BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THƯƠNG CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
TIẾNG VIỆT LỚP 5 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUỐC TẾ TẠI
VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2015 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRẦN THỊ THƯƠNG
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học
sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 ở các trường tiểu học quốc tế tại Việt Nam” là kết
quả nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả trong luận văn này không trùng lặp với bất kì kết quả nào
khác và chưa từng được ai công bố trước đây.
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014
Học viên Trần Thị Thương
3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 5
2.2.2. Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng học tập Tiếng Việt 80
2.2.3. Bồi dưỡng vốn sống cho HS 113
CHƯƠNG 3 BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN VÀ
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT LỚP 5 Ở TRƯỜNG TIỂU
HỌC QUỐC TẾ VIỆT NAM - SINGAPORE 117
3.1. Những biện pháp phát hiện và bồi dưỡng đã áp dụng 117
3.1.1. Những biện pháp phát hiện học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 đã được áp
dụng 118
3.1.2. Những biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi đã được áp dụng 119
3.2. Kết quả thu được 122
3.3. Bài học sư phạm 126
KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
PHỤ LỤC 131
5
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Dịch nghĩa
CTVH Cảm thụ văn học
GV Giáo viên
HS Học sinh
HSG Học sinh giỏi
LTVC Luyện từ và câu
TLV Tập làm văn
1.4. Trong số các môn học ở tiểu học, môn Tiếng Việt có tầm quan trọng
nhất định và có thời lượng lớn. Vì vậy, công tác phát hiện và bồi dưỡng học
sinh giỏi. Tiếng Việt lớp 5 cần được quan tâm và chú ý đặc biệt. Để có được
các thành quả về giáo dục học sinh nói chung hay những thành tích cao của
học sinh giỏi nói riêng, các nhà trường phải có sự quan tâm, chú ý từ các buổi
học hằng ngày. Việc giáo dục học sinh hằng ngày cũng như hình thức tổ chức
phải phong phú và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh mới đem lại
hiệu quả trong giáo dục.
1.5. Trong những năm qua, các nhà trường ở tiểu học luôn chú trọng đến công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi khối lớp 5. Thực trạng cách thức phát hiện và bồi
dưỡng học sinh giỏi khiến chúng ta chưa thực sự yên tâm. Nhiều giáo viên
mới chỉ chú trọng đến việc thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ bồi dưỡng học
sinh mà chưa thực sự có kĩ năng phát hiện học sinh có năng khiếu cũng như
chưa có biện pháp để học sinh bộc lộ hết năng khiếu của mình. Bên cạnh biện
pháp bồi dưỡng học sinh giỏi, các biện pháp phát hiện học sinh giỏi đóng vai
trò quan trọng không kém nhưng nhiều giáo viên chưa đầu tư lâu dài cho việc
phát hiện học sinh có năng khiếu. Vì thế, việc bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng
Việt nhiều khi vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Trước thực tế
trên việc nghiên cứu các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng
Việt càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
1.6. Với xu thế hiện nay, các trường tiểu học quốc tế, song ngữ hoặc và các
trường có yếu tố nước ngoài mở ra ngày càng nhiều. Các em học tập trong
môi trường này cũng rất đa dạng, từ học sinh người nước ngoài, học sinh có
bố hoặc mẹ là người nước ngoài tới học sinh thuần Việt. Việc học tập trong
những môi trường tích hợp như vậy, học sinh có điều kiện tốt để học tập các
môn ngoại ngữ, các nền văn hóa khác nhau trên thế giới Nhưng ngược lại,
trong những môi trường quốc tế, các em cũng gặp phải không ít khó khăn khi
8
học tập Tiếng Việt. Việc bồi dưỡng HSG Tiếng Việt ở các trường quốc tế tại
cho học sinh lớp 5” với các đề ôn luyện được biên soạn tương ứng với các
tuần học trong sách giáo khoa Tiếng Việt. Mỗi tuần có một đề tổng hợp nội
dung của các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn,
được học trong tuần đó. Các bài tập được lựa chọn kĩ càng, ngữ liệu vui tươi,
thú vị phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học. Ngoài các bài
tập cơ bản, bộ sách còn có một số bài tập khó giúp nâng cao năng lực tiếng
Việt cho học sinh.
Cũng với mục đích tương tự, tác giả Trần Mạnh Hưởng và Lê Hữu
Tỉnh đã biên soạn cuốn “Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5” đáp ứng nhu
cầu luyện tập trau dồi kiến thức và kĩ năng của những học sinh khá giỏi lớp 5.
Cuốn sách gồm 35 đề dành cho học sinh luyện tập. Mỗi đề gồm có 4 bài tập,
được thiết kế theo mô hình đề thi hoặc kiểm tra, đánh giá học sinh khá giỏi ở
Tiểu học. Nội dung các bài tập nhằm củng cố vững chắc những kiến thức, kĩ
năng về dùng từ, đặt câu, cảm thụ văn học, làm văn; bám sát nội dung của 35
tuần thực học được thể hiện trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5.
Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt đã được đề cập trong nhiều
tài liệu cũng như nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt
Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về các biện pháp phát hiện
học sinh giỏi tiếng Việt cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói
riêng, đặc biệt là các trường Quốc tế. Rải rác trong một số bài báo, trong một
vài trang giáo trình hay chuyên đề giảng dạy đã đề cập đến vấn đề phát hiện
học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học nhưng chưa mang tính hệ thống, mà chỉ
nêu ra một cách chung chung có tính định hướng
10
Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 6, 1999 có bài viết “Phát hiện và bồi
dưỡng HS tiểu học có năng khiếu tiếng Việt” của tác giả Hoàng Hòa Bình.
Bài viết có đề cập đến các biện pháp phát hiện học sinh có năng khiếu tiếng
Việt nhưng mới đưa ra một số biện pháp chung chung. Trong luận án Tiến sĩ
“Các biện pháp tạo hứng thú cho HS nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tiếng
trong dạy học.
- Áp dụng thử nghiệm vào một số địa bàn dạy học cụ thể.
5. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung vào các biện pháp cụ thể, chưa quy hoạch
thành các chiến lược phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi môn Tiếng Việt theo
đơn vị cấp học. Khối lớp được chọn là lớp 5 thuộc các trường tiểu học song
ngữ, quốc tế tại Việt Nam.
- Luận văn chỉ khảo sát thực tiễn và tài liệu trong nước.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu chủ yếu bằng các phương pháp:
- Phương phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa lý thuyết
- Phương quan sát, điều tra, phỏng vấn.
- Phương pháp thống kê.
12
7. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu áp dụng một cách khoa học và linh hoạt các biện pháp mà luận văn
đề xuất, người GV tiểu học tại các trường song ngữ, quốc tế có thể phát hiện
được và bồi dưỡng được những lớp HSG môn Tiếng Việt lớp 5, góp phần vào
việc bồi dưỡng năng lực chuyên biệt cho các em theo định hướng phát triển
năng lực.
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận.
Mở đầu: Nêu lí do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu vấn đề, mục đích
nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi, giới hạn nghiên cứu, phương
pháp nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu và bố cục của luận văn
Nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Những tiền đề lý luận và thực tiễn của việc phát hiện và bồi dưỡng
học sinh giỏi tiếng Việt lớp 5
đạo hoặc trong lĩnh vực lí thuyết chuyên biệt. Những người này đòi hỏi sự
phục vụ không theo trường lớp thông thường nhằm phát triển hết năng lực của
họ.” (Wikipedia, the free encyclopedia – Academy for Gifted children). Bách
khoa toàn thư Encarta Encyclopedia cũng khẳng định: “Giáo dục học sinh
14
giỏi là một lĩnh vực đặc biệt liên quan đến việc giảng dạy cho những học sinh
có năng lực khác thường”.
Cơ quan giáo dục Hoa Kỳ miêu tả khái niệm HSG như sau: “Đó là
những học sinh có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các
lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật hoặc các lĩnh vực
lý thuyết chuyên biệt. Những học sinh nay thể hiện khả năng đặc biệt của
mình ở các bình diện xã hội, văn hóa và kinh tế.” (Education of Gifted
Students Encarta Encyclopedia.2005).
Như vậy, theo quan niệm của nhiều nước: Học sinh giỏi là những đứa
trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo nghệ thuật và năng lực
lãnh đạo hoặc các lĩnh vực lý thuyết. Học sinh giỏi cần có sự phục vụ và học
tập trong những điều kiện đặc biệt để phát triển các năng lực sáng tạo của
họ.
1.1.1.2. Đặc điểm của học sinh giỏi
- Về kiến thức
HSG, có năng khiếu thường thể hiện vốn sống tương đối rộng lớn. Đôi
khi, trẻ có thể có nhiều những kiến thức xã hội.
Trẻ có thể thích các công ty, các tập đoàn lớn và có thể mơ ước về một
vị trí công việc trong tương lai Nếu trẻ có những suy nghĩ, ước mơ như vậy,
cha mẹ và thầy cô đừng vội cho là hão huyền, không thực tế. Hãy định hướng
cho trẻ con đường để thực hiện ước mơ.
- Về trình độ nhận thức, tư duy
HSG có khả năng tốt để xây dựng và xử lí những vấn đề trừu tượng.
15
học sinh, nhưng nó cũng thể hiện được tương đối khả năng mà học sinh có
được.
HSG cần thể hiện được một kết quả học tập tốt. Nhiều HSG, có năng
khiếu còn có khả năng học vượt cấp.
1.1.2. Khái niệm học sinh giỏi Tiếng Việt và đặc điểm của học sinh giỏi
môn Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.2.1. Khái niệm học sinh giỏi Tiếng Việt
Từ khái niệm về HSG, chúng tôi thống nhất khái niệm: Học sinh giỏi
Tiếng Việt là những học sinh có năng lực nổi trội, có biểu hiện về khả năng
hoàn thành xuất sắc các hoạt động về lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, đặc biệt là
có khả năng chuyên biệt trong học tập và nghiên cứu Tiếng Việt. Như vậy học
sinh giỏi Tiếng Việt có kiến thức tiếng Việt cơ bản, vững vàng, sâu sắc và hệ
thống, biết vận dụng linh hoạt và sáng tạo kiến thức tiếng Việt vào tình huống
mới, có năng lực tư duy khái quát và sáng tạo. Đồng thời có kĩ năng thực
nghiệm thành thạo và năng lực nghiên cứu tiếng Việt.
1.1.2.2. Đặc điểm của học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở Tiểu học
- Về kiến thức tiếng Việt
HSG Tiếng Việt có vốn kiến thức Tiếng Việt cơ bản, vững vàng, sâu
sắc và có hệ thống. Các tri thức tiếng Việt được học sinh thể hiện chủ yếu qua
hai phần: Cảm thụ văn học, Tập làm văn. Nhưng, HSG Tiếng Việt muốn thể
hiện tốt trong hai phần trên thì cần có kiến thức hệ thống và vững vàng trong
17
phân môn Tập đọc,Chính tả, Luyện từ và câu. Đó chính là cơ sở để học sinh
vận dụng trong Cảm thụ văn học và Tập làm văn.
Ví dụ:
Để phát hiện ra cái hay, cái đẹp và giá trị của một đoạn thơ, văn thì các
em cần có kĩ năng phân tích từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật của văn bản.
Đó là những kiến thức học sinh được tìm hiểu trong phân một Luyện từ và
câu.
Cảnh bình minh nơi đâu cũng đẹp. Đó là khi mặt trời còn bẽn lẽn núp
sau sườn núi, những tia nắng dịu dàng đã bắt đầu xuyên thủng màn sương
bao phủ núi đồi. Đó là buổi hừng đông với những tia nắng hồng nhảy nhót
trên mặt biển. Đó là khi tầng tầng lớp lớp bụi hồng ánh sáng đã ùa ra khắp
phố phường
Nếu không có cái nhìn đa chiều đối với sự vật, chắc chắc em học sinh
này không thể tạo ra những hình ảnh sinh động như thế.
- Về hệ thống kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt
+ Biết cách tìm con đường ngắn để sớm đi đến kết luận cần thiết cũng
như biết xây dựng những dẫn chứng, ví dụ và loại bỏ những yếu tố không cần
thiết. Biết quay lại điểm xuất phát để tìm ra con đường đi mới.
+ Biết sử dụng thành thạo kĩ năng đọc, hiểu văn bản.
19
Ví dụ: Cách ngắt nhịp đúng trong câu thơ sau là:
Yêu hơn / cả cầu ao mẹ thường đãi đỗ
Là cây cầu này / ảnh chụp xa xa
Theo cách ngắt nhịp này, ta hiểu chiếc cầu mà bạn nhỏ yêu quý nhất là
chiếc cầu trong ảnh. Có rất nhiều học sinh không biết ngắt nhịp mà sử dụng
cách ngắt Yêu hơn cả / cầu ao mẹ thường đãi đỗ như vậy là dẫn đến hiểu sai
về ý nghĩa của câu thơ.
+ Học sinh có khả năng trình bày, diễn đạt một cách lưu loát, chính xác
và trọn vẹn vấn đề.
+ Học sinh có năng lực vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết vấn
đề liên quan. Điều này thể hiện rõ trong việc vận dụng các kiến thức đã học
trong phân môn Chính tả, Luyện từ và câu vào làm văn.
+ Biết thu gọn và sắp xếp trật tự, hệ thống các vấn đề trình bày.
Ví dụ: Sắp xếp sự vật theo trình tự thời gian, trình tự không gian
- Về ý thức, thái độ khi nói, viết Tiếng Việt
+ Có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện những kiến thức đã thu được ngay
mang tính độc đáo vì nó phụ thuộc vào nhu cầu, hứng thú, tâm thế và cá tính
của chủ thể. Hoạt động tư duy mang tính sáng tạo vì nó đem lại những sản
phẩm mới.
21
Tư duy được chia thành ba loại như sau:
- Tư duy trực quan – hành động (tư duy thực hành);
- Tư duy trực quan – hình ảnh (tư duy hình ảnh);
- Tư duy từ ngữ – logic (tư duy lí luận).
Ba loại tư duy này có sự liên hệ mật thiết với nhau. Trong đó, tư duy
trực quan – hành động là tư duy ở mức độ thấp, tư duy trực quan – hình ảnh là
tư duy ở mức độ cao hơn, còn tư duy từ ngữ – logic là tư duy ở mức độ phát
triển cao nhất.
Tư duy của học sinh lớp 5 vẫn còn mang đậm màu sắc cảm xúc và
chiếm ưu thế ở hình thức tư duy trực quan – hành động. Ở các em, phẩm chất
tư duy đang chuyển dần từ tính cụ thể, trực quan sang tính trừu tượng, khái
quát. Năng lực tư duy của các em được phát triển tùy thuộc vào tính chất của
phương thức dạy học. Trong cuốn “Các dạng khái quát hóa trong dạy học”
(NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000), V.V. Đavưđôv khẳng định: Nội dung
của sách giáo khoa và các tài liệu học tập cần được sắp xếp sao cho khi học
sinh làm việc với chúng, các em sẽ đi đến sự khái quát hóa tương ứng. Tương
tự, trong các sách hướng dẫn dạy học cần có những gợi ý, chỉ dẫn chi tiết cho
giáo viên, giúp họ biết chú trọng phương pháp dạy học nêu vấn đề để phát
triển tư duy cho học sinh, giúp học sinh có khả năng tư duy ở mức độ cao
hơn, bộc lộ sự độc đáo và sáng tạo hơn.
1.1.3.1.2. Đặc điểm tưởng tượng của học sinh lớp 5
Tưởng tượng là một quá trình xây dựng nên những biểu tượng mới dựa
trên cơ sở những biểu hiện đã có. Tưởng tượng là một quá trình phản ánh caí
mới, cái chưa hề có trong kinh nghiệm của cá nhân người phản ánh cũng như
22
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài
người. Ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng: nói và viết. Cùng diễn đạt một nội
dung nào đó bằng phương tiện ngôn ngữ, có thể sử dụng dạng nói hoặc dạng
viết tùy theo yêu cầu, mục đích, đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp.
Tuy nhiên, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ dạng viết có những sự khác biệt. Về
mặt từ vựng, ngôn ngữ dạng nói thường ở dạng tỉnh lược, ngắn gọn hơn ngôn
ngữ dạng viết nhưng lại thường không gọt dũa, hàm súc bằng ngôn ngữ dạng
viết; về mặt ngữ pháp, cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nói thường phức tạp
và biến hóa hơn cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ viết. Hai dạng ngôn ngữ này
còn khác nhau ở cả những điểm nằm ngoài bản thân hệ thống ngôn ngữ: ngôn
ngữ dạng viết không tận dụng được các yếu tố kèm ngôn ngữ (ngữ điệu,
giọng điệu, vẻ mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, ) như ngôn ngữ dạng nói.
Khắc phục điều này ở mức độ nhất định, ngôn ngữ dạng viết phải dựa vào hệ
thống dấu câu, các phép liên kết câu, các biện pháp tu từ về câu, Nhưng trái
lại, ngôn ngữ dạng nói không chỉ ra được đường biên của câu và đoạn một
cách rõ ràng, mạch lạc như ngôn ngữ dạng viết. Như vậy, ngôn ngữ dạng nói
và ngôn ngữ dạng viết khác nhau về cách thức tạo ra lời nói và theo đó là cách
thức tiếp nhận lời nói. Người có khả năng nghe, nói tốt chưa chắc đã có khả
năng đọc, viết tốt và ngược lại, nếu như không rèn luyện cả bốn kĩ năng nghe,
nói, đọc, viết cùng với việc tiếp nhận những đơn vị kiến thức cần thiết về
ngôn ngữ học.
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1
bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và
bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ
phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh
và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.