Xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập chương VII lượng tử ánh sáng, vật lý 12 ban cơ bản trung học phổ thông nhằm phát huy tính tích cực của học sinh - Pdf 30



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THÚY NGA

XÂY DỰNG HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP
CHƯƠNG VII : LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG, VẬT LÝ 12 BAN CƠ BẢN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHẰM PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM VẬT LÝ
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
(BỘ MÔN VẬT LÝ)
Mã số: 60 14 01 11

ii

MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục bảng. iv
Danh mục biểu đồ iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY
DỰNG HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP PHẦN
LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12 THPT NHẰM
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH 5
1.1. Cơ sở lý luận của dạy học tích cực 5
1.1.1. Tính tích cực nhận thức 5
1.1.2. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lý 9
1.1.3. Phương pháp dạy học tích cực 13
1.3.4. Một số phương pháp dạy học tích cực 18
1.2. Bài tập vật lý 19
1.2.1. Khái niệm bài tập vật lý 19
1.2.2. Vai trò của bài tập trong dạy học vật lý 19
1.2.3. Phân loại bài tập vật lý 21
1.2.4. Phương pháp giải bài tập vật lý 23
1.2.5. Lựa chọn và sử dụng bài tập vật lý. 25
1.2.6. Định hướng giải bài tập vật lý 26
1.3. Thực trạng sử dụng BTVL hiện nay tại trường THPT Gia Viễn A 28
1.3.1. Đặc điểm tình hình của nhà trường: 28
1.3.2. Thực trạng việc hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý hiện nay tại
iv

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng thống kê điểm số 70
Bảng 3.2: Bảng thống kê số phần trăm học sinh đạt điểm X
i
70
Bảng 3.3: Bảng phân phối tần số tích lũy 71
Bảng 3.4: Bảng các thông số thống kê 72

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.3: Biểu đồ phân phối tần số tích lũy 71
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình dạy học vật lý ở trường phổ thông (THPT), ngoài việc
giảng dạy lý thuyết vật lý thì bài tập vật lý luôn giữ một vị trí đặc biệt quan
trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy học vật lý. Việc giải bài tập Vật lý
giúp củng cố đào sâu, mở rộng những kiến thức cơ bản của bài giảng, xây
dựng củng cố kỹ năng kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Giải bài tập
Vật lý cũng là một biện pháp hữu hiệu để phát triển năng lực tư duy của học
sinh. Sau khi giải các bài tập Vật lý, học sinh hiểu sâu sắc hơn các khái niệm,
định luật Vật lý, vận dụng chúng vào những vấn đề thực tế trong cuộc sống.
Hiện nay, dạy học Vật lý trong trường phổ thông chưa phát huy được
hết vai trò của bài tập Vật lý trong thực hiện các nhiệm vụ dạy học. Dạy học

ánh sáng” thuộc chương trình vật lý 12 THPT
- Ðề xuất một số phương pháp giải bài tập nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh.
- Ðiều tra khảo sát tính khả thi của những biện pháp được đề xuất. Xử
lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn vật lý chương VII
“Lượng tử ánh sáng” Vật lý 12 THPT
- Ðối tượng nghiên cứu: hệ thống và phương pháp giải bài tập chương
VII “Lượng tử ánh sáng” Vật lý 12 THPT
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về hệ thống và phương pháp
giải bài tập vật lý phần “Lượng tử ánh sáng” thuộc chương trình vật lý lớp 12
THPT. Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống và phương pháp giải bài tập nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh.
3

6. Mẫu khảo sát
Ðối tượng khảo sát: Học sinh lớp : 12B1,12B2 Trường THPT Gia Viễn
A- Ninh Bình.
7. Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để soạn thảo hệ thống bài tập và tổ chức hoạt động dạy
học chương VII“Lượng tử ánh sáng” Vật lý 12 THPT để góp phần phát huy
tính tích cực của học sinh?
8. Giả thuyết nghiên cứu
Xây dựng một cách hệ thống và đổi mới phương pháp giải bài tập
chương “Lượng tử ánh sáng” thuộc chương trình vật lý lớp 12 THPT, sử dụng
vào tiết học. Bài tập phù hợp với nội dung kiến thức của bài học sẽ làm phát
huy tích tích cực của học sinh trong quá trình học tập.
9. Phương pháp nghiên cứu


5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY
DỰNG HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG
LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12 THPT NHẰM
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH

1.1. Cơ sở lý luận của dạy học tích cực
1.1.1. Tính tích cực nhận thức
1.1.1.1. Tính tích cực nhận thức
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Con người
không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản
xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội,
chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội.
Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ
yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và
góp phần phát triển xã hội.
1.1.1.2. Tính tích cực học tập
Tính tích cực con người được thể hiện trong hoạt động, đặc biệt trong
những hoạt động chủ động của chủ thể.
Tính tích cực trong hoạt động học tập, về thực chất là tính tích cực
nhận thức và được đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực
cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình
nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa
biết đến mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích luỹ được. Tuy
nhiên, trong học tập học sinh cũng “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với
bản thân dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV.


học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Tính
tích cực tạo ra nếp tư duy độc lập. Tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo.
7

Sự biểu hiện và cấp độ từ thấp đến cao của tính tích cực học tập, mối liên
quan giữa động cơ và hứng thú trong học tập được diễn đạt trong sơ đồ sau:

thức của học sinh cần dảm bảo những nguyên tắc sau:
- Việc dạy học phải được tiến hành ở mức độ gắng sức đối với HS. Cần
phải lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhận thức tích cực, kích thích sự ham
hiểu biết của học sinh, có chú trọng đến năng lực và khả năng của học sinh
sao cho mỗi học sinh phải huy động hết mức trí lực của mình. Giáo viên
không nên làm cho hoạt động học tập trở nên khó khăn với học sinh bằng bài
tập tình huống khó mà phải tạo cho học sinh một chướng ngại nhận thức bằng
những bài tập sáng tạo và rèn luyện ý chí nhận thức.
- Việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế. Cần giúp học
sinh nắm vững một cách sâu sắc nội dung lý thuyết, đi sâu vào bản chất của
các hiện tượng và các chất nghiên cứu nhằm lĩnh hội những quan điểm và
khái niệm quan trọng nhất. Nội dung lý thuyết, khái niệm là cơ sở cho tư duy
hoạt động trí tuệ.
- Trong quá trình dạy học phải duy trì nhịp độ khẩn trương của việc
nghiên cứu tài liệu, còn những kiến thức đã lĩnh hội sẽ được củng cố khi
nghiên cứu kiến thức mới. Qua thực tế đã chứng minh việc dừng lại lâu để
nghiên cứu một nội dung học tập sẽ chóng làm học sinh mệt mỏi vì tính chất
đơn điệu của nó, nên khi học sinh đã hiểu một số vấn đề rồi thì phải chuyển
sang nghiên cứu vấn đề khác. Như vậy hoạt động của học sinh sẽ được liên
tục, không bị nhàm chán.
- Trong dạy học phải tích cực chăm lo sự phát triển trí tuệ của tất cả các
đối tượng học sinh (khá giỏi, trung bình, yếu kém). Giáo viên điều khiển, chỉ
đạo hoạt động trí tuệ của học sinh theo năng lực của họ làm cho học sinh tư
duy tích cực để vượt qua chướng ngại nhận thức bằng hoạt động tự lực, độc
lập.
Như vậy những nguyên tắc trên đều hướng tới các hoạt động điều khiển
9

của giáo viên nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong đó
có chú trọng đến việc dạy học sinh phương pháp học tập, phương pháp hoạt

- Về phương pháp: Coi trọng rèn luyện cho HS phương pháp tự học, tự
khám phá và giải quyết vấn đề, phát huy sự tìm tòi tư duy độc lập sáng tạo
của HS thông qua các hoạt động học tập. Trong các phương pháp học thì cốt
lõi là phương pháp tự học. Học sinh chủ động tham gia các hoạt động học tập.
Giáo viên là người tổ chức, điều khiển, động viên, huy động tối đa vốn hiểu
biết, kinh nghiệm của từng HS trong việc tiếp thu kiến thức và xây dựng bài
học.
- Về hình thức tổ chức: Không khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí lớp
học linh hoạt phù hợp với hoạt động học tập, đặc điểm của từng tiết học.
- Về kiểm tra đánh giá: Giáo viên đánh giá khách quan, học sinh tham
gia vào quá trình nhận xét đánh giá kết quả học tập của mình (tự đánh giá),
đánh giá nhận xét lẫn nhau. Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: biết,
hiểu, vận dụng.
- Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm
tòi, học sinh được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin
trong cuộc sống.
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, đặt vị trí của người học vừa là chủ
thể, vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa những
tiềm năng của từng người học. Do vậy vai trò tích cực, chủ động, độc lập sáng
tạo của người học được phát huy. Người giáo viên đóng vai trò là người tổ
chức, hướng dẫn động viên các hoạt động độc lập của học sinh, đánh thức các
tiềm năng của mỗi học sinh giúp họ chuẩn bị tham gia vào cuộc sống.
Như vậy bản chất của “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” là đặt
người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, chú trọng đến những
phẩm chất, năng lực riêng của mỗi người, họ vừa là chủ thể vừa là mục đích
cuối cùng của quá trình dạy học, phấn đấu cá thể hoá quá trình dạy học để cho
các tiềm năng của mỗi cá nhân được phát huy tối đa. Tư tưởng của quan điểm
11

này đã được thể hiện qua các định hướng chỉ đạo hoạt động dạy học ở nước ta

Biện pháp hoạt động hoá người học áp dụng trong dạy học vật lý là:
- Khai thác nét đặc thù môn vật lý tạo ra các hình thức hoạt động đa
dạng, phong phú của học sinh trong giờ học như:
+ Tăng cường sử dụng thí nghiệm vật lý, các phương tiện trực quan
(mô hình, tranh vẽ…), phương tiện kĩ thuật trong dạy học vật lý (máy chiếu,
máy tính, các phần mềm dạy học…).
+ Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động
phong phú của học sinh như: thí nghiệm, dự đoán lý thuyết, mô hình hoá, giải
thích, thảo luận nhóm… giúp học sinh được hoạt động tích cực chủ động.
- Tăng thời gian hoạt động của học sinh trong giờ học. Hoạt động của
giáo viên chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn điều khiển các hoạt động và
tư duy hay hoạt động nhóm. Giáo viên cần động viên học sinh hoạt động
nhiều hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức thụ động.
- Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động của học sinh thông qua việc
lựa chọn nội dung và hình thức sử dụng các câu hỏi, bài tập có sự suy luận,
vận dụng kiến thức một cách sáng tạo.
Như vậy tư tưởng chủ đạo của định hướng đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng hoạt động hoá người học là học sinh được phát huy tính tích
cực nhận thức học tập đến mức tối đa thông qua các hoạt động chủ động, độc
lập, sáng tạo trong giờ học.
1.1.2.3. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập tích cực,
chống lại thói quen học tập thụ động. Đổi mới nội dung và hình thức hoạt
động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới
hình thức tương tác xã hội trong dạy học với định hướng:
- Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy
học hợp tác hai chiều.
- Chuyển từ xu hướng dạy học “lấy GV làm trung tâm” sang quan điểm
dạy học “lấy HS làm trung tâm”, “hoạt động hóa người học”.
13


động, qua đó mà phát triển nhân cách người lao động tự chủ, năng động và
sáng tạo. Người học - đối tượng của hoạt động “dạy” đồng thời là chủ thể của
hoạt động “học”- được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và
chỉ đạo thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ.
- Dạy học có chú trọng rèn luyện kĩ năng, phương pháp và thói quen tự
học, từ đó mà tạo cho HS hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập, khơi
dậy những tiềm năng vốn có trong mỗi HS để giúp họ dễ dàng thích ứng với
cuộc sống của xã hội phát triển. PPDHTC xem việc rèn luyện phương pháp
học tập không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một
mục tiêu dạy học.
- Dạy học chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập của từng
học sinh, hoạt động hợp tác trong tập thể nhóm, lớp học thông qua tương tác
giữa GV với HS, giữa HS với HS. Bằng sự trao đổi, tranh luận, thể hiện quan
điểm của từng cá nhân, sự đánh giá nhận xét những quan điểm của bạn mà
học sinh nắm được kiến thức, cách tư duy, sự phối hợp hoạt động trong một
tập thể. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan
hệ hợp tác giữa các cá thể trên con đường chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng.
Thông qua thảo luận, tranh luận ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định
hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận
dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của HS, lớp học sẽ sinh động và kích
thích được sự hứng thú học tập nhờ sự động viên khích lệ của thầy, của bạn.
Học hợp tác làm tăng hiệu quả học tập nhất là khi xuất hiện nhu cầu phối hợp
giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong việc học hợp tác tính
cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, tính ỷ lại được uốn nắn, ý
thức tổ chức, tình bạn, tinh thần tương trợ được phát triển, lớp học sẽ trở nên
thân thiện hơn.
- Dạy học có sự phối hợp sử dụng rộng rãi các phương tiện trực quan
nhất là các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn, máy vi tính, phần mềm dạy
15

16

- Tổ chức các hoạt động trên lớp để học sinh hoạt động theo cá nhân
hoặc theo nhóm như: nêu vấn đề cần tìm hiểu, tổ chức hoạt động tìm tòi, phát
hiện tri thức và hình thành kĩ năng vật lý, kỹ năng nghiên cứu vật lý
- Định hướng điều chỉnh các hoạt động của học sinh: giáo viên có
nhiệm vụ làm chính xác hóa các khái niệm, kết luận, nhận xét về các hiện
tượng, bản chất của hiện tượng vật lý mà học sinh đã tự tìm tòi trong hoạt
động học tập của mình và thông báo thêm một số thông tin có liên quan đến
bài học mà học sinh không thể tự tìm tòi được qua hoạt động trên lớp
- Thiết kế và thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, thí
nghiệm vật lý, hiện tượng thực tế như là nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi,
phát hiện những kiến thức kỹ năng cần nghiên cứu, tiếp thu. Trong quá trình
tổ chức, điều khiển luôn tạo điều kiện để học sinh được bộc lộ và vận dụng
nhiều hơn những kiến thức đã có của mình để giải quyết các vấn đề học tập và
các vấn đề có liên quan đến vật lý trong đời sống sản xuất.
b. Đổi mới hoạt động học tập của học sinh
Quá trình học tập vật lý không phải là quá trình tiếp nhận một cách thụ
động kiến thức mà chủ yếu là quá trình tự học, tự nhận thức, tự khám phá, tìm
tòi các tri thức vật lý một cách chủ động, tích cực. Đó chính là quá trình tự
phát hiện và giải quyết các vấn đề hay là quá trình tập nghiên cứu khoa học
dưới sự điều khiển của giáo viên. Như vậy trong giờ học, học sinh được tiến
hành các hoạt động như:
- Tự phát hiện vấn đề hoặc hiểu được vấn đề, nhiệm vụ do giáo viên
nêu ra.
- Hoạt động cá nhân hoặc hợp tác theo nhóm để tìm tòi phát hiện vấn
đề, giải quyết các vấn đề đặt ra. Tuỳ theo nội dung và nhiệm vụ đặt ra mà học
sinh cần thực hiện các hoạt động như: dự đoán lý thuyết, làm thí nghiệm,
quan sát, mô tả hiện tượng, giải thích rút ra kết luận hoặc phán đoán, suy luận,
đề ra giả thuyết, trả lời câu hỏi, tìm dữ kiện để khẳng định hoặc bác bỏ giả

các hoạt động học tập có hiệu quả, chất lượng cao.
18

Các phương tiện dạy học được đa dạng hóa , không chỉ là phấn, bảng,
sách vở…mà còn là dụng cụ thí nghiệm, mô hình, mẫu vật, máy chiếu, bản
trong, máy tính, phần mềm ứng dụng dạy học. Phương tiện dạy học, thí
nghiệm vật lý được sử dụng như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát hiện,
thu nhận kiến thức.
d. Sử dụng phối hợp, linh hoạt các phương pháp đặc thù của vật lý
Với yêu cầu đổi mới quá trình dạy học vật lý, GV cần chú ý đến việc
khai thác các yếu tố tích cực trong từng phương pháp dạy học được sử dụng
để tạo điều kiện cho HS được hoạt động nhiều hơn, tích cực, chủ động hơn
trong giờ học. Sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực đóng
vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng dạy và học vật lý
Trong dạy học vật lý có nhiều phương pháp được sử dụng theo hướng
dạy học tích cực như: sử dụng các PPDH dạy học truyền thống theo hướng
tích cực, sử dụng thí nghiệm, phương tiện dạy học, sử dụng bài tập vật lý…,
tiếp thu có chọn lọc những phương pháp dạy học hiện đại như: dạy học kiến
tạo, dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, dạy học tương tác….
1.3.4. Một số phương pháp dạy học tích cực
- Nhóm phương pháp trực quan: Sử dụng thí nghiệm hay các phương
tiện trực quan theo PP nghiên cứu, để kiểm nghiệm giả thuyết, thí nghiệm đối
chứng, thí nghiệm nêu vấn đề…, sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng… để tổ
chức các hoạt động dạy học.
- Nhóm phương pháp thực hành: Về mặt hoạt động nhận thức thì các
PP thực hành là “tích cực” hơn các PP trực quan, các PP trực quan là “tích
cực” hơn các PP dùng lời .Trong nhóm các PP thực hành, HS được trực tiếp
tác động vào đối tượng (lắp dụng cụ thí nghiệm, làm thí nghiệm …) tự lực
khám phá tri thức mới.
19


được những ứng dụng muôn hình, muôn vẻ trong thực tiễn của các kiến thức
đã học.
Vật lý không phải chỉ tồn tại trong óc chúng ta dưới dạng những mô
hình trừu tượng do ta nghĩ ra mà là sự phản ánh vào trong óc chúng ta thực tế
phong phú, sinh động. Tuy nhiên các khái niệm, định luật vật lý thì đơn giản
còn biểu hiện trong tự nhiên của chúng thì lại rất phức tạp, bởi vì các sự vật,
hiện tượng có thể bị chi phối bởi nhiều định luật, nhiều nguyên nhân đồng
thời hay liên tiếp chồng chất lên nhau. Bài tập sẽ giúp luyện tập cho học sinh
phân tích để nhận biết được những trường hợp phức tạp đó.
Bài tập vật lý là phương tiện củng cố ôn tập kiến thức sinh động. Khi
giải bài tập, học sinh phải nhớ lại những kiến thức đã học, có khi phải sử dụng
tổng hợp của nhiều chương, nhiều phần chương trình.
b. Bài tập có thể là khởi điểm đầu để dẫn tới các kiến thức mới.
Nhiều khi các BTVL được sử dụng khéo léo có thể dẫn dắt HS đi đến
những suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới để
giải thích hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra.
c. Hình thành và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Bài tập vật lý là một trong những phương tiện rất quý báu giúp HS rèn
luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn; rèn luyện thói quen
vận dụng kiến thức khái quát đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề của
thực tiễn. Có thể xây dựng rất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó
yêu cầu HS phải vận dụng kiến thức lý thuyết để giải thích các hiện tượng
hoặc dự đoán hiện tượng có thể xảy ra trong thực tiễn ở những điều kiện cho
trước.
d. Một trong những hình thức làm việc tự lực cao
Trong khi giải BTVL, HS phải tự mình phân tích các điều kiện của bài
tập đặt ra, xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận rút
ra được nên tư duy của học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lực của
học sinh được nâng cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status