Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 30

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
USD Đô la Mỹ
EC Ủy ban châu Âu
EU Liên minh châu Âu
Istat Văn phòng Thống kê quốc gia Italia
Eurozone Các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu
ECB Ngân hàng Trung ương châu Âu
FESF Quỹ ổn định tài chính Châu Âu
GDP Tổng sản phẩm nội địa
Eurostat Văn phòng thống kê Liên minh châu Âu
FED Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ
BOE Ngân hàng Trung ương Anh
CDS Bảo hiểm rủi ro tín dụng
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1
EMS Quỹ cứu trợ dài hạn
ODA Viện trợ phát triển chính thức
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nhiều năm qua, châu Âu vẫn đang gặp vô vàn khó khăn trong việc tìm lời
giải cho những “núi nợ” công khổng lồ, có nguy cơ đổ ập xuống nền kinh tế sẵn đang
trong tình trạng trì trệ kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Mặc dù nhờ
các chương trình giải cứu quyết liệt và khổng lồ từ các chính phủ EU và IMF, cũng
như sự xóa nợ và giãn nợ của các tổ chức tài chính tư nhân lớn thì tình hình nợ công ở
2
Hy Lạp, và rộng hơn là ở châu Âu cũng đã tạm lắng, nhưng nó rất có thể sẽ bùng phát
trở lại vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào, với cường độ có thể còn nghiêm trọng hơn

Thứ nhất, giới hạn nợ công không vượt quá 50% – 60% GDP hoặc không vượt
quá 150% kim ngạch xuất khẩu. Ngân hàng Thế giới quy định ngưỡng an toàn nợ công
là 50% GDP, trong khi nhiều tổ chức quốc tế cho rằng, tỷ lệ nợ hợp lý đối với các nước
đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP.
Thứ hai, dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và dịch
vụ trả nợ của Chính phủ không vượt quá 10% chi ngân sách. Tuy nhiên, trên thực tế
không có hạn mức an toàn chung cho các nền kinh tế. Không phải tỷ lệ nợ công/GDP
thấp là trong ngưỡng an toàn và ngược lại. Mức độ an toàn của nợ công phụ thuộc vào
tình trạng mạnh hay yếu của nền kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Mỹ
có tỷ lệ nợ công bằng 96% GDP nhưng vẫn được xem là ở ngưỡng an toàn bởi năng
suất lao động của Mỹ cao nhất thế giới là cơ sở bảo đảm bền vững cho việc trả nợ.
Tính đến năm 2010, nợ công Nhật Bản đã xấp xỉ 200% GDP nhưng thực tế cho thấy
Nhật Bản chưa bao giờ phải lo lắng về vấn đề nợ công của mình. Trong khi đó, nhiều
nước có tỷ lệ nợ/GDP thấp hơn rất nhiều nhưng đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ
4
như: Venezuela năm 1981 với tỷ lệ nợ công chỉ là 15% GDP; Thái Lan năm 1996 với
tỷ lệ nợ công là 40% GDP; Argentina năm 2001 với tỷ lệ nợ công là 45% GDP.
Thứ ba, đánh giá nợ công trong mối liên hệ với các tiêu chí kinh tế vĩ mô. Để
đánh giá đúng mức độ an toàn của nợ công không thể chỉ quan tâm đến tỷ lệ nợ/GDP,
mà cần phải xem xét nợ một cách toàn diện trong mối liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô, nhất là tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động tổng hợp, hiệu
quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), tỷ lệ thâm hụt ngân sách, mức tiết kiệm nội địa
và mức đầu tư xã hội… Bên cạnh đó, những tiêu chí như cơ cấu nợ công, tỷ trọng các
loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ… cũng cần được xem xét khi đánh giá nợ
công. Khi nợ công tăng cao, vượt quá xa giới hạn được coi là an toàn, nền kinh tế rất
dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép cả bên trong và bên ngoài.
1.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công
Nợ công phát sinh do các cấp chính quyền chi tiêu nhiều hơn thu nên phải vay
nợ để bù đắp chênh lệch thu chi. Thông thường, nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm
hụt ngân sách chính phủ và qui mô nợ công đúng bằng qui mô thâm hụt ngân sách tích

quốc tế. Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng
của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn
hợp tác kinh tế song phương. Biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều
nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển, nhất là cơ sở hạ tầng.
1.3.2 Tác động tiêu cực
Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài
trợ ngoài nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sát
chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí
tràn lan. Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư và điều
quan trọng hơn là giảm thu cho ngân sách. Nhận biết những tác động tích cực và tiêu
cực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong
xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công.
6
CHƯƠNG 2
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở CHÂU ÂU
2.1 Diễn biến cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu
2.1.1 Những dấu hiệu của cuộc khủng hoảng nợ công
2.1.1.1 Tăng trưởng GDP
Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP thực tế từ năm 2000 đến năm 2010
(% thay đổi so với năm trước)
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
EU-27 3.9 2.0 1.2 1.3 2.5 2.0 3.3 3.0 0.5 -4.3 1.8
Euro
area
3.8 1.9 0.9 0.8 2.2 1.7 3.1 2.8 0.4 -4.2 1.8
Japan 2.9 0.2 0.3 1.4 2.7 1.9 2.0 2.4 -1.5 -6.3 4.0
7
Mỹ 4.1 1.0 1.8 2.5 3.5 3.1 1.7 1.9 -0.3 -3.5 3.0
Nguồn: Eurostat
Nhìn vào bảng số liệu ở trên, tăng trưởng GDP của các nước khối Eurozone

Tình trạng nợ công ở Nhật Bản là một
ví dụ điển hình cho việc tỉ lệ nợ công cao nhưng
chưa xảy ra khủng hoảng nợ công. Nợ công ở Nhật Bản hiện nay đã
gấp 2 lần tổng sản phẩm quốc nội, với tỉ lệ nợ cao hơn Hy Lạp đến 50%.
Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là 95% nợ công của Nhật Bản
nằm trong tay các nhà cho vay nội địa, nên
Tokyo vẫn chưa trải qua một cuộc khủng hoảng nợ công như
Hy Lạp đã trải qua năm 2010. Trong khi đó, các nhà đầu
tư nước ngoài hiện không có phương tiện gây áp lực buộc chính phủ Nhật Bản phải
tiến hành tu bổ ngành tài chính. Trên thực tế, mặc dù có tỉ lệ nợ công cao nhưng thế
mạnh của Nhật Bản là tiết kiệm nội địa vẫn đủ sức để bù đắp cho những chi tiêu hoang
phí.
Bên cạnh đó, giá trị của đồng Euro cũng bị sụt giảm nghiêm trọng kể từ năm
2010. Trước cuộc khủng hoảng nợ công, đồng Euro đã từng lấn át vị thế của USD, tiếp
đó là khi khủng hoảng thị trường cho vay dưới chuẩn của Mỹ khiến cho tỷ trọng USD
và Euro được thu hẹp trong tỷ lệ dự trữ ngoại hối toàn cầu. Tuy nhiên, giá trị đồng
Euro lại bị suy yếu khi cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra. Cụ thể, dự trữ ngoại tệ toàn
cầu tính bằng đồng euro so với USD năm 2008 đến 2011 lần lượt là 41,3% ; 43,1%;
42,6% và 44,1%. Tỷ giá hối đoái giữa Euro và USD từ năm 2008 đến năm 2011 là 1,47
; 1,39 ; 1,33 ; 1,40. Như vậy trong năm 2010, giá trị đồng Euro bị sụt giảm nghiêm
trọng nhưng đến năm 2011, đồng tiền này đang trên đà phục hồi.
2.1.2 Giai đoạn bùng nổ nợ công 2010 đến nay
9
Thâm hụt ngân sách chính phủ khu vực đồng Euro là 6,2%, con số này năm
2009 là 6,4%. Điều này được lý giải vì năm 2010, Hy Lạp đã dùng nhiều biện pháp để
giảm thâm hụt ngân sách cũng như trả nợ nước ngoài. Cũng trong năm 2009, nợ chính
phủ trong khu vực này là 79,8% và năm 2010 là 85,4%. Trong đó, thâm hụt ngân sách
năm 2010 của Ireland là (-31,3% ), Hy Lạp là (-10,6% ), Bồ Đào Nha là (-9,8%).
Năm 2011, thâm hụt ngân sách của 17 quốc gia thuộc khối Eurozone là 4,1%
GDP, nợ chính phủ là 87,2% GDP. Trong đó, cổ phiếu chiếm 79,3% nợ chính phủ,

Bảng 2.2: Nợ công và thâm hụt ngân sách nhóm PIIGS 2006-2011 (% GDP)
2006 2007 2008 2009 2010 2011

Nợ
công
Thâm
hụt
Nợ
công
Thâm
hụt
Nợ
công
Thâm
hụt
Nợ
công
Thâm
hụt
Nợ
công
Thâm
hụt
Nợ
công
Thâm
hụt
Bồ Đào
Nha 64,7 -3,9 63,6 -2,6 66,3 -2,8 76,8 -9,4 85,8 -8,5 91,1 -7,9
Ireland 24,9 3,0 25,0 0,1 43,9 -7,3 64,0 14,3 98,6 -32,0

ban đầu. Một số quan chức các chính phủ châu Âu
đang xem xét tới khả năng lựa chọn các đề xuất cho
phép Hy Lạp “vỡ nợ tạm thời”. Những giải pháp này có
thể được gói ghém sao cho dù có thể khiến Hy Lạp rơi
vào vỡ nợ tạm thời nhưng sẽ không đủ để tạo ra một “sự
kiện tín dụng”, nghĩa là không đủ để cấu thành lý do khiến các nhà phát hành các hoán
đổi rủi ro tín dụng (CDS-credit default swaps) phải tiến hành chi trả, như vậy giảm bớt
tổn thất đối với các định chế tài chính.
Nhưng phía Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) lại không muốn Hy Lạp bị
hạ xếp hạng tín nhiệm xuống khu vực vỡ nợ. ECB lập luận rằng điều đó có thể phát ra
tín hiệu xấu về độ tin cậy của các trái phiếu do chính phủ châu Âu khác phát hành,
đồng thời nếu trái phiếu chính phủ Hy Lạp bị xếp vào hạng vỡ nợ thì sẽ hạn chế khả
năng ECB chấp nhận các trái phiếu của Hy Lạp làm tài sản cầm cố trong trường hợp hỗ
trợ thanh khoản cho các ngân hàng nước này. Điều đó đồng nghĩa hệ thống ngân hàng
Hy Lạp gặp nguy cơ thiếu thanh khoản và có thể sụp đổ vì Hy Lạp không thể tự in tiền
ra.
Vào ngày 21/7/2011: lãnh đạo các nước thành viên Eurozone đã thống nhất
dành cho Hy Lạp gói cứu trợ thứ 2 trị giá 158,6 tỷ euro nhằm giúp nước này thoát khỏi
nguy cơ vỡ nợ. Trong tổng số 158,6 tỷ euro này có 109 tỷ euro đến từ các nước thành
viên khối Eurozone và Quỹ tiền tệ thế giới IMF, trong đó 49,6 tỷ Euro còn lại do khu
13
vực tư nhân đóng góp. Bên cạnh đó, quỹ ổn định tài chính Châu Âu (FESF) cũng tuyên
bố sẽ kéo dài thời gian trả nợ của Hy Lạp. Trên thực tế, kế hoạch giải cứu này cũng
không giúp được Hy Lạp nhiều trong việc giảm thâm hụt ngân sách và cán cân vãng
lai.
Thâm hụt ngân sách của Hy Lạp là 9,6% GDP và tỷ lệ nợ công là 156,8% GDP.
Những con số trên cho thấy tình trạng nợ công của Hy Lạp ngày càng trầm trọng mặc
dù Hy Lạp cũng như cộng đồng quốc tế đã nỗ lực hết sức. Trong 3 năm qua, kể từ năm
2009 đến 2011, nợ công của Hy Lạp tăng khoảng 59 tỷ euro, lạm phát tăng cao dẫn đến
những bất ổn về kinh tế, chính trị. Vì vậy, năm 2012 là một thách thức lớn đối với quốc

đệm của ngân hàng và quỹ dự trữ lương hưu 17,5 tỷ Euro để trang trải cho khoản thâm
hụt ngân sách. Phần còn lại 85 tỷ euro được chia đều cho quỹ bình ổn tài chính Châu
Âu và IMF. Khoản vay này có lãi suất là 5,83% cao hơn mức lãi suất này dành cho Hy
Lạp là 5,2%. Do thị trường tài chính gặp nhiều bất ổn, giá trái phiếu giảm sâu, lãi suất
tăng cao. Tại Ireland, giá trái phiếu giảm trong khi lãi suất trái phiếu chính phủ thời
hạn 10năm đã lên tới 9,17%. Mức lãi suất tăng cao càng chứng tỏ sự bất ổn của nền
kinh tế đó. Nếu như so sánh lãi suất trái phiếu chính phủ Đức, lãi suất của Ireland cao
hơn 619 điểm cơ bản tức 6,19%. Vào ngày 11/11/2010, mức chênh lệch là 6,52%. Tính
đến đầu năm 2010, tổng số tiền viện trợ mà Ireland nhận được là 113 tỷ USD. Trong
năm 2011, với những cứu trợ từ quốc tế và nỗ lực cắt giảm chi tiêu của chính phủ,
Ireland đã giảm được thâm hụt ngân sách và tăng trưởng GDP. Cụ thể như sau, tăng
trưởng GDP của Ireland trong 3 quý đầu năm 2011 là 1,8% ; 1,9% ; 1,6%.Tăng trưởng
trong cả năm chỉ đạt mức 1%. Thâm hụt cán cân vãng lai trong quý 2 và 3 là 8,2%
GDP và 10,3% GDP. Nợ chính phủ của Ireland quý 2 là 102,3% GDP và quý 3 là
104,9% GDP, nợ chính phủ trong cả năm chiếm tới 107% GDP.
Hình 2.3: Tỷ lệ nợ công/GDP ở một số nước châu Âu năm 2010 (%)
Tháng 3/2012: Ireland thỏa thuận tham gia chương trình hoán đổi nợ đáo hạn
lấy trái phiếu chính phủ dài hạn. Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, năm 2012
16
có thể Ireland sẽ chìm trong suy thoái. Tăng trưởng GDP của nước này là 0,5% thay vì
1,8% như dự báo trước đó.
Năm 2013: Ireland ngày 15/12 đã trở thành quốc gia đầu tiên trong Khu vực sử
dụng đồng Euro (Eurozone) chính thức rời khỏi chương trình cứu trợ quốc tế của bộ
tam Liên minh châu Âu (EU), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Quỹ Tiền tệ
Quốc tế (IMF) được thực hiện suốt ba năm qua, sau khi tiếp nhận đợt giải ngân cuối
cùng trị giá 890 triệu USD từ IMF.
Ireland là nước đầu tiên trong khu vực phải xin cứu trợ và cũng trở thành quốc
gia đầu tiên thoát khỏi khủng hoảng nợ công. Hy vọng đây sẽ là sự “mở hàng” thuận
lợi ở Eurozone trong bối cảnh kinh tế khu vực này bắt đầu xuất hiện những “tia sáng
cuối đường hầm”.

đề nước này gặp phải không phải do chi tiêu quá tay mà do thị trường bất động sản và
tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
Bất động sản được coi là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công tại Tây
Ban Nha. Theo số liệu thống kê, giá trị bất động sản ở Tây Ban Nha đã tăng lên 200%
kể từ năm 1985 đến nay. Năm 2008 xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác
động không nhỏ đến thị trường bất động sản của nước này, khiến cho thị trường bất
động sản dễ vỡ hơn bao giờ hết. Trong thời kỳ thị trường nhà đất phát triển, các ngân
hàng tăng cho vay và coi đây như một khoản lợi khổng lồ mà không xem xét đến các
khoản vay dưới chuẩn. Trong đó, có những khoản vay với thời hạn dài đến 40, 50 năm.
Chính vì vậy, khi thị trường bất động sản bị khủng hoảng, các ngân hàng không còn
khả năng thu hồi vốn. Không chỉ ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng, khủng hoảng thị
trường nhà đất còn ảnh hưởng đến thị trường lao động nước này. Tỷ lệ các công trình
xây dựng giảm đồng nghĩa với việc tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
Năm 2010: Ngân hàng trung ương Tây Ban Nha công bố tỷ lệ nợ công nước này
năm 2010 là 639 tỷ Euro, tăng 6,8% so với năm 2009. Đây là tỷ lệ nợ công cao nhất
18
của nước này kể từ năm 1999. Tỷ lệ thất nghiệp tính đến quý 3 năm 2010 là 7,4% trong
tổng số lao động tính từ 20 tuổi đến 64 tuổi.
Năm 2011: tăng trưởng GDP đạt mức 0,8% GDP. Nợ công đạt mức 68,2%
GDP, thâm hụt ngân sách ở mức 8,5% GDP vượt mục tiêu đề ra là 6%. Đồng thời,
ngân hàng trung ương nước này cũng cho biết, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng nước này
đã tăng hơn 6,1% lên mức 110,7 tỷ Euro, cao nhất trong 16 năm qua.
Năm 2013: Ngân hàng trung ương Tây Ban Nha mới công bố số liệu cho thấy
nợ công của nước này trong năm 2013 đã tăng lên tới 961,555 tỷ Euro (1.317,426 tỷ
USD), tương đương 94,02 % tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước này. Như vậy,
nợ công trong năm 2013 của Tây Ban Nha - bao gồm các khoản nợ của các chính
quyền trung ương, khu vực và địa phương - tăng 8,7 %, từ con số 884,664 tỷ euro trong
năm 2012. Theo thống kê hàng tháng, sau hai tháng liên tục giảm, nợ công của Tây
Ban Nha trong tháng 12/2013 đã tăng thêm 9,542 tỷ Euro so với tháng 11/2013.
Ông Luis de Guindos, Bộ trưởng Kinh tế Tây Ban Nha, cho biết sức cạnh tranh

Với cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, nó bắt đầu từ nửa sau năm 2009 với sự
gia tăng mức nợ công của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ireland, Italia, Hy Lạp và Tây
Ban Nha). Một trong những tác động ban đầu gây nên sóng gió nợ công này đó là cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra vào năm 2008 xuất phát từ khủng hoảng tín dụng
và nhà đất ở Mỹ, sự tác động mạnh mẽ tới các nước thành viên EU. Để cứu vãn nền
kinh tế, các quốc gia đều phải tăng chi tiêu công, biến các khoản nợ tư nhân thành nợ
công. Hệ quả là sau thời điểm này, nợ công của EU có xu hướng tăng vọt, điển hình là
ở Hy Lạp và Italia đều ở mức trên 115% vào năm 2009. Và nguyên nhân chính dẫn đến
cuộc khủng hoảng nợ công là do chính sách tài khóa thiếu bền vững và sự mất cân đối
trong việc vay nợ của các quốc gia. Để phân tích rõ ràng về cuộc khủng hoảng này nên
xét ở nhiều khía cạnh và nhiều nguyên nhân khác nhau.
2.2.1.1 Nguyên nhân bên trong
20
Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ Hy Lạp: Chính phủ Hy Lạp phạm sai lầm trong
quản lý và không trung thực khi thông báo số liệu kinh tế trong nhiều năm. Khoảng
30% hoạt động của nền kinh tế đều có gian lận, 90% người có thu nhập cao khai thu
nhập dưới 30000 Euro/năm nhằm tránh nộp thuế. Chính sự mất niềm tin làm cho Hy
Lạp khó khăn trong giải quyết khủng hoảng, bất kì quyết định nào của chính phủ liên
quan đến ngân sách đều bị hoài nghi. Tiếp đó là việc Hy Lạp miễn thuế cho các Nhà
thờ, các Nhà thờ ở đây không phải chi trả bất cứ một đồng nào trong việc sử dụng đất
đai mặc dù diện tích đó là rất lớn.
Chính sách tín dụng dễ dãi trong khu vực EMU trong suốt một thập kỉ trước khi
diễn ra khủng hoảng: Vào thời kì này, việc các nước thành viên có cơ hội thu hút các
khoản vốn lớn với lãi suất thấp đã kích thích các quốc gia áp dụng chính sách đòn bẩy
tài chính cao, tín dụng liên biên giới phát triển mạnh, khuyến khích hoạt động vay và
cho vay với rủi to cao (David Cayla, 2013). Lãi suất của nhiều quốc gia giảm mạnh,
với lãi suất thời hạn 3 tháng giảm từ 22% xuống 3% ở Hy Lạp, từ 15% xuống 3% ở
Tây Ban Nha và Italia. Lãi suất thấp đã dẫn đến hoạt động cho vay quá mức và các
khoản chi tiêu hào phóng trong suốt gần một thập kỷ.Các nhà kinh tế đều cho rằng
khủng hoảng nợ công châu Âu là do chi tiêu của chính phủ quá lớn, thậm chí là chi tiêu

Keynes- chính sách kích cầu. Duy trì được sự ổn định tài chính vĩ mô, giám sát chặt
chẽ các hoạt động của hệ thống tài chính.
Sự thiếu minh bạch trong việc quản lý: Vào tháng 3/2000, theo tiêu chuẩn kế
toán mới, người ta đã phát hiện ra rằng, thâm hụt thực sự của Hy Lạp vào năm 1998 là
3,2% chứ không phải 2,5%. Đến năm 2004, một báo cáo khác lại chỉ ra con số thâm
hụt của Hy Lạp vào năm 1998 là 4,3% bởi Hy Lạp đã nhập nhằng tiền chi tiêu mua
sắm công với viện trợ chính phủ tới 2 tỉ Euro. Không những vậy, Hy Lạp còn cố ý
không hạch toán một số khoản chi cho quân sự cũng như y tế. Ngược lại, quốc gia này
lại xem một số khoản viện trợ từ châu Âu là các khoản thu của chính phủ. Tháng
3/2004, Hy Lạp công bố thâm hụt ngân sách là 2,6 tỉ Euro tương đương 1,7%, thấp hơn
22
nhiều so với mức trung bình của EU là 2,7%. Nhưng cuối cùng, dưới áp lực từ châu
Âu, Hy Lạp đã công bố là bị thiếu hụt 3,2%. Bốn tháng sau đó, quốc gia này cũng thừa
nhận đã bỏ qua một số khoản chi tiêu quân sự, tính cao lên giá trị thặng dư an sinh xã
hội cùng lãi suất thấp đi, nên con số thực phải là 4,6%.
2.2.1.2 Nguyên nhân bên ngoài
Chiến dịch tấn công làm suy yếu đồng Euro: Ngay từ tháng 02/2010, Bộ trưởng
xây dựng Tây Ban Nha José Blanco cho rằng có một chiến dịch tấn công đồng Euro
trên các thị trường thế giới mà mục tiêu là nhằm vào Tây Ban Nha. Giới đầu cơ đang
thực hiện chiến dịch hạ thấp đồng Euro và kiếm lời.Họ chủ yếu đầu cơ trong ngắn hạn.
Các cơ quan đánh giá rủi ro trái phiếu vào thi trường tài chính: trong khi lãi suất
trái phiếu chính phủ của các nước đang ổn định ở mức thấp thì chỉ trong vài tuần đã có
sự biến động mạnh. Cơ quan đánh giá Standard & Poor’s và Fitch bắt đầu đánh giá nợ
của Hy Lạp, hạ thấp trái phiếu của nước này thành trái phiếu rác. Kể từ đó, lãi suất trái
phiếu của chính phủ Hy Lạp không ngừng tăng, thị trường chứng khoán Hy Lạp liên
tục giảm. Cuối tháng 04/2010 Moody’s cảnh báo nợ công của chính phủ Hy Lạp và hạ
trái phiếu của Hy Lạp. Trái phiếu 10 năm lãi suất tăng lên 8,74% và trái phiếu lãi suất 2
năm tăng lên 10%, sau đó là Standard& Poor’s tiếp tục hạ trái phiếu chính phủ làm
tăng lãi suất trái phiếu 10 năm lên 10 %. Joseph Stiglitz cho rằng các cơ quan đánh giá
rủi ro này đã góp phần vào sự bất ổn của các thị trường, đẩy các nước vào khủng

Một sai lầm nghiêm trọng nữa là sự giả định rằng Ngân hàng Trung ương châu
Âu ECB có thể tạo ra ổn định kinh tế lâu dài. ECB không làm được điều này. Nếu các
chính phủ vẫn tiếp tục tranh cãi, điều lớn nhất mà ECB có thể làm là trì hoãn kịch bản
xấu nhất. các chính phủ châu Âu đang được khuyến cáo sử dụng “thỏa thuận ngừng
bắn” tài chính mà ECB đang muốn hỗ trợ họ. Việc cho phép thỏa thuận này hết hạn mà
không đạt được sự tiến bộ hướng tới sự ổn định lâu dài có thể khiến châu Âu vấp phải
những gián đoạn, sẽ làm giảm đáng kể những triển vọng cho sự ổn định kinh tế, tăng
trưởng và tạo việc làm lâu dài.
24
2.3 Tác động của cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu
2.3.1 Đối với các quốc gia thành viên
2.3.1.1 Khủng hoảng hệ thống ngân hàng
Cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu hiện nay nổ ra mà điển hình tại Hy Lạp là
do giới ngân hàng và bảo hiểm mua những giấy nhận nợ của chính phủ để cung cấp
nguồn tín dụng dồi dào cho hoạt động chi tiêu của nhà nước. Do nhà nước không có
khả năng trả được khoản nợ này, nợ công bùng nổ. Hậu quả là các ngân hàng trong
nước không thể thu hồi được khoản cho vay của mình và phải cắt giảm nắm giữ trái
phiếu chính phủ quốc gia có tỷ lệ nợ công cao bằng cách bán tháo trái phiếu. Khi sự cắt
giảm này áp dụng đối với quốc gia nào thì lãi suất trái phiếu chính phủ quốc gia đó
tăng lên để thu hút nguồn vốn. Như vậy, khủng hoảng nợ công làm cho khả năng hút
vốn của chính phủ giảm, chi phí khoản vay tăng lên, lại gây áp lực lên lãi suất thị
trường.
Khủng hoảng ngân hàng đã nổi lên như nguy cơ mới đối với sự liên kết của khu
vực đồng Euro và Liên minh châu Âu (EU). Cộng hòa Síp, một trong những thành viên
nhỏ nhất của EU đã thừa nhận có thể phải tìm kiếm một khoản cứu trợ cho các ngân
hàng của họ, cùng với Tây Ban Nha, Síp đang sa vào khủng hoảng ngân hàng do nền
kinh tế và các ngân hàng của họ phụ thuộc nặng nề vào Hy Lạp.
2.3.1.2 Sự tổn thương đồng Euro
Nếu như năm 2008, 1 Euro đổi được gần 1,6 USD do tăng trưởng kinh tế khu
vực Eurozone cao cũng như tình hình tài chính Mỹ suy yếu thì đến năm 2009, 1 euro


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status