mỹ phẩm được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á định nghĩa rất chi
tiết như

sau: “Một sản phẩm mỹ phẩm là bất kỳ một chất hoặc một chế phẩm
được dùng tiếp


mạo con người, được sử dụng cho bên ngoài cơ thể như các vùng da, tóc.
Sản phẩm

mỹ phẩm bao gồm những loại khác nhau như: sản phẩm chăm sóc cho
trẻ em, sản

phẩm vệ sinh cơ thể, sản phẩm khử mùi, chăm sóc tóc, sản phẩm
trang điểm, nước

hoa, chăm sóc da, chăm sóc răng miệng, sản phẩm chăm sóc
sắc đẹp cho nam giới

như chăm sóc da hay cạo râu, các sản phẩm tẩy lông.”
2. Sản phẩm chăm sóc da
Sản phẩm chăm sóc da là một bộ phận thuộc các sản phẩm mỹ phẩm.
Sản

phẩm chăm sóc da được sử dụng nhằm mục đích vệ sinh, chăm sóc, nuôi
dưỡng cho

vùng da trên mặt là chủ yếu và một bộ phận nhỏ các sản phẩm dưỡng
thể có thể sử

dụng cho các vùng da khác trên cơ thể.
Theo Euromonitor International trong một báo cáo về sản phẩm chăm sóc
da,

sản phẩm chăm sóc da bao gồm các loại sau đây: sản phẩm dưỡng ẩm,
chống lão



ngoài tại Việt Nam rất ít; hầu hết các sản phẩm chăm sóc da mang
thương hiệu
2
Việt để phục vụ nhu cầu thông tin của người tiêu dùng Việt Nam. Điều này
được

kiểm chứng khi quan sát các sản phẩm chăm sóc da được bày bán ở các siêu
thị.
Việc nghiên cứu các sản phẩm chăm sóc da ngoại nhập sẽ được dựa trên
việc

nghiên cứu các thương hiệu chăm sóc da của nước ngoài và loại bỏ một
bộ phận

nhỏ những sản phẩm chăm sóc da mang thương hiệu nước ngoài nhưng
được sản

xuất tại các nhà máy ở Việt Nam.
IV. Định hƣớng nghiên cứu của đề tài
Sau khi tìm hiểu về hành vi mua hàng của người tiêu dùng thông
qua


hình hành vi của người mua do Philip Kotler nghiên cứu, có thể thấy hành vi
tiêu

dùng không phải là một hành động của người tiêu dùng diễn ra trong một thời
điểm


trình
tính
quyế
của
định
ngườ
mua
mua hàng
Các yếu
tố
kích thích
của
Các
tác
nhân kích
thích khác
Hàng hóa
Môi
Giá cả
Khoa
Phương
Chính trị
Khuyến mãi Văn hóa
các yếu tố marketing (sản phẩm, giá cả, hình thức phân phối, khuyến mãi)
đến

những phản ứng đáp lại đó của họ.
Đề tài sẽ trả lời những câu hỏi sau:
Những phản ứng đáp lại của phụ nữ Việt Nam tại thành phố Hồ Chí
Minh

dùng,
thị

trường người tiêu dùng, hành vi của người tiêu dùng và đưa ra các mô hình về
hành

vi của người tiêu dùng. Sau đó mô hình hành vi mua hàng của Philip
Kotler được

chọn ra để làm mô hình nghiên cứu hành vi tiêu dùng của phụ nữ
Việt Nam tại

thành phố Hồ Chí Minh đối với sản phẩm chăm sóc da ngoại nhập.
Bên cạnh đó, tác

giả cũng nêu ra những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng
bao gồm: những yếu

tố kích thích từ bên ngoài như: các yếu tố của Marketing,
những tác nhân khác từ

môi trường vĩ mô, và những yếu tố tác động bên trong
“hộp đen” ý thức của con

người như: đặc tính của người mua và quá trình ra
quyết định mua hàng. Ngoài ra,

các khái niệm như sản phẩm mỹ phẩm, sản
phẩm chăm sóc da, và sản phẩm chăm
2


độ 127,4 người/km2. Với dân số đông và mật độ dân số
cao, Việt Nam luôn là một

thị trường hấp dẫn đối với các nhà sản xuất và các
công ty trong và ngoài nước.
1.1.2 Sự trƣởng thành hơn về mặt tuổi tác của dân số
Bên cạnh dân số đông, trong những năm gần đây dân số Việt Nam
đang

trưởng thành hơn về tuổi tác.
Bảng 2.1: So sánh dân số Việt Nam năm 1999 và 2009
(Nguồn: Vietnam’s shifting consumer landscape – TNS
2
Năm 1999
Năm 2009
Dân số
76,323
86,024
Độ tuổi
Tỷ lệ (%)
0 - 19
44,5%
35,9%
20 - 39
32,9%
31,7%
40 - 59
15,3%
24,2%


dân số đang dần dần dịch chuyển từ các vùng nông thôn lên các khu đô thị.
Biểu đồ 2.1: Chênh lệnh dân số ở thành thị và nông thôn Việt
Nam

giai đoạn 1999 – 2009
(Nguồn: [38][22])
Trong thời kỳ 1999 - 2009, dân số thành thị đã tăng lên với tỷ lệ
tăng
bình

quân năm là 3,4%/năm, trong khi ở khu vực nông thôn tỷ lệ tăng dân số
chỉ có

0,4%/năm. Giữa hai cuộc Tổng điều tra 1999 và 2009, dân số cả nước đã
tăng 9,47

triệu người. Trong đó 7,3 triệu người (chiếm 77%) tăng lên ở khu vực
thành thị và

khoảng 2,17 triệu người (chiếm 23%) tăng lên ở khu vực nông thôn
[38]. Điều này
2
2009
29,6% 70,4%
Thành
thị Nông
thôn
1999
23,5%

tượng và là một thị

trường hấp dẫn trong khu vực châu Á Thái Bình Dương.
1.2.2 Tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát là một điểm đáng lo ngại cho các nhà đầu tư, nhà sản xu
ất


các công ty nước ngoài lẫn trong nước khi đã và đang tham gia thị trường Việt
2
8,48%
8,17%
6,78%
7%
6,18%
5,32%
5%
4%
3%
2%
1%
0%
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007 – 2010
(Nguồn: [22][30])
Năm 2008, Việt Nam chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn
cầu,

dẫn đến tỷ lệ lạm phát tăng cao khó kiểm soát. Năm 2009, hậu quả của khủng
hoảng

23%
20%
15%
11,75%
10%
8,5%
6,9%
5%
0%
Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam ngày càng giảm. Nhiều công ăn việc làm
giúp

tạo thu nhập cho người dân và góp phần làm tăng lên số lượng người tiêu
dùng độc

lập về tài chính. Đây là một lý do khác nữa thu hút các nhà sản xuất,
các công ty

vào thị trường Việt Nam.
1.2.4 Tình hình chi tiêu và tiết kiệm
Tình hình chi tiêu của người dân Việt Nam không đồng đều giữa các khu
vực

hàng hóa. Trong khi chi tiêu dành cho thực phẩm và thức uống chiếm trên
30%

trong tổng thu nhập, chi tiêu cho tiền nhà và các chi phí năng lượng chiếm
15% thì

phần dành cho các chi tiêu không kém phần quan trọng khác như sức

2. Thị trƣờng mỹ phẩm Việt Nam
2.1 Tăng trƣởng của ngành mỹ phẩm
Hàng năm mức độ tiêu thụ và doanh số các loại m


ph ẩ m tại Việt
Nam
tăng

trung bình 30%, vì thế Việt Nam đang là thị trường m


ph ẩ m tiềm năng
nhất nhì

Thế giới bên cạnh Trung Quốc và Ấn Độ [13]. Năm 2009, ngành mỹ
phẩm Việt

Nam được xem là tăng trưởng mạnh hơn so với những năm trước.
Đến năm 2009,

ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong
năm 2008 đã suy


2
Sản phẩm
2004
2005
2006
2007
2008
2009
Chăm sóc em bé
168,
182,
196,
212,
229,
249,
Xà bông và sữa tắm
944,
1.020,
1.091,
1.166,
1.243,
1.319,
Mỹ phẩm trang điểm
201,
242,
291,
349,
409,
483,
Khử mùi

311,
346,
377,
410,
Chăm sóc răng miệng
2.267,
2.525,
2.824,
3.108,
3.393,
3.709,
Chăm sóc da
602,
665,
777,
880,
1.003,
1.156,
Chống nắng
46,
55,
67,
81,
98,
117,
Dụng cụ làm đẹp
70,
78,
89,
104,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status