Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế các hộ kinh doanh cá thể tại chi cục thuế huyện kinh môn, tỉnh hải dương - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIÊT NAM TRẦN VĂN HIỀN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ
CÁC HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ
HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIÊT NAM

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được bảo vệ một
học vị khoa học hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin trích
dẫn trong luận văn này đều đã được trân trọng chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Trần Văn Hiền Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii


Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ, hình hộp vii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
2.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý thu thuế đối với hộ KDCT 3
2.1.1 Hộ kinh doanh cá thể 3
2.1.2 Những vấn đề chung về thuế 4
2.1.3 Các sắc thuế hiện hành đối với các hộ KDCT 14
2.1.4 Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ KDCT 36
2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế 44
2.2 Cơ sở thực tiễn trong quản lý thu thuế các hộ KDCT 46
2.2.1 Kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý thu thuế đối với các hộ KDCT
trên thế giới và Việt Nam 46
2.2.2 Bài học rút ra từ thực tiễn trong quản lý thu thuế đối với các hộ KDCT 50
3 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 52
3.1 Đặc điểm của Chi cục thuế huyện Kinh Môn 53
3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ 53
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

3.1.2 Bộ máy hoạt động 55
3.1.3 Cơ sở vật chất 58
3.1.4 Kết quả hoạt động 58

MST :Mã số thuế
NNT :Người nộp thuế
ĐTNT :Đối tượng nộp thuế
ĐTKD :Đối tượng kinh doanh
GTGT :Giá trị gia tăng
TNDN :Thu nhập doanh nghiệp
TNCN :Thu nhập cá nhân
MB : Môn Bài
TN :Tài nguyên
TTĐB :Tiêu thu đặc biệt
NSNN :Ngân sách Nhà nước
KK-KTT :Kê khai -Kế toán thuế
UNT :Ủy nhiệm thu
CNTT :Công nghệ thông tin
KBNN :Kho bạc Nhà nước
CSDL :Cơ sở dữ liệu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

2.1 Biểu thuế môn bài 16
2.2 Biểu thuế suất thuế TNCN lũy tiến từng phần 28
2.3 Biểu thuế suất thuế TNCN toàn phần 28
3.1 Cơ cấu cán bộ Chi cục thuế Kinh Môn 55
3.2 Kết quả thu NSNN năm 2011, 2012, 2013 58
3.3 Danh sách chon hộ điều tra 60
4.1 Thống kê cấp mới giấy chứng nhận ĐKKD hộ cá thể 64


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, thuế là một trong những công cụ quan trọng của
Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế. Thông qua công cụ thuế, Nhà nước không
chỉ tăng thu cho ngân sách, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt
động của Nhà nước mà còn sử dụng nó để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy tăng
trưởng, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tiến kịp các nước trong khu vực và
trên thế giới, bên cạnh đó thực hiện mục tiêu bình đẳng và bảo vệ an ninh, trật tự,
an toàn cho xã hội đồng thời bảo vệ tài nguyên, môi trường của đất nước.
Thời gian qua công tác quản lý thu thuế nói chung và đối với hộ kinh doanh cá thể
nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật
về thuế của các hộ kinh doanh, hạn chế thất thu, tăng thu cho ngân sách. Tuy nhiên, tiềm
năng vẫn còn và có thể khai thác thu để đạt ở mức cao hơn. Tình trạng thất thu tuy có
giảm nhưng vẫn còn tình trạng quản lý không hết hộ kinh doanh, doanh thu tính thuế
không sát thực tế, dây dưa nợ đọng thuế còn nhiều … Tình hình quản lý thu thuế đối
với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Kinh Môn cũng nằm trong thực
trạng chung đó.
Qua các cuộc giám sát của Ban kinh tế xã hội Hội đồng Nhân dân huyện Kinh
Môn, cũng như kết quả đánh giá tăng trưởng kinh tế của Ban kinh tế hội đồng nhân
dân tỉnh, huyện tại Chi cục Thuế về công tác thu ngân sách cho thấy công tác quản
lý và khai thác nguồn thu còn một số bất cập trong đó nổi cộm là tình trạng quản lý
và lập bộ thuế các hộ kinh doanh cá thể còn bỏ sót rất lớn. Từ đó cần sớm tìm ra
giải pháp để nhanh chóng khắc phục.
Nhận thức được tầm quan trọng do thực tiễn đặt ra, chúng tôi muốn tìm giải pháp
quản lý một cách hiệu quả nguồn thu thuế từ các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện

+ Về thời gian thu thập số liệu: Nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế của Chi cục
thuế huyện Kinh Môn đối với các hộ kinh doanh cá thể trong 3 năm 2011, 2012, 2013.
+ Về thời gian thực hiện: 12 tháng, bắt đầu từ tháng 10/2013 đến tháng
10/2014.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý thu thuế đối với hộ KDCT
2.1.1. Hộ kinh doanh cá thể
2.1.1.1.Khái niệm:
Trước khi có Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh
doanh và mới nhất hiện nay là Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng
ký doanh nghiệp thì "Hộ kinh doanh" được gọi là "Hộ kinh doanh cá thể". được ghi
nhận tại Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004. Tại Điều 24- Khoản1- Nghị
định số 109/2004/NĐ-CP thể hiện "Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hay một gia
đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động,
không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt
động kinh doanh". Hiện nay theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP định nghĩa hộ kinh
doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình
làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động,
không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt
động kinh doanh.
2.1.1.2. Đặc điểm
Hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân và
hộ gia đình mình là chính. Quy mô nhỏ lẻ, tản mạn, rời rạc, điều kiện áp dụng khoa
học công nghệ tiên tiến hạn chế và luôn tìm mọi cách để tìm ra những chỗ sơ hở
trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế. Cùng với sự phát triển

2.1.2. Những vấn đề chung về thuế
2.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thuế
a. Khái niệm về thuế
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh sự ra đời của thuế là một tất
yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Để tồn tại và
phát triển, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho
việc duy trì và củng cố bộ máy từ Trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh
thổ mà Nhà nước đó đang quản lý, chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà
nước như: An ninh – quốc phòng, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, các vần đề
về phục lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội ở hiện tại và lâu dài. Để có nguồn tài
chính đáp ứng các nhu cầu chi tiêu nói trên, Nhà nước thường sử dụng ba hình thức
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

động viên, đó là: quyên góp của nhân dân; vay của nhân dân và dùng quyền lực của
Nhà nước để bắt buộc nhân dân phải đóng góp. Hình thức quyên góp và vay của
nhân dân thường không ổn định, do đó để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên, Nhà
nước dùng quyền lực chính trị buộc người dân phải đóng góp một phần thu nhập
của mình cho ngân sách Nhà nước. Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động
tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước. Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính
trị buộc người dân phải đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là
thuế. Như vậy thuế luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước.
Cho đến nay, trong giới học giả và trong các sách báo kinh tế thế giới vẫn
chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế. Nhìn chung các quan đểm của các
nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác
nhau của thuế, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn
theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản "Để duy trì quyền lực
công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà
nước đó là thuế khóa (Mác-Ăng Ghen, 1962). Càng về sau này, khái niệm về thuế
càng được bổ sung hoàn thiện hơn. Trong cuốn sách từ điển kinh tế của hai tác giả

"Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà
nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất
hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội".
b. Các đặc điểm của thuế
- Thuế luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước.
- Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho
Nhà nước.
- Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
c. Các chức năng cơ bản của thuế
- Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính: Đây là chức năng cơ bản
của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước trong tiến trình phát triển
của xã hội. Về mặt lịch sử, đây là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra
đời của thuế. Thông qua chức năng này các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được
hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước.
Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan
cho sự can thiệp của Nhà nước và nền kinh tế. Bằng chính chức năng này, Nhà nước
tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

quốc dân trong xã hội. Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của thuế là
sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào ngân sách
Nhà nước. Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập. Người có thu nhập cao và
sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn. Số tiền này sau đó lại
được Nhà nước chi ra nhằm thực hiện chính sách kinh tế-xã hội, tạo ra tính công
bằng tương đối cho xã hội. Trong một chừng mực nhất định, chức năng phân phối
và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều
tiết của thuế.
- Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Trong quá trình thực hiện chức năng
huy động tập trung nguồn lực tài chính đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết

rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại.
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu
thuẩn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng. Sự tăng cường chức năng
phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên. Ðiều đó có
nghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình
kinh tế xã hội. Mặt khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại một
cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả là làm giảm động lực phát
triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết. Ðó
là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách
tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực. Tính hai mặt của sự tác
động đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định,
xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai
đoạn phát triển kinh tế-xã hội nhất định.
2.1.2.2. Khái niệm về bộ thuế
Bộ thuế là một bảng tổng hợp được lập ra để theo dõi và quản lý các đối
tượng nộp thuế. Nếu phân loại dựa theo kỳ lập thì bộ thuế gồm có Bộ thuế tháng và
Bộ thuế năm. Bộ thuế tháng dùng để quản lý số thuế mà các ĐTNT thực hiện trong
một tháng và Bộ thuế năm dùng để quản lý số thuế mà các ĐTNT thực hiện trong
một năm. Ngoài ra bộ thuế còn được lập để theo dõi chi tiết cho từng loại thuế như
Bộ thuế môn bài, Bộ thuế GTGT, Bộ thuế TNCN.
2.1.2.3. Khái niệm về hệ thống thuế
Hệ thống thuế chính là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau với cơ chế hoạt
động, đối tượng điều chính, phương pháp đánh thuế, mực độ điều tiết và phương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

pháp thu nộp khác nhau. Các hình thức thuế có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác
động lẫn nhau nhằm thực hiện mục tiêu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Để đánh giá hệ thống thuế của một quốc gia, người ta thường ít chú ý đến số
lượng các loại thuế trong hệ thống thuế đó, mà chủ yếu đánh giá, xem xét đến khía

nghĩa là người nào có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp cao hơn những
người khác có khả năng nộp thuế ít hơn. Trong thực tế, để áp dụng nguyên tắc này
cần xác định rõ hai vấn đề đó là tiêu thức xác định khả năng và mức độ nộp thuế
cao hơn. Vấn đề này vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên phổ biến hiện nay
người ta dùng tiêu thức thu nhập hoặc tiêu dùng để đánh giá khả năng nộp thuế.
Tóm lại, công bằng trong thuế là một đòi hỏi khách quan nhưng việc đánh giá
một hệ thống thuế được coi là công bằng không phải là công việc dễ dàng. Do đó,
công bằng trong thuế vẫn thuộc về nhận thức và quan điểm riêng của mỗi quốc gia.
Thứ hai là tính hiệu quả: Tính hiệu quả của thuế được xét dưới hai góc độ:
giảm tối thiểu những tác động tiêu cực của thuế trong phân bổ ngồn lực vốn đã đạt
hiệu quả dước tác động của lực lượng thị trường; tăng cường vai trò của thuế đối
với việc phân bổ nguồn lực chưa đạt được hiệu quả dước tác động của lực lượng thị
trường.
Tính hiệu quả của thuế thể hiện tổng số thuế thu được là lớn nhất trong khi đó
chi phí cho việc tổ chức thu thuế là thấp nhất.
Thứ ba là tính chính xác: Một hệ thống thuế chính xác thể hiện rõ sự rõ ràng,
minh bạch, tức là phải chỉ rõ ai là người chịu thuế, mức thuế phải nộp và thời hạn
nộp thuế. Một hệ thống thuế rõ ràng, minh bạch sẽ tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư
tính toán chính xác được hiệu quả kinh doanh và nghĩa vụ thuế. Đây là yếu tố quan
trọng để các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm bỏ vốn đầu tư vào các dự án
phát triển sản xuất kinh doanh.
Thứ tư là tính thuận tiện: Tính thuận tiện của một hệ thống thuế thể hiện ở sự
dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ quản lý và khả năng thích ứng một cách dễ dàng với những
hoàn cảnh, điều kiện kinh tế thay đổi.
Nhà nước ban hành các chính sách thuế, nhưng người thực hiện các chính
sách thuế lại là các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính vì thế các chính sách thuế
càng rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu thì người dân mới có điều kiện hiểu và thực hiện
đúng theo các quy định của các luật thuế. Có như vậy thuế mới phát huy được vai
trò là công cụ chủ yếu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và thực hiện điều tiết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

4
N
5
N
6
N
7
N
8
N
9
N
10
N
11
N
12
N
13.
Trong đó: Hai
chữ số đầu N
1
N
2
là số phân khoảng tỉnh cấp mã số thuế được quy định theo danh mục
mã phân khoảng tỉnh. Bảy chữ số N
3
N
4
N


78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 cụ thể như sau:
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Nộp thuế theo quy định
của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của luật này và các quy
định khác của pháp luật có liên quan.
- Việc quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.
2.1.2.7. Quy định chung về đối tượng nộp thuế
Ðối tượng nộp thuế là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế
cho Nhà nước khi có các điều kiện được quy định trong các Luật thuế.
Theo quy định tại Khoản 1- Điều 2 của Luật quản lý thuế, người nộp thuế
bao gồm:
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà
nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định
của pháp luật.
Trong một sắc thuế bao giờ cũng quy định cụ thể chủ thể nào có nghĩa vụ phải
nộp thuế. Theo thuật ngữ chuyên ngành về thuế, chủ thể chịu sự điều chỉnh của một
sắc thuế thường được gọi là đối tượng nộp thuế. Đối tượng nộp thuế thể hiện phạm
vi áp dụng của một chính sách thuế cụ thể. Trong thực tế, có những đối tượng nộp
thuế chỉ kê khai và nộp một loại thuế, nhưng cũng có những đối tượng nộp thuế,
trong cùng một thời gian phải kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau.
Đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế là thể nhân hoặc pháp
nhân có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước. Người có trách nhiệm nộp
thuế theo pháp luật quy định không nhất thiết là người phải chịu thuế. Trong nhiều
trường hợp người có trách nhiệm nộp thuế cũng chính là người chịu thuế khi trong
sắc thuế đó người nộp thuế không có khả năng chuyển giao nghĩa vụ nộp thuế cho
người khác.

Khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến
quyền lợi hợp pháp của mình.
Tố cáo các hành vi vi pháp phạm luật của công chức quản lý thuế và tổ chức,
cá nhân khác.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

- Người nộp thuế có các nghĩa vụ sau
Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật.
Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn, chịu
trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế.
Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm.
Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ
theo quy định của pháp luật.
Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ
thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế.
Lập và giao hóa đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại,
giá trị thực thanh toán khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp
luật.
Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác
định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng
thương mại, tổ chức tín dụng khác, giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế
theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế.
Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công
chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật.
Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong
trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt
người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định.
2.1.3. Các sắc thuế hiện hành đối với các hộ KDCT
Sau khi thực hiện chương trình cải cách thuế bước hai, nếu không kể các

mọi khoản chi phí, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh; nhóm cán
bộ công nhân viên, nhóm xã viên hợp tác xã, nhóm người lao động nhận khoán
nhưng từng cá nhân trong nhóm nhận khoán lại kinh doanh riêng rẽ, từng cá nhân
trong nhóm còn phải nộp thuế môn bài riêng; Các cơ sở kinh doanh trên danh
nghĩa là các công ty Cổ phần, công ty TNHH nhưng từng thành viên của công ty
vẫn kinh doanh độc lập chỉ nộp một khoản tiền nhất định cho công ty để phục vụ
yêu cầu quản lý chung thì thuế môn bài thu theo từng thành viên. Các đối tượng
nêu trên có mức thuế môn bài được áp dụng 6 mức từ 50.000 đồng/năm đến
1.000.000 đồng/năm căn cứ vào mức thu nhập tháng của hộ kinh doanh, cụ thể
theo biểu dưới đây.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16

Bảng 2.1- Biểu thuế môn bài
Bậc thuế Thu nhập/tháng (đồng) Mức thuế cả năm
1 Trên 1.500.000 1.000.000
2 Trên 1000.000 đến 1.500.000 750.000
3 Trên 750.000 đến 1.000.000 500.000
4 Trên 500.000 đến 750.000 300.000
5 Trên 300.000 đến 500.000 100.000
6 Bằng hoặc thấp hơn 300.000 50.000
(Nguồn: Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ Tài chính)
Riêng xã viên, nhóm xã viên HTX nhận nhiệm vụ HTX giao nếu đáp ứng đủ
điều kiện quy định tại tiết c điểm 1 phần II của Thông tư số 44/1999/TT-BTC ngày
26/4/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn ưu đãi về thuế đối với HTX thì không phải
nộp thuế môn bài riêng, nếu không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì phải nộp
thuế môn bài riêng.
b. Thời gian tính và nộp thuế môn bài: Hộ ra kinh doanh vào thời gian 6 tháng
đầu năm thì nộp mức thuế môn bài cả năm, hộ ra kinh doanh vào 6 tháng cuối năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status