LUẬN VĂN:
Hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của lực
lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tại
địa bàn thành phố Nam Định
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện công cuộc đổi mới, trong những năm qua tình hình kinh tế - xã hội ở
thành phố Nam Định (TPNĐ) đã đổi mới, vươn lên mạnh mẽ. Đời sống kinh tế, văn hóa
của nhân dân được cải thiện một bước quan trọng. Tuy vậy bên cạnh những thành tựu
đã đạt được, trong quá trình phát triển ấy cũng đã và đang phát sinh nhiều vấn đề phức
tạp về trật tự xã hội (TTXH). Cùng với những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm
của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tại địa bàn thành phố Nam
Định".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đấu tranh phòng, chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu dưới
nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, đáng chú ý là cuốn sách chuyên khảo tội phạm học
hiện đại và phòng ngừa tội phạm của Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Xuân Yêm do nhà xuất
bản Công an nhân dân (CAND) ban hành năm 2001. Tại chương 14 có đề cập đến
phòng ngừa các tội phạm có sử dụng bạo lực, đây là nhóm tội phạm có tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Cuốn giáo trình Phương
pháp điều tra các loại tội phạm cụ thể, tập 1 của Học viện Cảnh sát nhân dân (CSND)
xuất bản năm 2002. Tại chương 3 đã đề cập phương pháp điều tra tội phạm cố ý gây
thương tích. Trong góc độ hình luật, các tác giả đã đề cập đến vấn đề phân biệt tội cố ý
gây thương tích với các tội gần gũi như tội giết người, tội chống người thi hành công
vụ, tội làm nhục người khác. Chẳng hạn, các tác giả Đặng Quang Phương, Đinh Văn
Quế đã bàn về sự khác nhau giữa tội giết người (chưa đạt) với tội cố ý gây thương tích,
phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích (dẫn đến hậu quả chết người). Một
số luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ đề cập đến công tác phòng ngừa, điều tra khám phá
tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại các địa
phương khác nhau, như tác giả Trần Nguyên Quân: "Đặc điểm hình sự tội phạm cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố
Hải Phòng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra". Hoặc tác giả
Nguyễn Hữu Cầu: "Đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam hiện nay và các giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động phòng ngừa". Có khá nhiều các bài viết trên các Tạp chí CAND,
Tạp chí Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND) đề cập
cả về lí luận và thực tiễn đấu tranh đối với loại tội phạm này. Tiếc rằng chưa có tác giả
nào tiến hành khảo sát trên địa bàn TPNĐ. Hoàn toàn có thể nói rằng, cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu về vấn đề phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn TPNĐ
và thực tiễn công tác phòng ngừa ngăn chặn tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác của lực lượng CSĐTTP về TTXH Công an TPNĐ.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chủ yếu tiếp cận trên phương diện lý luận
hoạt động nghiệp vụ trinh sát với việc sử dụng phần nhiều các tri thức nghiệp vụ trinh
sát và khoa học Tội phạm học, không đi sâu các biện pháp điều tra. Đề tài được nghiên
cứu trong giới hạn kết quả khảo sát thực tiễn các vụ cố ý gây thương tích xảy ra từ năm
2001 đến 2005 tại địa bàn TPNĐ. Điều đó được quán xuyến trong toàn bộ luận văn.
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt
Nam, pháp luật của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong quá trình
thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như
thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo sát thực tế, trao đổi tọa đàm và các phương
pháp nghiên cứu khác.
Để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra, tác giả đã kết hợp nghiên cứu luật hình sự,
luật tố tụng hình sự, các văn bản liên ngành, các thông tư hướng dẫn về áp dụng pháp
luật hình sự, tố tụng hình sự với nghiên cứu phân tích, so sánh tổng hợp các tài liệu thực
tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và công tác phòng ngừa, ngăn chặn,
điều tra khám phá tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trên địa bàn TPNĐ nói riêng. Thông qua nghiên cứu các hồ sơ vụ án, các
báo cáo tổng kết, sơ kết, các chuyên đề hoặc tổng kết từng giai đoạn đấu tranh đối với
loại tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên
địa bàn TPNĐ kết hợp khảo sát thực tế, trao đổi, tọa đàm với các cán bộ có nhiều kinh
nghiệm trong công tác lãnh đạo chỉ đạo điều tra để lý giải một cách khoa học các vấn đề
đặt ra trong luận văn.
7. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Cơ sở lí luận của đề tài là hệ thống những tri thức khoa học điều tra hình sự,
những thành tựu nghiên cứu lí luận khoa học trên lĩnh vực phòng ngừa và điều tra tội
Chương 1
Nhận thức chung về hoạt động phòng ngừa
của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đối với tội phạm cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1. Đặc điểm tội phạm học tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác
1.1.1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lí của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1.1. Khái niệm
Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện
một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ
quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm
phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa".
Từ khái niệm về tội phạm, khái niệm tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể hiểu như sau: Tội phạm cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cố ý nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Như vậy, giữa khái niệm chung (tổng quát) về tội phạm và khái niệm về tội
phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, khác nhau ở
yếu tố chủ quan (Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác chỉ là lỗi cố ý) và yếu tố khách thể (Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác).
1.1.1.2. Dấu hiệu pháp lí của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
khác. Trong cấu thành cơ bản của tội phạm này là quy định hành vi cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc
dưới 11% nhưng thuộc một trong những trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k
khoản 1 Điều 104 BLHS đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.
Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là
tội cấu thành vật chất nên phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
đã xảy ra. Vết thương hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác phải là hậu quả của
chính hành vi xâm hại của người phạm tội.
* Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác được người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý trong cả hai dạng cố ý trực tiếp và
cố ý gián tiếp. Đó là việc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm, thấy
trước được hậu quả do mình thực hiện sẽ gây tổn thương hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác song người phạm tội mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc để cho hậu quả đó
xảy ra.
* Mặt chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật hình sự
quy định.
Theo quy định trên, chủ thể của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác là những con người cụ thể, đang sống, đã cố ý thực hiện
hành vi gây thương tích cho người khác có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi
theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm tội phạm học tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác
Vấn đề đặc điểm tội phạm học của tội phạm nói chung đã được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, đối với mỗi loại tội phạm cụ thể, vấn đề cần được xem
xét đến cả những khía cạnh đặc thù riêng có.
Trong luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Cầu "Đặc điểm tội phạm học của
đặc trưng, điển hình về tội phạm đang diễn ra, tồn tại trong thực tiễn và có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng đối với công tác phòng ngừa tội phạm.
Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là
một loại tội phạm cụ thể. Khi xây dựng mô hình đặc điểm tội phạm học của tội phạm
theo dạng này cần phải thỏa mãn hai điều kiện. Một là, phải đảm bảo các yếu tố chung
nhất của đặc điểm tội phạm học nói chung; hai là, phải phản ánh được tính chất riêng
biệt, đặc thù của loại tội phạm đó nhằm phân biệt nó với các loại tội phạm gần gũi.
Đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác cũng là tập hợp những thông tin phản ánh các đặc điểm về
thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất, thiệt hại của tình hình tội phạm; nguyên nhân,
điều kiện của tình hình tội phạm; nhân thân người phạm tội; những điều kiện hoàn cảnh
gây nên sự biến dạng trong nhân cách của các đối tượng phạm tội; yếu tố nạn nhân
trong các vụ phạm tội và các điều kiện thuận lợi khác cho tội phạm cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xảy ra.
Như vậy so với đặc điểm tội phạm học của tội phạm nói chung thì đặc điểm tội
phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác là một tập hợp những thông tin tương đối phức tạp và có những nét đặc thù riêng
xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của loại tội phạm này. Nội dung đặc điểm tội
phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác ngoài những yếu tố mang tính chung nhất như đã nêu trên còn có những tính chất
đặc thù, riêng biệt thể hiện bằng các chỉ số, số liệu phản ánh về nó trong thực tiễn sẽ
được phân tích làm rõ, sâu sắc dưới đây.
1.1.2.1. Tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác ở nước ta hiện nay
* Thực trạng và động thái của tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác ở nước ta hiện nay
- Để đánh giá tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác ở nước ta hiện nay, chúng ta không chỉ giới hạn với việc nghiên
cứu trong phạm vi những trường hợp bị khởi tố, truy tố và xét xử mà phải có sự so sánh
được cơ quan chức năng ghi nhận nhưng trong quá trình xác minh không đủ yếu tố cấu
thành tội phạm hoặc người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định của pháp luật. Vì
vậy, không thể khởi tố điều tra, truy tố và xét xử được.
Hai là, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác là tội phạm khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Khi có dấu hiệu của tội phạm
xảy ra kết hợp với đơn yêu cầu của người bị hại thì CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án.
Nhưng sau đó vì nhiều lí do khác nhau nên người bị hại lại rút đơn yêu cầu, thậm chí từ
chối giám định, do vậy CQĐT buộc phải đình chỉ điều tra vụ án mặc dù đó là một vụ
phạm tội hoàn chỉnh nhưng lại không được đưa ra truy tố xét xử.
Như vậy để đánh giá đúng với tình hình tội phạm này, chúng ta không thể chỉ
nghiên cứu trong phạm vi số liệu của cơ quan truy tố, xét xử mà phải đặt sự phân tích số
liệu này trong sự so sánh với các số liệu của CQĐT, cũng như phải đặt trong sự so sánh
với các số liệu thực tế các vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác đã xảy ra thì mới đảm bảo tính xác thực trong nghiên cứu.
- Theo số liệu thống kê của BCA từ 2001 - 2005 toàn quốc khởi tố 21.934 vụ
với 40.153 đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác. Số liệu cụ thể hàng năm tăng giảm như sau:
Năm 2001 khởi tố 3.495 vụ (6.015 đối tượng); năm 2002 khởi tố 5.158 vụ
(9.397 đối tượng) tăng 14,7% số vụ và tăng 15,6% số đối tượng so với năm 2001; năm
2003 khởi tố 4.968 vụ (8.473 đối tượng) giảm 4% số vụ và giảm 10% số đối tượng so
với năm 2002; năm 2004 khởi tố 4.180 vụ (8.017 đối tượng) giảm 16% số vụ và giảm
6% số đối tượng so với năm 2003; năm 2005 khởi tố 4.133 vụ (8.251 đối tượng) giảm
2% số vụ và tăng 2% số đối tượng so với năm 2004.
Với những số liệu phân tích trên đây cho thấy, tỷ lệ tăng giảm của tội phạm cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 2001 đến năm
2005 là không đều, trong đó năm 2001 là năm thấp nhất, năm 2002 là năm cao nhất sau
đó có xu hướng giảm dần. Nếu lấy năm 2002 làm gốc thì sau 4 năm (đến năm 2005) tội
phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác giảm 1,24 lần.
* Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
các vụ án xảy ra do mâu thuẫn bột phát giữa đối tượng và nạn nhân thì thời gian và địa
điểm gây án gắn liền với thời gian và địa điểm phát sinh mâu thuẫn. Trong trường hợp
này đối tượng không có sự tính toán, chuẩn bị trước. Do đó có thể xảy ra ở mọi nơi, mọi
lúc, trong nhà, ngoài đường, nơi công cộng có thể nói nơi nào có sự va chạm xung đột
xảy ra thì nơi đó xảy ra tội phạm cố ý gây thương tích. Đối với những vụ gây thương
tích mà giữa đối tượng và nạn nhân có mâu thuẫn từ trước, đối tượng có sự chuẩn bị
trước thì thời gian và địa điểm gây án phụ thuộc vào ý thức chung của kẻ phạm tội.
Trong thực tế thủ phạm thường chọn thời gian thích hợp để tấn công nạn nhân hoặc bí
mật dùng một lí do hợp lý nào đó điều nạn nhân đến một địa điểm mà chúng đã chuẩn
bị để gây án, hoặc phục sẵn ở một nơi nào đó trên đường đi lại của nạn nhân rồi tấn
công gây án một cách bất ngờ.
Về tính chất
- Qua nghiên cứu về số vụ và số người phạm tội thể hiện qua các năm như sau:
Năm 2001 toàn quốc khởi tố 3.495 vụ với 6.015 đối tượng, trung bình mỗi vụ có 1,72 đối
tượng; năm 2002 toàn quốc khởi tố 5.158 vụ với 9.397 đối tượng, trung bình mỗi vụ có
1,82 đối tượng; năm 2003 toàn quốc khởi tố 4.968 vụ với 8.473 đối tượng, trung bình mỗi
vụ có 1,7 đối tượng; năm 2004 toàn quốc khởi tố 4.180 vụ với 8.017 đối tượng, trung bình
mỗi vụ có 1,91 đối tượng; năm 2005 toàn quốc khởi tố 4.133 vụ với 8.251 đối tượng, trung
bình mỗi vụ có 1,99 đối tượng. Qua số liệu trên ta thấy, số người phạm tội trong mỗi vụ án
qua hàng năm có sự tăng, giảm khác nhau nhưng nhìn chung là có xu hướng tăng. Nếu lấy
năm 2001 làm gốc thì đến năm 2005 tăng trung bình 0,27 đối tượng trên 1 vụ. Như vậy, xu
hướng phạm tội có đồng phạm tăng lên.
- Xu hướng sử dụng vũ khí để gây án trở nên phổ biến trong tội phạm cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: Là một dạng tội phạm có
tính chất bạo lực, đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích không chỉ dùng sức mạnh thể
xác để tấn công nạn nhân mà còn sử dụng vũ khí để tấn công. Trong thực tế vũ khí mà
người phạm tội sử dụng khá phong phú, đa dạng nhưng phổ biến vẫn là dao, lưỡi lê, côn
gỗ, gậy, gạch đá; số vụ sử dụng axit hoặc súng đạn thuốc nổ chiếm tỷ lệ rất ít. Điều
đáng chú ý là các vụ phạm tội cố ý gây thương tích có tổ chức (đồng phạm) thì hầu hết
Đa số người phạm tội ở nước ta cũng như ở trên thế giới đều là nam giới, tỷ lệ
nữ giới rất ít. Do cấu trúc tâm sinh lí của phụ nữ và vai trò của họ trong xã hội thì người
phụ nữ chỉ thích hợp với những công việc có tính chất nhẹ nhàng, khả năng thực hiện tội
phạm của phụ nữ là rất hạn chế. Theo thống kê của BCA từ năm 2001 - 2005 trên toàn
quốc số nữ giới phạm tội là 373 người chiếm tỷ lệ 9,28%. Số nam giới phạm tội là 39.780
người chiếm 90,72%.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một loại
tội phạm có sử dụng bạo lực cho nên tỷ lệ phụ nữ phạm tội lại càng thấp. Theo thống kê
của các cơ quan bảo vệ pháp luật thì tỷ lệ phụ nữ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác chiếm tỷ lệ 4,57% so với tỷ lệ phụ nữ phạm các tội
khác như lừa đảo, trộm cắp, ma túy là thấp hơn nhiều. Tuy nhiên trong tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì phụ nữ phạm tội lại đang
có xu hướng tăng lên, đây là một vấn đề cần phải chú ý trong công tác phòng ngừa.
Trong các vụ phạm tội có phụ nữ tham gia thì hầu hết các mâu thuẫn phát sinh
đều từ phụ nữ, họ thường là người châm ngòi cho các cuộc xung đột xảy ra, khi thực
hiện phạm tội họ thường là người đóng vai trò giúp sức và kéo theo họ hàng người thân
phạm tội. Những vụ mà phụ nữ trực tiếp phạm tội thường là xuất phát từ mâu thuẫn tình
ái và họ thường dùng axit làm vũ khí để tấn công gây hậu quả hết sức nghiêm trọng.
- Đặc điểm về độ tuổi
Căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lí của con người, căn cứ vào chính sách hình
sự đối với người phạm tội, chúng ta có thể chia làm ba mức để khảo sát cụ thể như sau:
dưới 18 tuổi, từ 18 tuổi đến 30 tuổi, trên 30 tuổi.
Qua khảo sát thực tế từ năm 2001 - 2005 thì người có độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi
phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chiếm tỷ lệ
cao nhất có 23.738 người chiếm 59,12%. Cơ sở của vấn đề trên là do đa số người phạm
tội ở độ tuổi này chưa có kinh nghiệm sống nên khi có sự tác động tiêu cực từ môi
trường sống sẽ hình thành nhân cách không hoàn thiện. Trong độ tuổi này suy nghĩ của
họ chưa chín chắn, chưa biết kiềm chế trước các mâu thuẫn kết hợp với sự phát triển thể
lực trong độ tuổi này rất sung sức, do vậy thường giải quyết các mâu thuẫn bằng vũ lực.
đình phức tạp, anh chị em, bố, mẹ là những người có tiền án, tiền sự hoặc bố mẹ sống
bằng nghề tự do, bố mẹ ly hôn phải sống với anh chị, ông bà từ nhỏ; những người có
hoàn cảnh kinh tế khó khăn; những người có đầy đủ cha mẹ nhưng trình độ văn hóa của
cha mẹ, anh chị em thấp, thường có xung đột nổ ra trong gia đình và mọi người ứng xử
với nhau bằng bạo lực. Tuy nhiên, vấn đề gia đình không phải là nguyên nhân trực tiếp
dẫn các thành viên của gia đình vào con đường phạm tội mà nó làm biến dạng nhân
cách của một số thành viên, kết hợp với những tác động tiêu cực khác thì có thể dẫn tới
con đường phạm tội.
- Đặc điểm về địa vị xã hội và nghề nghiệp của người phạm tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Là rất đa dạng và khác nhau, những đối tượng không có nghề nghiệp, không được
đào tạo nghề gì để kiếm sống, không có việc làm hoặc không có việc làm ổn định, là
học sinh đã bỏ học lêu lổng chơi bời với bạn bè xấu chiếm tỷ lệ cao có 33.275 người
chiếm 82,87%. Các đối tượng khác như nông dân, người có nghề nghiệp ổn định chiếm
tỷ lệ thấp có 6.878 người chiếm 17,13%. Xuất phát từ đặc điểm này cần tập trung khắc
phục tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm tạo điều kiện để mọi công dân có việc làm và
có thu nhập chính đáng.
- Đặc điểm về động cơ mục đích của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác
Động cơ, mục đích chính là những suy nghĩ, là ý chí nội lực bên trong của
người phạm tội. Đó là ý thức của người phạm tội đã thúc giục họ thực hiện tội phạm,
còn động cơ là cái đã thúc đẩy đối tượng thực hiện hành vi phạm tội để đạt được mục
đích. Động cơ và mục đích luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau, có tác động ảnh
hưởng trực tiếp đến thủ đoạn gây án và che giấu hành vi phạm tội, đến đối tượng bị xâm
hại.
Động cơ của đối tượng phạm tội trong các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác chính là nhằm giải quyết những mâu thuẫn nảy
sinh trong các hoạt động xã hội, trong gia đình, trong quan hệ làm ăn. Có thể là do mâu
thuẫn thù tức trong nội bộ nhân dân đã kéo dài từ lâu không được giải quyết dứt điểm
gây thương tích cho người khác để thỏa mãn sự tức giận và tính côn đồ của chúng.
Cá biệt có trường hợp gây thương tích do mê tín. Những vụ án này thường xảy
ra phổ biến ở các tỉnh miền núi, miền sâu, miền xa, nơi mà trình độ văn hóa thấp, các tập
tục lạc hậu mê tín dị đoan chưa thể xóa bỏ được. Khi những rủi ro bệnh tật xảy ra ở địa
phương người ta không đủ hiểu biết để giải thích bằng cơ sở khoa học mà tất cả được thầy
mo, thầy bói phán là do Giàng, do Ma, vì vậy mà người ta đã đưa một ai ra để hành hạ đánh
đập gây thương tích có khi đến chết người để trừ tà, đuổi ma, làm giảm cơn tức giận của
Giàng.
Mục đích của đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người có
mâu thuẫn với chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu được trả thù, được giải quyết các mâu
thuẫn bằng bạo lực. Tuy nhiên cũng có trường hợp mục đích này lại không chỉ nhằm
vào những người có mâu thuẫn với chúng mà còn nhằm vào những người thân của họ
như bố mẹ, anh chị em, con cái
- Các đặc điểm đạo đức tâm lí của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Đây là những đặc điểm quan trọng không thể thiếu được trong tập hợp các đặc
điểm, dấu hiệu của nhân thân người phạm tội. Khi nghiên cứu đặc điểm này cho thấy:
Người phạm tội cố ý gây thương tích thường thích chơi những trò chơi phiêu lưu mạo
hiểm, hoặc những hoạt động có tính chất mạnh mẽ, thích tụ tập nơi đông người, nơi
công cộng. Cụ thể như thích xem bóng đá hoặc tụ tập đá bóng hoặc hâm mộ những môn
võ thuật, thích và thường xuyên xem các phim ảnh bạo lực hoặc phim tình dục, thích
chơi cờ bạc, uống rượu bia hút thuốc lá. Phần lớn những người phạm tội cố ý gây
thương tích thường có thái độ coi thường mọi người, coi thường các quy định của xã
hội, không chịu tuân thủ hoặc tuân thủ rất kém các quy tắc xử sự của cộng đồng. Nhiều
kết quả nghiên cứu tâm lí học gần đây cho rằng, các đối tượng phạm tội có tính chất bạo
lực thường có tâm lí thuộc dạng tính khí cương, dễ nóng nảy, hay gây gổ hoặc thích
chơi trội. Vì vậy, họ hay coi thường tính mạng của mọi người trong xã hội, coi thường
đạo đức luân lí. Từ những đặc điểm tiêu cực trên đây dẫn đến hành động bất chấp đạo
thực tế hiện nay nhà trường mới chỉ chú trọng chức năng cung cấp tri thức về mặt sách
vở cho học sinh, còn việc giáo dục đạo đức nhân cách, đặc biệt là công tác quản lí học
sinh còn rất hình thức và chiếu lệ. Các tiêu cực trong việc thi cử diễn ra khá nghiêm
trọng, hiện tượng dạy thêm, học thêm kèm theo chi phí tốn kém cho phụ huynh kéo dài
nhiều năm nhưng chưa được khắc phục. Những tiêu cực đó tác động hàng ngày, hàng
giờ vào học sinh làm cho ý thức tư tưởng học sinh bị hoen bẩn. Tình trạng học sinh bỏ
học, trốn học đi chơi lang thang diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực nông thôn do
điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Đây không chỉ là nguy cơ xuất hiện một thế hệ thất
học mà còn là sự bổ sung vào đội quân vi phạm pháp luật trong đó có hành vi cố ý gây
thương tích. Theo kết quả điều tra thì phần lớn đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích
có trình độ văn hóa từ cấp 2 trở xuống. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục
trong nhà trường là một trong những biện pháp để phòng ngừa vi phạm và tội phạm,
trong đó có hành vi cố ý gây thương tích.
+ Đối với môi trường xã hội
Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, con người chỉ có thể
phát triển trong quan hệ xã hội nhất định và chính mối quan hệ xã hội có tác động sâu
sắc đến quá trình phát triển nhân cách của mỗi cá nhân. Môi trường giáo dục xã hội ở
đây chính là sự tác động của các tổ chức đoàn thể, quần chúng, của tổ chức xã hội, của
cộng đồng dân cư đến cá nhân. Trong những năm qua, dưới sự tác động của cơ chế thị
trường các tổ chức đoàn thể, quần chúng thực sự lúng túng trong nội dung và hình thức
hoạt động của mình. Nhìn chung các tổ chức xã hội chưa thu hút được các thành viên
tham gia sinh hoạt, một số thành viên của tổ chức có biểu hiện vi phạm nhưng không
được phát hiện uốn nắn kịp thời dẫn đến phạm tội.
Công tác giáo dục con người từ phía dư luận xã hội của cộng đồng trong thời
gian qua ít phát huy tác dụng, các hành vi vi phạm chưa được mọi người trong cộng
đồng, xã hội lên án gay gắt. Một bộ phận quần chúng thờ ơ với các vi phạm, thậm chí có
những khu vực dân cư phức tạp về trật tự xã hội nhưng dân cư sống ở đó coi việc hoạt
động của tội phạm như một sự tất yếu. Rõ ràng những môi trường như vậy không thể có
tính giáo dục đối với những thành viên sống trong môi trường đó.