LỜI MỞ ĐẦU
Để tồn tại và phát triển trong một môi trường luôn có sự biến động
không ngừng thì các quốc gia cũng như bản thân mỗi doanh nghiệp trong
quốc gia đó phải xác định sẵn cho mình rằng phải cạnh tranh và chỉ có cạnh
tranh với nhau. Thế nhưng cạnh tranh như thế nào bằng cách nào là câu hỏi
không dễ trả lời. Cạnh tranh được hình thành từ rất sớm, gắn liền với quá
trình hình thành và phát triển của nền sản xuất xã hội và đây là một vấn đề đã
được nhiều nhà kinh tế học bàn tới cho tới nay. Qua mỗi giai đoạn phát triển
khác nhau, con người đã có cái nhìn khác nhau về cạnh tranh nhưng nó đã
ngày càng được nhận thức một cách hoàn thiện và đầy đủ hơn bởi cạnh tranh
là một vấn đề được quan tâm hàng đầu có ý nghĩa lớn không chỉ trong phạm
vi doanh nghiệp mà có tầm ảnh hưởng quan trọng đến mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, cạnh tranh là một lĩnh vực tương đối mới, các doanh nghiệp
đang dần dần học các cạnh tranh với nhau. Các doanh nghiệp luôn cố gắng
tạo ra những ưu thế tuyệt đối, những sự khác biệt, những nét nổi trội hơn đối
thủ cạnh tranh với mình để từ đó chủ động trong mọi tình huống. Cạnh tranh
sẽ làm ai mạnh sẽ mạnh hơn và ai yếu sẽ yếu hơn, do vậy trên thương trường
sẽ chỉ tồn tại những doanh nghiệp nào thích ứng được với việc cạnh tranh.
Nói đến cạnh tranh chúng ta có thể hiểu là cạnh tranh giữa các quốc gia
với nhau, cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh giữa những doanh nghiệp
trong từng ngành thuộc các thành phần kinh tế. Trong khuôn khổ chuyên đề
này, em xin được đi sâu về vấn đề cạnh tranh trong ngành. Sau một thời gian
thực tập tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Nha Khoa DETEC-NSK, em
đã chọn ra được đề tài “Nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Răng-Hàm giả của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển Nha Khoa
DETEC-NSK”
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT 46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
Nhận thấy đây không phải là vấn đề mang tính chất thời sự song nó lại là
yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nói chung
cũng như Công ty nói riêng.
CHƯƠNG I :CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
I. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC LOẠI HÌNH
CẠNH TRANH
1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung hay cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái
niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả
phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành hay phạm vi quốc gia hoặc phạm vi
khu vực liên quốc gia v.v…điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra
ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia. Trong khi đối với một doanh
nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh
quốc gia hay quốc tế thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống
và phúc lợi cho nhân v.v…
Cạnh tranh có nhiều cách hiểu nhưng để đơn giản hoá thì cạnh tranh đó
là sự cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường
cạnh tranh. Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là quan hệ mâu thuẫn giữa các
cá thể có chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thể
cùng quan tâm. Trong hoạt động kinh tế thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh
tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những
điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó
thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản
xuất với người tiêu dùng (Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng
muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt
hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất
và tiêu thụ.
* Cạnh tranh trong kinh tế giữa các doanh nghiệp
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
Là việc sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các cơ hội của doanh
nghiệp để giành lấy phần thắng về mình trước các doanh nghiệp khác trong
quá trình kinh doanh, bảo đảm cho doanh nghiệp phát triển nhanh chóng và
2. Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng
và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển
góp phần vào sự phát triển kinh tế. Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích đặc biệt
là cho người tiêu dùng. Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm
có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa
học công nghệ trong đó cao hơn.v.v..để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu
dùng. Cạnh tranh làm cho người sản xuất năng động hơn nhạy bén hơn, nắm
bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường
xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuat, các nghiên
cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức
trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất. Đó chính là
cạnh tranh lành mạnh, ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì
thường trì trệ, kém phát triển .
Ngoài mặt tích cực thì cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không
mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện
sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi
cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi
phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại...) dùng các thủ đoạn vi
phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội và sự can thiệp của nhà
nước.
Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng
thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích
hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội.
3. Các công cụ cạnh tranh
* Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Là tổng thể những chỉ tiêu, thuộc tính của sản phẩm thể hiện ở mức độ
không còn được đảm bảo hay không thoả mãn nhu cầu khách hàng thì ngay
lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp.
Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
việc tăng khả năng cạnh tranh thể hiện trên nhiều giác độ.Chất lượng sản
phẩm tăng lên sẽ thu hút được khách hàng, tăng đựơc khối lượng hàng hoá
tiêu thụ, tăng uy tín sản phẩm mở rộng thị trường, từ đó tăng doanh thu, đảm
bảo hoàn thành các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
* Cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm
Giá cả sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người
bán hay doanh nghiệp bán dự định có thể nhận được từ người mua thông qua
trao đổi hàng hoá đó trên thị trường. Giá cả của sản phẩm phụ thuộc vào các
yếu tố sau:
- Các yếu tố kiểm soát được gồm chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí bán
hàng, chi phí lưu động và chi phí yểm trợ xúc tiến bán hàng.
- Các yếu tố không kiểm soát được như quan hệ cung cầu, cường độ
cạnh tranh trên thị trường, chính sách điều tiết thị trường của Nhà nước.
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua các chính sách
định giá bán sản phẩm trên thị trường, một doanh nghiệp có thể có các chính
sách định giá sau:
* Chính sách định giá thấp.
- Đây là cách định giá bán thấp hơn mức giá thị trường. Chính sách định
giá thấp có thể hướng vào các mục tiêu khác nhau, đựơc chia ra các cách khác
nhau.
+ Định giá thấp hơn thị trường nhưng cao hơn giá trị sản phẩm, doanh
nghiệp chấp nhận mức lãi thấp. Được ứng dụng trong trường hợp sản phẩm
mới thâm nhập thị trường, cần bán hàng nhanh với khối lượng lớn, hoặc dùng
giá để cạnh tranh với các đối thủ.
+ Định giá bán thấp hơn giá thị trường và thấp hơn giá trị sản phẩm:
phục vụ cho các nhóm đối tượng khác nhau.
+ Phân biệt theo phương thức thanh toán: Thanh toán ngay hoặc trả
chậm, thanh toán bằng tiền mặt hay chuyển khoản.
+ Phân biệt theo thời gian: Tại các thời điểm khác nhau, giá cả cũng
khác nhau.
* Chính sách bán phá giá.
- Định mức giá bán thấp hơn giá thị trường và thấp hơn cả giá thành sản
xuất. Mục tiêu của bán phá giá đó là tối thiểu hoá rủi ro hay thua lỗ hoặc để
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
tiêu diệt đối thủ cạnh tranh. Muốn đạt đựơc mục tiêu này đòi hỏi doanh
nghiệp cần phải có tiềm lực về tài chính, về khoa học công nghệ sản phẩm đã
có uy tín trên thị trường. Bán phá giá chỉ nên áp dụng khi sản phẩm bị tồn
đọng quá nhiều, bị cạnh tranh gay gắt hay lạc hậu không phù hợp với nhu cầu
tiêu dùng, sản phẩm mang tính thời vụ, dễ hỏng, càng để lâu càng lỗ lớn.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội thì mức sống
của người dân không ngừng nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh
quan trọng nhất của doanh nữa nhưng nếu doanh nghiệp biết kết hợp công cụ
giá với các công cụ cạnh tranh khác thì kết quả thu được sẽ rất to lớn.
* Cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm
Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, sản xuất tốt
chưa đủ để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình, mà còn phải
biết tổ chức mạng lưới bán hàng đó là tập hợp các kênh đưa sản phẩm hàng
hoá từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng sản. Thông thường kênh tiêu thu sản
phẩm của doanh nghiệp được chia thành 4 loại sau:
A
B
C
D
chung là “ Ai sản xuất thì người đó phục vụ kỹ thuật”. Tốt hơn nữa là chuẩn
bị việc phục vụ kỹ thuật sớm hơn việc cung cấp sản phẩm đó ra thị trường.
Doanh nghiệp sẽ bán được nhiều sản phẩm khi khách hàng cảm thấy yên tâm
rằng sản phẩm đó đảm bảo chất lượng ngay cả khi quan hệ mua bán đã chấm
dứt. Dịch vụ sau bán hàng thường áp dụng đối với trường hợp sau:
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
+ Sản phẩm mang tính kỹ thuật cao.
+ Đơn giá sản phẩm cao
+ Sản phẩm đựơc bán đơn chiếc
+ Người mua không am hiểu tính năng và cách sử dụng của sản phẩm.
+ Sản phẩm chiếm lĩnh thị trường nhiều.
Nội dung của dịch vụ sau bán hàng gồm:
+ Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hàng hoặc đổi lại
hàng nều sản phẩm không đúng với thoả thuận ban đầu hay không thoả mãn
nhu cầu của họ.
+ Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định.
+ Cung cấp các dịch vụ bảo dưỡng, kỹ thuật cho các sản phẩm có tuổi
thọ dài.
Phương thức thanh toán cũng là công cụ cạnh tranh được nhiều doanh
nghiếp sử dụng. Phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay chậm chễ ảnh
huởng đến công tác tiêu thụ, do đó ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ và do đó
ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
- Yếu tố thời gian.
Những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ làm thay đổi
nhanh chóng cách nghĩ, cách làm việc của con người tạo thời cơ cho mỗi
người mỗi đất nước tiến về phía trước. Đối với các doanh nghiệp yếu tố quyết
định trong chiến lược kinh doanh hiện tại là tốc độ chứ không phải là yếu tố
cổ truyền như nguyên vật liệu hay lao động v.v.. muốn chiến thắng trong cuộc
cạnh tranh này, các doanh nghiệp phải biết tổ chức nắm bắt thông tin nhanh
Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ
thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc
cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua
phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá họ cần.
- Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm
giành giật khách hàng lẫn thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi
cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức,
không chịu được sức ép sẽ phải rút khỏi thị trường, nhường thị phần của mình
cho các đối thủ mạnh hơn.
* Căn cứ theo phạm vi nghành kinh tế
Cạnh tranh được phân thành hai loại.
- Cạnh tranh trong nội bộ nghành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch
vụ. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho khoa học kỹ thuật phát triển.
- Cạnh tranh giữa các nghành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong các nghành kinh tế với nhau, nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong
quá trình này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các nghành,
kết quả hình thành lên tỷ suất lợi nhuận bình quân.
* Căn cứ vào tính chất cạnh tranh
Cạnh tranh được phân thành 3 loại.
- Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán
trên thị trường, trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng nhất, tức là
không khác nhua về quy cách, phẩm chất mẫu mã. Để chiến thắng trong cuộc
cạnh tranh này các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá
thành hoặc làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so với đối thủ cạnh tranh.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh của những người
doanh nghiệp tư nhân mới đăng ký trong những năm gần đây đã tăng rất
nhanh, vì vậy đã giải quyết đáng kể việc làm cho người lao động đồng thời
cũng tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp đặc biệt là những
doanh nghiệp cùng ngành.
1.2. Môi trường chính trị, luật pháp
Trong quan hệ với các cơ quan chức năng của Nhà nước, các doanh
nghiệp hoặc là rất dễ dàng hoặc là rất khó khăn. Về phần mình, cũng không
hiếm các doanh nghiệp kinh doanh còn chưa có quan điểm dài hạn, kinh
doanh theo kiểu “chộp giật”, thậm chí lừa đảo (kinh doanh đa cấp), quảng cáo
thiếu trung thực, làm hang giả, hang nhái, lừa dối khách hàng, cạnh tranh
không lành mạnh…Như vậy, tự các doanh nghiệp cũng góp phần làm cho
môi trường kinh doanh của mình xấu đi, làm cho chính phủ mất lòng tin…Để
ngăn chặn tình trạng này, trong những năm qua Quốc hội đã thông qua Luật
Cạnh tranh, Chính phủ đã cho thành lập Cục Cạnh tranh, Cục Tiêu chuẩn, đo
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
lường, chất lượng, Cục vệ sinh và an toàn thực phẩm…Thích ứng với quản lý
nền kinh tế thị trường, các cơ quan kiểu như vậy của Chính phủ đang được
hình thành nhanh chóng và ngày càng nhiều tạo ra môi trường cạnh tranh lành
mạnh.
1.3. Môi trường khoa học công nghệ
Thời đại ngày nay là thời đại của khoa học công nghệ, nắm bắt được
khoa học công nghệ là một đảm bảo cho sự thành công. Khoa học công nghệ
là nhân tố tạo nên sự khác biệt giữa các sản phẩm về chất lượng và chi phí
(giá thành) của sản phẩm qua đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đối với các nước đang phát triển, giá cả và chất lượng có ý nghĩa ngang nhau.
Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay, công cụ cạnh tranh chuyển từ cạnh tranh về
giá sang cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ
có hàm lượng khoa học và công nghệ cao.
Sự tham gia của Việt Nam vào thị trường thế giới trong bối cảnh toàn
thị trường thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ tăng.
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
2. Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
Michael Porter đã đưa ra mô hình 5 lực lượng cạnh tranh
Một doanh nghiệp ít khi là người bán duy nhất trên thị trường. Sản phẩm
và dịch vụ của họ không chỉ nhằm đáp ứng một loại khách hàng. Họ thường
xuyên phải đối phó với các áp lực của cạnh tranh và sự đòi hỏi của khách
hàng. Một thị trường có thể có quy mô và tốc độ tăng trưởng như mong muốn
nhưng vẫn không hấp dẫn nếu sự cạnh tranh của thị trường đó quá gay gắt
hoặc quyền thương lượng của các nhóm khách hàng và các lực lượng khác là
quá cao.
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
Đe doạ từ sự gia nhập của
đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đe doạ của sản phẩm thay
thế
Cạnh tranh giữa
các hãng trong
ngành
Cạnh tranh giữa
các hãng trong
ngành
Cạnh tranh giữa các
hãng trong ngành
Sức ép từ phía khách
hàng
Sức ép từ phía nhà
cung cấp
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
cả và lợi nhuận tương lai cho thị trường. Khả năng thay thế của sản phẩm
càng cao, giá cả và lợi nhuận có xu hướng giảm xuống. Tiến bộ khoa học kỹ
thuật luôn đóng vai trò quan trọng số một trong việc tao ra các sản phẩm thay
thế này.
2.4. Mối đe doạ về quyền thương lượng của khách hàng
Một thị trường mà quyền lực (sức mạnh) thị trường của khách hàng lớn,
thì thị trường đó được coi là kém hấp dẫn. Khi khách hàng có quyền thương
lượng cao họ sẽ tìm cách giảm giá bán, đòi hỏi chất lượng hàng hoá cao hơn,
dịch vụ sau khi bán nhiều hơn trong các giao dịch và ký kết hợp đồng đẩy
những người bán vào thế cạnh tranh gay gắt hơn, chi tiêu nhiều hơn cho hoạt
động kinh doanh, khả năng sinh lời thấp và giảm dần. Quyền lực thương
lượng của khách hàng thể hiện ở:
- Số lượng người mua ít, khối lượng mua hàng của họ chiếm tỷ trọng lớn
trong sản lượng sản phẩm bán ra của doanh nghiệp;
- Sản phẩm không có gì khác biệt;
- Chi phí chuyển đổi nhà cung ứng thấp
- Khách hàng nhạy cảm về giá
- Khả năng lien kết giữa các khách hàng lớn
2.5. Mối đe doạ từ phía nhà cung ứng
Thị trường nào có những người cung ứng đầu vào (nguyên liệu, thiết bị,
vốn) có khả năng tăng giá, cắt giảm số lượng và chất lượng hàng hoá và dịch
vụ mà họ cung ứng hoặc áp đặt các điều kiện liên quan đến giao dịch thì có
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
thể coi là thị trường kém hấp dẫn. Nếu hoạt động kinh doanh ở thị trường như
vậy, các doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng chi phí sản xuất cao, cơ hội thu lợi
nhuận thấp. Nhiều trường hợp, doanh nghiệp sẽ rơi vào thế bị động trong việc
thực hiện các đơn đặt hàng.
3. Các chiến lược cạnh tranh chung
Trong quá trình đối phó với năm lực lượng cạnh tranh, có ba cách tiếp
phương pháp khác biệt hoá sản phẩm được thể hiện dưới nhiều hình thức: sự
điển hình về thiết kế hoặc danh tiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính
của các sản phẩm, dịch vụ khách hàng, và những khía cạnh khác. Cần phải
nhấn mạnh rằng chiến lược khác biệt hoá không cho phép công ty bỏ qua yếu
tố chi phí, tuy nhiên chi phí không phải là mục tiêu chiến lược co bản
Khác biệt hoá sản phẩm, nếu đạt được, sẽ là chiến lược tạo khả năng cho
công ty thu được tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân bởi vì nó tạo nên một
vị trí chắc chắn cho công ty trong việc đối phó với năm lực lượng cạnh tranh,
dù theo một cách khác so với chiến lược nhấn mạnh chi phí. Khác biệt hóa tạo
ra sự cách biệt đối với những đối thủ cạnh tranh vì có niềm tin của khách
hàng vào nhãn hiệu sản phẩm, điều này sẽ dẫn đến khả năng ít biến động hơn
về giá cả. Niềm tin của khách hàng và sự cần thiết đối với đối thủ cạnh tranh
phải vượt qua được yếu tố “duy nhất” đã ngăn chặn việc xâm nhập của những
đối thủ mới. Khác biệt hoá tạo ra tỷ lệ lợi nhuận cao hơn, với tỷ lệ lợi nhuận
cao này có thể dễ dàng giải quyết vấn đề quyền lực của người cung cấp, và rõ
rang nó cũng làm giảm bớt quyền lực của người mua, bởi vì họ thiếu những
điều kiện để so sánh và vì vậy giá cả ít có sự biến động hơn. Cuối cùng,
SV: NGÔ VIỆT NINH LỚP: QLKT46A
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD: TS. HỒ BÍCH VÂN
những công ty nào đã tiến hành sự khác biệt hóa sản phẩm để có được niềm
tin của khách hàng, sẽ có vị trí thuận lợi hơn, so với các đối thủ cạnh tranh khi
phải đương đầu với các loại hàng hoá thay thế.
3.3. Chiến lược trọng tâm hoá
Đây là chiến lược tập chung vào một nhóm người mua cụ thể, một bộ
phận trong các loại hàng hóa, hoặc một vùng thị trường nào đó. Chiến lược
trọng tâm hóa dựa vào một tiền đề rằng công ty có thể phục vụ một thị trường
chiến lược hẹp của mình một cách tích cực và hiệu quả hơn các đối thủ cạnh
tranh, những người đang phục vụ cho những thị trường rộng lớn hơn. Kết quả
là công ty có thể đạt được sự khác biệt hoá qua việc đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của một đối tượng cụ thể, hoặc đạt được mức chi phí thấp hơn khi phục vụ đối