SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT NGUYÊN DUY THÌ 34.68.02
BÁO CÁO KẾT QUẢ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CẤP CƠ SỞ þ; TỈNH ¨
PHƯƠNG PHÁP HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA
PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
Môn/nhóm môn : Quản lý
Chức vụ : Phó Hiệu trưởng
Mã : 68
Người thực hiện : Nguyễn Hữu Lạc
Điện thoại : 0989321367
Email :
Bình Xuyên, tháng 4 năm 2015
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
1
3. Đối tượng nghiên cứu
1
4. Phương pháp nghiên cứu
1
5. Giới hạn về không gian của đối tượng nghiên cứu
1
6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
2
PHẦN NỘI DUNG
dục thường xuyên Bình Xuyên:
18
PHẦN KẾT LUẬN
19
1. Một số kết luận
19
2. Một số kiến nghị
19
Tài liệu tham khảo …………………………………………………………
20
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục nước ta tạo cho nhân dân lao động và thế
hệ trẻ khung cảnh: ngày nay có hàng vạn đơn vị của thiết chế loại hình giáo dục
thường xuyên hoạt động trên khắp các miền của đất nước; có trung tâm giáo dục
thường xuyên cấp tỉnh, có trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, có trung tâm
học tập cộng đồng trên địa bàn xã, phường, có trung tâm tin học ngoại ngữ, các trường
bổ túc văn hóa. Tất cả các thiết chế này đan xen vào nhau, tạo nên một mạng lưới để
nhân dân lao động và thế hệ trẻ được “Giáo dục thường xuyên – Đào tạo liên tục –
Học tập suốt đời”.
Người cán bộ quản lý các thiết chế này trước tiên là một nhà sư phạm, đưa giáo
dục đến mọi người và mỗi người, song còn phải có năng lực kinh tế xã hội, vận động
cộng đồng cung ứng nguồn lực cho các hoạt động dạy học, giáo dục.
Có thể diễn đạt một cách hình ảnh là người cán bộ quản lý thiết chế này phải
thực hiện sứ mệnh kép “Giáo dục cho tất cả và tất cả cho giáo dục”
- xuất phát từ thực tế của các trung tâm giáo dục thường xuyên nói chung, trung
tâm giáo dục thường xuyên Bình Xuyên nói riêng . Tôi chọn đề tài “ Phương pháp huy
động cộng đồng phát triển trung tâm giáo dục thường xuyên”, với mong muốn tìm ra
những phương pháp thích hợp nhất để huy động cộng cùng tham gia phát triển trung
tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh nhà nói chung và trung tâm giáo dục thường
rãi các hình thức học buổi tối, hàm thụ và mở lớp tại các cơ sở sản xuất”
- Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 tiếp tục nhấn mạnh”Phải tích
cực xây dựng hệ thống đào tạo, bồi dưỡng tại chức với nhiều hình thức học tập bảo
đảm cho mọi người lao động đều có thể suốt đời tham gia học tập, trau dồi nghề
nghiệp và mở rộng kiến thức”
- Nghị quyết số 14, năm 1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã cụ thể
hóa thêm” hệ thống trường, lớp tai chức phải được tổ chức rông khắp, bao gồm nhiều
hình thức học tập linh hoạt, thuận tiện cho người học. Hệ thống đó phải gắn liền với hệ
thống đào tạo tập trung nhưng có tổ chức và người phụ trách riêng”
- Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII đã khảng định : “ Cần phải thực hiện một
nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và
trách nhiệm của mỗi công dân. Đổi mới giáo dục bổ túc và đào tạo tại chức, khuyến
khích phát triển các loại hình giáo dục đào tạo không chính quy, khuyến khích tự học”
- Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã khảng định mục tiêu: “ Mở rộng các hình thức
học tập thường xuyên, đặc biệt là hình thức học từ xa. Quan tâm đào tạo và đào tạo lại
cán bộ quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân các doanh nghiệp . Tăng cường đào
tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý các cấp, các ngành”. “ Có hình thức
trường, lớp thích hợp nhằm đào tạo , bồi dưỡng cán bộ chủ chốt xuất thân từ công
nông và lao động ưu tú, con em các gia đình thuộc diện chính sách”
- Nghị quyết TW 3 khoá VIII đã xác định nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn
hiện nay là: “Có biện pháp thực hiện tốt các chủ trương về xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức đã nêu trong Nghị quyết TW8( khoá VII) và các điểm bổ sung sau đây: Cán
bộ lãnh đạo phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, trước hết về đường lối
chính trị, quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; được bố trí và điều động theo nhu
cầu và lợi ích của đất nước ”
- Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ I X đã chỉ ra, cần phải phát huy nguồn
lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục- đào tạo,
khoa học – công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước, là quốc sách hàng đầu; đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân
bằng những hình thức giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy; thực hiện giáo
về việc phê duyệt Đề án “ Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 – 2010” đã ghi rõ:
“Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là cơ hội và
tạo điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường
xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động
sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi
người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong học tập và tham gia tích cực “
xây dựng xã hội học tập”.
“Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập được dựa trên nền tảng phát
triển đồng thời, gắn kết, liên thông của hai bộ phận cấu thành: Giáo dục chính quy và
Giáo dục thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó giáo dục thường
xuyên thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng
mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi người công dân sẽ là một bộ
phận có chức năng quan trong, làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập”
- Luật Giáo dục năm 2005;
+ Tại Khoản 1 Điều 4 quy định “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục
chính quy và giáo dục thường xuyên”
+ Điều 44 quy định: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học,
học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao
trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc
làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội”
+ Tại Khoản 2 Điều 45 quy định: “Các hình thức thực hiện chương trình giáo
dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm:
v Vừa học vừa làm
v Học từ xa
v Tự học có hướng dẫn.
1.2. Thực trạng Giáo dục thường xuyên, xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam:
a. Kết quả đạt được
- Mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên tiếp tục được củng cố và phát triển,
phủ rộng khắp các địa bàn dân cư. Tính đến tháng 12/2010 có: 68 trung tâm giáo dục
thường xuyên cấp tỉnh/ 58 tỉnh(Thành phố); 635 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp
của 16 tỉnh/ thành phố có 32.190 học viên học theo hình thức đào tạo từ xa; 85.413
học viên theo học hình thức vừa làm vừa học.
- Chương trình đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng,
chuyển giao công nghệ: Chương trình đã đem lại hiệu quả thiết thực cho mọi người
dân, đặc biệt là những người lao động nông thôn, nên số người học tăng rất nhanh,
năm 2000 có khoảng 150.000 lượt người học, năm 2005 có khoảng 2.000.000 lượt
người, năm 2008 có 10.000.000 lượt người và năm học 2009 – 2010 có 13.937.784
lượt người tham gia học tập tại các trung tâm học tập cộng đồng (Tăng gần 2 triệu lượt
người so với năm học trước)
b. Những mặt yếu kém, tồn tại hiên nay của hệ thống Giáo dục thường xuyên
a. Các tiêu chuẩn, tiêu chí công nhận đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ
cập giáo dục trung học cơ sở thấp hơn so với các nước.
Các nước, xoá mù chữ và phổ cập Giáo dục trung học cơ sở cho người lớn từ
15 tuổi trở lên, ít nhất đến hết tuổi lao động. Ở Việt Nạm, xoá mù chữ chủ yếu cho các
đối tượng trong độ tuổi từ 15 – 25 (đối với các tỉnh có điều kiện kinh tế đặc biệt khó
khăn) và từ 15 – 35 tuổi (đối với các tỉnh thuận lợi); phổ cập giáo dục Trung học cơ sở
cho thanh niên trong độ tuổi 15 – 18, đối với các tỉnh khó khăn chỉ cần đạt tỷ lệ 70%
và tỉnh thuận lợi chỉ cần đạt 80% trở lên có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở.
b. Cơ hội tiếp cận giáo dục của những đối tượng thiệt thòi: người dân tộc thiểu
số, phụ nữ, trẻ em gái, thanh thiếu niên và người lao động ở các vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn còn hạn chế, chưa có giải pháp khả thi để khắc phục.
c. Chất lượng giáo dục thường xuyên thấp, thậm chí có nơi rất thấp, do:
- Nhiều địa phương trong nhiều năm chạy theo bệnh thành tích, từ công tác xoá
mù đến bổ túc văn hoá. Sau khi được công nhận chuẩn quốc gia về chống xoá mù và
phổ cập giáo tiểu học, nhiều địa phương buông lỏng, thậm chí không quan tâm đến
công tác chống mù chữ mà tập trung vào công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở,
dẫn đến tỷ lệ tái mù chữ cao, đặc biệt có các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên;
- Trình độ đầu vào của các lớp bổ túc trung học phổ thông rất thấp dẫn đến chất
lượng bổ túc trung học phổ thông thấp.
- Cơ sở vật chất của các trung tâm giáo dục thường xuyên còn rất nghèo nàn, lạc
nghiệp để tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường nhưng thiếu chế tài
quản lý, điều tiết vĩ mô.
g. Phương pháp giảng dạy, thi, kiểm tra quá lạc hậu, chủ yếu là phương pháp
đọc, chép. Chưa có hệ thống kiểm định chất lượng dể quản lý chất lượng các hoạt
động của giáo dục thường xuyên.
h. Công tác quản lý, chỉ đạo của Trung ương và địa phương chưa thống nhất về
một đầu mối, thiếu sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương nên việc quản lý một
số hoạt động của giáo dục thường xuyên bị buông lỏng, chồng chéo. Công tác thanh
tra, kiểm tra không thường xuyên; những vụ việc tiêu cực chậm được phát hiện hoặc
không có chế tài để xử lý kịp thời. Nhà nước chưa có quy định cụ thể, rõ ràng về mô
hình tổ chức, biên chế, định mức đầu tư cho các trung tâm giáo dục thường xuyên; chế
độ, chính sách, quyền lợi và trách nhiệm của người quản lý, người dạy và người học
thuộc hệ thống giáo dục thường xuyên.
i. Thiếu cơ chế, chính sách và nguồn lực để phát triển quy mô và nâng cao chất
lượng giáo dục thường xuyên.
Chính sách đối với người dạy, người học giáo dục thường xuyên chậm được
ban hành; chưa có văn bản hướng dẫn về định mức kinh phí, nội dung chi trong các cơ
sở giáo dục thường xuyên. Nguồn lực cho giáo dục thường xuyên chưa được quan tâm
đầu tư đúng mức, không tương xứng với vai trò, nhiệm vụ và vị trí chiến lược của nó,
dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa cung và cầu, ảnh hưởng lớn đến việc phát triển quy
mô và nâng cao chất lượng giáo dục.
Chương 2
HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA PHÁT TRIỂN
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
2.1. Huy động cộng đồng - một nội dung quan trọng cúa xã hội hoá giáo dục
a. Một trong những biện pháp triển khai xã hội hoá giáo dục hữu ích cần triển
khai tốt việc huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, phát triển
nhà trường.
- Xét về góc độ chính trị thì huy động cộng đồng chính là quá trình thực hiện xã
hội hoá giáo dục. Bởi vì có thể hiểu: Xã hội hoá giáo dục là huy động toàn bộ xã hội
+ Ngành giáo dục phải biết tận dụng vai trò của hội đồng giáo dục địa phương,
phải bám sát để biến nghị quyết của đại hội giáo dục các cấp thành thực tế.
+ Định hứơng và giám sát việc đa dạng hoá chương trình giáo dục; có cơ chế
hợp lý trong việc huy động xã hội nhằm đa dạng hoá nguồn đầu tư cho giáo dục trên
cơ sở chú trọng đến chất lượng, hiệu quả giáo dục, đảm bảo các nguyên tắc lợii ích,
chỉ như vậy xã hội hoá giáo dục và huy động cộng đồng cho trung tâm giáo dục
thường xuyên mới thực sự đi vào cuộc sống.
+ Các cấp quản lý giáo dục cần phải chỉ đạo các cơ sở giáo dục và triển khai xã
hội hoá giáo dục, huy động cộng đồng với các nội dung phù hợp đặc điểm của loại
hình giáo dục và điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương.
2.2. Một vài lưu ý khi triển khai xá hội hoá giáo dục và huy động cộng đồng đối
với trung tâm giáo dục thường xuyên
- Vị trí vai trò, nhiệm vụ của trung tâm giáo dục thường xuyên đã được luật
Giáo dục quy định trong đó nêu rõ mối quan hệ giữa trung tâm giáo dục thường xuyên
– gia đình – xã hội trong việc triển khai các hoạt động của trung tâm giáo dục thường
xuyên. Mặt khác quản lý giáo dục ở địa phương và quản lý giáo dục trung tâm giáo
dục thường xuyên phải bám sát nguyên tắc ngành – lãnh thổ. Như vậy, vai trò của hội
đồng giáo dục các cấp trong việc triển khai xã hội hoá giáo dục nói chung và huy động
cộng đồng nói riêng ở các trung tâm giáo dục thường xuyên là rất quan trọng. Trong 5
nội dung xã hội hoá giáo dục nêu ra ở trên thì nội dung cộng đồng hoá trách nhiệm của
các tổ chức xã hội cần được quan tâm đặc biệt và phát huy hiệu quả của nó. Một mặt
trung tâm giáo dục thường xuyên cần quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu, nguyện vọng
của người học, của cha mẹ học sinh, của cộng đồng xã hội và không ngừng phấn đấu
cho chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học cũng như tăng cường uy tín của trung tâm
giáo dục thường xuyên Mặt khác phải biết khai thác môi trường giáo dục thống nhất,
biết tận dụng sự đóng góp sức người, vật chất và sự ủng hộ của cộng đồng. Trong việc
huy động cộng đồng phải quán triệt tư tưởng dân biết, dân bàn, dân giám sát, kiểm
tra Khi huy động đóng góp phải quan tâm đến nguyên tắc lợi ích 2 chiều, nghĩa là sự
đóng góp đó là công khai, sử dụng có hiệu quả và không chỉ mang lại lợi ích cho trung
tâm giáo dục thường xuyên mà góp phần cải thiện điều kiện học tập cho học sinh và
vọng và lợi ích muốn được chia sẻ với trung tâm giáo dục thường xuyên và vì sự phát
của trung tâm giáo dục thường xuyên ở từng cơ sở và từng địa phương nhằm thực hiện
mục tiêu xã hội hoá giáo dục.
b. Các thành tố huy động cộng đồng:
* Mục đích huy động cộng đồng:
- Xây dựng các điều kiện thiết yếu phục vụ cho quá trình giáo dục ở trung tâm
giáo dục thường xuyên( Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên…)
- Tạo sự đồng thuận giữa trung tâm giáo dục thường xuyên – gia đình - địa
phương, góp phần nâng cao chất lượng phát triển giáo dục toàn diện, thực hiện mục
tiêu phát triển trung tâm giáo dục thường xuyên theo tinh thần xã hội hoá giáo dục.
* Nội dung huy động cộng đồng:
Nội dung huy động cộng đồng là để tạo ra nguồn lực phục vụ việc xây dựng và
phát triển trung tâm giáo dục thường xuyên. Có hai nguồn lực chính cần quan tâm
trong quá trình huy động cộng đồng:
- Nguồn lực vật chất bao gồm:Tài lực, vật lực, nhân lực, đất đai, trường sở,
trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập.
- Nguồn lực phi vật chất bao gồm: Việc tạo ra môi trường giáo dục thống nhất,
sự tham gia, sự ủng hộ chủ trương giáo dục, sự tư vấn, trao đổi thông tin, kinh nghiệm.
Qua tìm hiểu các nguồn lực nêu trên, quá trình huy động cộng đồng tham gia
xây dựng và phát triển trưng tâm thể hiện ở 3 nội dung sau:
- Huy động cộng đồng tham gia vào quá trình quyết định phương hứng phát
triển của trung tâm giáo dục thường xuyên.
-Huy động cộng đồng đóng góp các nguồn lực, vật lực để xây dựng các điều
kiện giáo dục tốt nhất ở trung tâm giáo dục thường xuyên.
- Huy động cộng đồng tham gia và ủng hộ vào việc phát triển các mối quan hệ
và xây dựng môi trường giáo dục phù hợp với sứ mạng của trung tâm giáo dục thường
xuyên.
* Đối tượng huy động cộng đồng:
Có 5 nhóm đối tượng huy động cộng đồng:
- Lãnh đạo Đảng, chính quyền xã, thôn: Đây là lực lượng quan trọng quyết định
trực tiếp, với chức năng nhiệm vụ của mình cũng cần chủ động huy động hoặc đề
xướng việc huy động thông qua việc tham mưu; biết phát huy nội lực, bởi vì họ sẽ
hiểu rõ hơn ai hết những nhu cầu phát triển trong hệ thống giáo dục của mình. Vì vậy,
trung tâm giáo dục thường xuyên phải giữ vai trò chủ động, nòng cốt trong cuộc vận
động và triển khai quá trình huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển
trung tâm giáo dục thường xuyên.
Tuy nhiên ta cũng cần chú ý, trong hoạt động huy động cộng đồng cụ thể, tuỳ
thuộc chức năng, trách nhiệm nhiệm của mình mà lực lượng xã hội này giữ vai trò chủ
thể huy động cộng đồng, nhưng trong hoạt động huy đồng công đồng khác họ lại có
thể là đối tượng được huy động. Xã hội hoá chương trình giáo dục là một cuộc huy
động toàn xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi nhân tố, mọi lực lượng xã hội.
Vì vậy, vai trò của các chủ thể huy động cộng đồng của lãnh đạo địa phương được
phát huy khi họ “ bật đèn xanh” cho việc huy động cộng đồng nhưng khi họ là đối
tượng tham mưu của cán bộ quản lý giáo dục nói chung, cán bộ quản lý trung tâm giáo
dục thường xuyên nói riêng thì họ trở thành đối tượng huy động cộng đồng.
- Các đối tác (gia đình, cha mẹ học sinh, hội cha mẹ học sinh ), đây là lực lượng
có nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích trực tiếp cùng chia sẻ với trung tâm giáo dục thường
xuyên, một đối tác quan trọng trong việc huy động cộng đồng của trung tâm giáo dục
thường xuyên. Đây cũng là lực lượng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện đối với học sinh. Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng đóng vai trò
“đối tượng huy động cộng đồng” mà rất nhiều trường hợp họ đóng vai trò “chủ thể
huy động cộng đồng”, họ thay mặt trung tâm giáo dục thường xuyên đứng ra huy động
cộng đồng cho trung tâm giáo dục thường xuyên nếu lãnh đạo trung tâm giáo dục
thường xuyên có lời và thuyết phục họ được thông qua nguyên tắc lợi ích và dân chủ
hoá . Trong trường hợp đó các đối tác nói chung trở thành chủ thể huy động cộng đồng
cho trung tâm giáo dục thường xuyên.
2.4. Các nguyên tắc huy động cộng đồng
- Nguyên tắc đồng thuận: Đó là việc khơi dạy và phát huy truyền thống hiếu
học, tôn trọng đạo lý, đề cao sự học, đề cao sự học vấn của mỗi gia tộc, dòng họ, nâng
cao lòng tự trọng vinh quang của gia tộc, dòng họ, lòng tự tin của cá nhân từ đó thuyết
hội hoá triển khai trong thực tế rất cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa địa phương và
ngành giáo dục. Đây là một nguyên tắc tạo định hướng cho các trung tâm giáo dục
thường xuyên phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả ngành dọc và cả địa phương
nơi trung tâm giáo dục thường xuyên đặt trụ sở.
Sáu nguyên tắc nêu trên chỉ ra tư duy tìm đối tượng trong cộng đồng để khai
thác các tiềm năng cho giáo dục. Tuy vậy, cũng phải tuỳ từng đối tượng, từng công
việc mà vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ
thể. Điều cần nhấn mạnh ở đây là kỹ năng giao tiếp với cộng đồng, sự tâm huyết với
sự nghiệp giáo dục của các chủ thể huy động cộng đồng là điều kiện quan trọng cho
việc thực hiện tư tưởng xã hội hoá giáo dục và huy động cộng đồng. Chính những
nguyên tắc này cho phép chúng ta sử dụng các mối quan hệ chính thức và không chính
thức trong việc phối hợp kết hợp với lãnh đạo của địa phương và các lực lượng xã hội,
tạo cho lãnh đạo các cơ sở Giáo dục và Đào tạo nói chung, trung tâm giáo dục thường
xuyên nói riêng một hành lang pháp lý dựa trên sự đồng thuận của địa phương nơi
trung tâm giáo dục thường xuyên đang phục vụ Muốn làm được điều này cán bộ
quản lý của các trung tâm giáo dục thường xuyên phải tham mưu tốt để lãnh đạo địa
phương ra thông báo đồng thuận hoặc tốt hơn là có Nghị quyết Hội đồng nhân dân địa
phương hay một quyết định của uỷ ban về vấn đề huy động cộng đồng.
- Nguyên tắc pháp lý: Sự vận động với các lực lượng trong quá trình huy động
cộng đồng tham gia giáo dục cần dựa trên cơ sở pháp lý vì xã hội hoá giáo dục của
Việt Nam phải được tiến hành dưới sự quản lý của nhà nước, do đó phải nắm chắc nội
dung các quy định từ Trung ương đến địa phương. Các cơ quan đoàn thể, các tổ chức
xã hội… cũng cần có những cơ sở pháp lý để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
và tham gia cùng làm giáo dục để họ vừa thấy: đấy vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ.
Tuy nhiên nội dung của nguyên tắc này nằm ở chỗ: mọi sự đồng thuận phải được thể
chế hoá tức được pháp lý hoá dưới dạng biên bản hay bản ghi nhớ của các đối tác huy
động để lời nói không bị gió bay.
2.5. Các biện pháp nhuy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển trung
tâm giáo dục thường xuyên
Trong thực tiễn triển khai huy động cộng đồng ở các địa phương, giám đốc
đồng địa phương qua việc khảng định uy tín, chất lượng của trung tâm giáo dục
thường xuyên:
- Bằng sự năng động, sáng tạo, tự thân vận động, phát huy nội lực của mình để
nâng cao chất lượng giáo dục, người giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên phải
phát huy năng lực, uy tín của mình.
- Có kế hoạch sử dụng các nguồn lực huy động được một cách hợp lý, đúng
mục đích và có hiệu quả nhất.
- Thực hiện dân chủ, công khai trong quản lý trung tâm giáo dục thường xuyên
và trong việc huy động cộng đồng.
* Phát huy vai trò các đầu mối quan hệ của trung tâm giáo dục thường xuyên:
Mỗi chương trình giáo dục và đào tạo ở trung tâm giáo dục thường xuyên đều
có các đầu mối hay giáo viên chủ nhiệm. Những người này có vai trò quan trọng trong
sự kết hợp giữa các đối tác và trung tâm giáo dục thường xuyên. Vì vậy việc bố trí
giáo viên dạy giỏi, có khả năng giao tiếp làm công tác quan hệ sẽ tạo uy tín với các đối
tác là điều kiện tốt để các đối tác đóng góp và tham gia xây dựng trung tâm giáo dục
thường xuyên. Cần chú trọng việc thường xuyên liên hệ giữa giáo viên đầu mối và các
đối tác; người liên đới về việc thông báo kết quả huy động cộng đồng của trung tâm
giáo dục thường xuyên. Có thể thực hiện bằng các hình thức:
- Qua bản tin chung của trung tâm giáo dục thường xuyên;
- Qua liên lạc giữa trung tâm giáo dục thường xuyên với đối tác;
- Qua hộp thư góp ý kiến của các đối tác;
- Qua cuộc họp (Khai giảng , tổng kết cuối năm…);
- Qua trao đổi trực tiếp giữa giáo viên đầu mối và cha mẹ học sinh, những người
liên đới, người có quan hệ lợi ích với trung tâm giáo dục thường xuyên;
- Qua phiếu điều tra đối với học sinh mới vào trung tâm giáo dục thường xuyên
- Có kế hoạch thăm hỏi giao lưu với các đối tác.
* Tận dụng những kinh nghiệm và tri thức của những người liên đới, các đối
tác, vận động họ tham gia hoạt động của giáo dục thường xuyên; tham gia huy động
cộng đồng cho trung tâm giáo dục thường xuyên (Phát huy ở họ không chỉ là vai trò
đối tượng huy động mà cả vai trò chủ thể huy động)
đó và người giám đốc của trung tâm đó. Vì vậy vai trò và ảnh hưởng của người đứng
đầu trung tâm là rất quan trọng, cần không ngừng tự phát triển mình để làm người đại
diện xứng đáng.
* Phân tích nhu cầu để không ngừng đáp ứng nhu cầu người học, của cộng đồng
địa phương và của xã hội là phương tiện hữu hiệu để huy động cộng đồng.Vấn đề này
được nêu chi tiết trong chuyên đề phát triển chương trình. Tuy nhiên với việc huy
động cộng đồng thì phân tích nhu cầu cần tới các đối tượng sau:
+ Mối quan hệ giữa trung tâm với các đối tác nói chung và với mục đích, mục
tiêu của các khoá học triển khai trong trung tâm.
+ Những thông tin về người học: đối tượng, đặc điểm
+ Các nhu cầu của xã hội đối với người học sau tốt nghiệp
+ Những ưu tiên giáo dục và đào tạo của trung tâm đang tiến hành
- Mục tiêu phân tích nhu cầu là để đáp ứng tốt nhất đối với người học nói riêng
và phát triển kinh tế xã hội của địa phương nói chung. Một khi trung tâm giáo dục
thường xuyên đáp ứng được nhu cầu của đối tác thì không lý gì các đối tác lại thờ ơ
với trung tâm;
- Các vấn đề hiện tạicủa cộng đồng của các địa phương chỉ có thể làm rõ khi
thực hiện phân tích nhu cầu một cách cẩn thận từ đó xác định nội dung hoạt động của
trung tâm đúng nhu cầu và đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả.
- Khi đáp ứng được nhu cầu cộng đồng xã hội địa phương thì nguồn nhân lực,
vật lực sẵn có ở cộng đồng sẽ hỗ trợ để triển khai các hoạt động của trung tâm và việc
huy động cộng đồng cho phát triển trung tâm ở địa phương dễ dàng được thực hiện.
- Thực chất trung tâm giáo dục thường xuyên là một thiết chế giáo dục xã hội;
trung tâm giáo dục thường xuyên là nơi tạo cơ hội phát triển xã hội học tập, nơi tổ
chức cho các thành viên của cộng đồng mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học
tập suốt đời, cùng nhau xác định và liên kết các nhu cầu và các nguồn lực để giải
quyết những vấn đề chung của cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống và xây dựng
phát triển cộng đồng. Vì vậy phân tích và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng địa phương
là phương tiện hữu hiệu để tạo môi trường cho trung tâm giáo dục thường xuyên thực
hiện huy động cộng đồng tốt nhất.
trương xây dựng, phát triển hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên cũng
như chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục thường xuyên.
- Cần phân cấp mạnh mẽ hơn nữa cấp quản lý cho các địa phương, mặt khác
lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có kế hoạch làm việc, trao đổi , bàn bạc chủ
trương với lãnh đạo tỉnh, thành phố về phát triển trung tâm giáo dục thường xuyên.
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên của ngành giáo dục với các ban
ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng và tổ chức hoạt động
của các cơ sở giáo dục thường xuyên; bám sát và đáp ứng nhu cầu thiết thực của xã
hội.
- Trong quá trình quản lý, luôn quan tâm giải quyết tốt vấn đề công bằng xã hội
trong giáo dục, sự mất cân đối về trình độ dân trí và nguồn nhân lực giữa các vùng
miền, sự bất bình đẳng về giới và các đối tượng bị thiệt thòi, có hoàn cảnh kinh tế - xã
hội khó khăn.
- Người cán bộ quản lý trung tâm giáo dục thương xuyên phải vừa là một nhà
giáo dục vừa là nhà kinh tế giỏi.
- Cần thực hiện tốt các nguyên tắc, các biện pháp huy động cộng đồng, xác định
rõ nguyên tắc lợi ích 2 chiều là nguyên tắc quan trọng để huy động cộng đồng có sức
sống và có thể duy trì được lâu dài.
2. Một số kiến nghị:
- Chính quyền các cấp cần quan tâm hơn về việc đầu tư cơ sở vật chất, con
người cho các trung tâm giáo dục thường xuyên.
- Cần bình đẳng hơn nữa về mọi mặt giữa giáo dục phổ thông và giáo dục
thường xuyên.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Bình Xuyên, tháng 4 năm 2015
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác
Người viết
Nguyễn Hữu Lạc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4. Chuyên môn: Cử nhân Công nghệ
5. Nhiệm vụ được phân công trong năm học: Phó Hiệu trưởng phụ trách cơ
sở vật chất, văn thể, ………….
II.Thông tin về sáng kiến kinh nghiệm
1. Tên sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp huy động cộng đồng tham gia
phát triển trung tâm giáo dục thường xuyên
2.Cấp học :GDTX
3. Mã lĩnh vực theo cấp học (Theo danh mục tại phụ lục 10): 93
4.Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2013 đến tháng 4/2015
5. Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm giáo dục thường xuyên Bình Xuyên
6.Đối tượng nghiên cứu: Trung tâm GDTX cấp tỉnh, cấp huyện thuộc tỉnh
Vĩnh Phúc
Ngày tháng năm 20 Ngày tháng năm
20
Ngày tháng năm 20
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký, ghi rõ họ tên, đóng
dấu)
Cao Thế Quang
TỔ TRƯỞNG/NHÓM
TRƯỞNG CHUYÊN
MÔN
(Ký, ghi rõ họ tên)
NGƯỜI ĐĂNG KÝ
(Ký, ghi rõ họ tên)
Nguyễn Hữu Lạc
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
………………………
………………………………………