Đánh giá tình hình thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện kiến thụy, thành phố hải phòng - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



TRẦN THỊ THÙY DƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN VIỆC BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIẾN THỤY,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ luận văn nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Trần Thị Thùy Dương Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS. Cao Việt Hà,
người đã chỉ bảo và hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
và hoàn thành luận văn này.
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã
nhận được sự tạo điều kiện, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo của Khoa
Quản lý đất đai – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ủy ban nhân dân thành phố
Hải Phòng, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng, Uỷ ban nhân dân
huyện Kiến Thuỵ, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kiến Thụy, phòng
Thống kê huyện Kiến Thụy, các đơn vị và cá nhân có liên quan trên địa bàn
thành phố Hải Phòng. Tôi xin trân trọng cảm ơn các giúp đỡ quý báu và chân

3. Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 3
1.1.1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 3
1.1.2 Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 4
1.1.3. Nguyên tắc chung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất 6
1.1.4. Những nội dung cơ bản của chính sách bồi thường hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. 9
1.1.5. Trình tự, thủ tục các bước thực hiện công tác bồi thường hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. 10
1.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, của một số nước
ở Châu Á và vùng lãnh thổ 11
1.2.1. Tại Trung Quốc 11
1.2.2. Tại Thái Lan 12
1.2.3. Tại Hàn Quốc 13
1.2.4. Chính sách về tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Thế giới 15
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

1.3. Khái quát công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam 16
1.3.1. Cơ sở pháp lý về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất 16
1.3.2. Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên toàn quốc 18
1.3.3. Khái quát công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa
bàn thành phố Hải Phòng 23
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. Đối tượng nghiên cứu 28
2.2. Phạm vi nghiên cứu 28 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG
STT Nội dung Trang

Bảng 1.1. Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phươngtrên cả nước 20
Bảng 3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (theo GDP) 35
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất huyện Kiến Thụy năm 2013 43
Bảng 3.3. Các dự án thu hồi đất tại huyện Kiến Thụy trong giai đoạn 2008 - 2013 47
Bảng 3.4. Tổng quan dự án chợ dân sinh xã Đại Hà 51
Bảng 3.5. Tổng quan dự án trường dân lập Hải Phòng 52
Bảng 3.6. Tổng hợp kết quả bồi thường hai dự án 54
Bảng 3.7. Giá bồi thường đất ở năm 2009 58
Bảng 3.8. Ý kiến của người bị thu hồi đất về chính sách bồi thường tại 2 dự án 59
Bảng 3.9. Tổng hợp chính sách hỗ trợ của 2 dự án 63
Bảng 3.10. Ý kiến của người bị thu hồi đất về chính sách hỗ trợ 67
Bảng 3.11. Ý kiến của các hộ dân về việc nhận tiền bồi thường 74
Bảng 3.12. Ý kiến của các hộ dân về tính công bằng, dân chủ và công khai
trong quá trình thực hiện dự án. 76

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC HÌNH
STT Nội dung Trang


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, phát
triển các dự án kinh tế, dự án công cộng là một khâu quan trọng, then chốt của
quá trình phát triển. Tuy nhiên, việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư vẫn đang là
một vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp. Có thể thấy trên cả nước, việc bồi
thường, giải phóng mặt bằng và công tác tái định cư đều gặp nhiều vướng mắc.
Nó tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và cộng đồng dân cư, ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư, đặc biệt với hộ gia
đình, cá nhân có đất bị thu hồi trên phạm vi cả nước, đến từng địa phương, cơ sở.
.

Huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là một huyện ven đô, nông
nghiệp, nằm giữa khu vực kinh tế năng động là nội thành Hải Phòng và khu du
lịch Đồ Sơn. Hiện tại Kiến Thụy có tổng diện tích tự nhiên 10.751,89 ha, dân số
135.982 người địa bàn hành chính gồm 17 xã và 1 thị trấn. Kiến Thụy có nhiều
tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là thế mạnh trong phát
triển ngành thuỷ sản, dịch vụ và du lịch.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của thành phố; huyện
Kiến Thụy được xác định là trọng điểm phát triển kinh tế phía Đông Nam của
thành phố và thị trấn Núi Đối được xác định là đô thị vệ tinh, nơi nghỉ dưỡng
cuối tuần của cán bộ và nhân dân thành phố Hải Phòng. Từ những năm 2008 đến
nay, trên địa bàn huyện đã thực hiện 20 dự án lớn như: Dự án xây dựng đường ô tô
Cao tốc Hà Nội – Hải Phòng; Dự án xây dựng đường 403 giai đoạn I (xã Tân Trào);
Dự án Lai – Sàng – Họng; Dự án neo đậu tàu thuyền tránh trú bão bến Quán Chánh;
Dự án xây dựng nhà máy lót giầy Minh Điền (Minh Tân); Dự án đê biển II tại xã Đại
Hợp - Đoàn Xá Tuy nhiên công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, giao đất ở
huyện đang gặp phải những khó khăn: Có những dự án thực hiện không đúng

- Các số liệu điều tra, thu thập phải phản ánh đúng, khách quan quá trình
thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Các đề nghị, kiến nghị phải có cơ sở và có tính khả thi.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.1.1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Bồi thường: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại
giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
(Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2003). Luật quy định cụ thể những thiệt
hại về nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi trên đất do việc thu hồi đất
gây ra cũng được xem xét bồi thường.
Từ khi thực hiện Luật Đất đai năm 1987 đến Luật Đất đai năm 1993, nhà
nước đã có khái niệm “đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất”. Tuy nhiên
khái niệm bồi thường đã được sử dụng luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật
đất đai năm 2001, thay thế cho cụm từ đền bù thiệt hại thể hiện tư tưởng chỉ đạo
đổi mới của công tác giải phóng mặt bằng, không chỉ bồi thường những thiệt hại
hữu hình mà còn tính toán bù đắp nhưng giá trị không kiểm đếm được như môi
trường, nơi sống, dịch vụ
Hỗ trợ: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người
bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di
dời đến địa điểm mới (Chính phủ, 2009).
Có 4 loại hỗ trợ, cụ thể:
Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở;
Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo
việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp;
Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không

đoạn từ năm 1995 đến năm 2010, nền kinh tế phát triển mạnh, số lượng dự án
tăng kỷ lục, tuy nhiên công tác giải phóng mặt bằng gặp rất nhiều vướng mắc
(Phạm Đức Phong, 2002).
Phong tục tập quán cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình thu hồi đất, thu hồi
đất khiến cho người dân phải di chuyển chỗ ở, đồng nghĩa với việc thay đổi cả
môi trường sống, cách thức canh tác, tâm linh, tôn giáo. Nếu thuận lợi sẽ nhận
được sự ủng hộ của người dân và ngược lại (Đặng Thái Sơn, 2000). Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

1.1.2.2 Việc ban hành thực thi các văn bản pháp luật của nhà nước
Ở nước ta từ năm 1993 đến 2003, Nhà nước đã ban hành hơn 200 văn bản
quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất. Việc liên tục hoàn thiện chính
sách pháp luật cũng đã tạo điều kiện cho công tác giải phóng mặt bằng. Với
những đổi mới về pháp luật đất đai, thời gian qua, công tác giải phóng mặt bằng
đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về
mặt bằng cho sự phát triển các dự án đầu tư (Nguyễn Thanh Trà, Phạm Phương
Nam, 2012). Tuy nhiên bên cạnh đó, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của
pháp luật qua các thời kỳ gây cản trở cho công tác GPMB. Hệ thống văn bản còn
nhiều nhược điểm như số lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, thiếu đồng bộ,
thống nhất, khó khăn khi áp dụng (Tôn Gia Huyên, 2006).
Khi thực hiện các chính sách về đất đai cũng ảnh hưởng lớn đến công tác
bồi thường, hỗ trợ và tái đinh cư.
- Tác động của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động mang tính định hướng từ
lúc hình thành dự án đến khi GPMB và lập khu TĐC (Phạm Bình Trị, 2013).
- Giao đất, cho thuê đất
Giao đất, cho thuê đất phải căn cứ vào quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất,

hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 84/2007/NĐ-
CP) thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ (Chính phủ, 2009).
Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì được
bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất
để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá
đất tại thời điểm quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi thường bằng việc giao
đất mới hoặc giao đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về
giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định sau:
a) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ lớn hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền
mua nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch.
b) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền
mua nhà ở tái định cư thì người tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định này.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định
của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số
tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước.
Nhà nước điều tiết một phần lợi ích từ việc thu hồi, chuyển mục đích sử
dụng đất để thực hiện các khoản hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi quy định tại
Điều 17 Nghị định này (Chính phủ, 2009).
* Cơ bản, việc bồi thường hỗ trợ GPMB được thực hiện nhằm:
- Đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước, lợi ích của người sử dụng đất và
lợi ích nhà đầu tư:
Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, là người quản lý đất nước, phải
quyết định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, quyết định giá đất, giá tài
sản để tính bồi thường đất và tài sản. Đây vừa là quyền định đoạt của nhà nước

phải nộp cho nhà nước như đã quy định tại Điều 3 Nghị định 197/2004/NĐ-CP
và khoản 4 Điều 5, khoản 3 Điều 6 Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng
12 năm 2004 về thu tiền sử dụng đất. Nhà nước đã phải dành nguồn thu từ đất
của mình để đảm bảo lợi ích cho người bị thu hồi đất, đồng thời giảm nhẹ chi phí
sử dụng đất cho nhà đầu tư để thực hiện quyền thu hồi đất, phân bổ sử dụng đất
phục vụ cho đầu tư phát triển của đất nước đưa đến dân giàu, nước mạnh.
- Đảm bảo công khai dân chủ trong thực hiện:
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất là quan hệ giao
dịch về quyền sử dụng đất giữa người đang sử dụng đất với nhà đầu tư có sự can
thiệp của nhà nước, không phải giao dịch quyền sử dụng đất thông thường trên
thị trường. Tuy nhiên, người bị thu hồi đất chỉ chấp nhận chuyển quyền sử dụng
đất của mình khi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phù hợp với Luật đất
đai và công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện công khai và bàn
bạc dân chủ.
Thứ nhất, trước khi thu hồi đất chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông
nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế
hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (Khoản
1 Điều 67 Luật đất đai 2013).
Thứ hai, người bị thu hồi đất được cử người đại diện của mình tham gia
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp quận, huyện, thị xã, thành phố
trực thuộc tỉnh để phản ánh nguyện vọng của người bị thu hồi đất, đồng thời
người bị thu hồi đất thực hiện các quyết định của nhà nước, trực tiếp tham gia
ý kiến đối với dự kiến phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được niêm
yết công khai tại trụ sở làm việc của tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư và trụ sở UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi có
đất bị thu hồi.

được thực hiện như các dự án phát triển khác. Ngân hàng và các Nhà nước đang
phát triển cần nhìn nhận vấn đề này như cơ hội chứ không phải là trở ngại. Cần
thực hiện một chính sách TĐC bắt buộc sẽ tạo nên một môi trường pháp chế lành
mạnh khi Nhà nước cần thu hồi đất phục vụ cho các mục đích công cộng của
quốc gia. Mặt khác, cần cải tiến cách hiểu và lập kế hoạch thực hiện sao cho các
dự án luôn hướng tới sự phát triển, không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà còn
về môi trường, xã hội. Phương thức này phù hợp với hai mục tiêu là xoá đói
giảm nghèo và phát triển bền vững.
1.1.5. Trình tự, thủ tục các bước thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Được quy định chi tiết tại Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009
của Chính phủ, gồm các bước sau (Chính phủ, 2009):
Bước 1: Giới thiệu địa điểm và thông báo chủ trương thu hồi đất
Bước 2: Cho phép khảo sát lập dự án đầu tư
Bước 3: Lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
* Nội dung phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gồm:
- Tên, địa chỉ của người bị thu hồi đất;
- Diện tích, loại đất, vị trí, nguồn gốc của đất bị thu hồi; số lượng, khối
lượng, tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của tài sản bị thiệt hại;
- Các căn cứ tính toán số tiền bồi thường, hỗ trợ như giá đất tính bồi
thường, giá nhà, công trình tính bồi thường, số nhân khẩu, số lao động trong độ
tuổi, số lượng người được hưởng trợ cấp xã hội;
- Số tiền bồi thường, hỗ trợ.
- Việc bố trí tái định cư.
- Việc di dời các công trình của Nhà nước, của tổ chức, của cơ sở tôn giáo,
của cộng đồng dân cư.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

- Việc di dời mồ mả.

Page 12

Tại thủ đô Bắc Kinh và thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn bồi
thường thiệt hại bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với công việc, nơi làm
việc của mình (Tạp chí Cộng sản, 2007).
Về giá bồi thường thiệt hại, tiêu chuẩn là giá thị trường, mức giá này cũng
được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được
điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác
động điều chỉnh tại thị trường đó. Đối với đất nông nghiệp việc bồi thường thiệt
hại theo tính chất của đất và loại đất (tốt, xấu).
Về tái định cư, các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ
và kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử
dụng khác nhau. Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền quan tâm
đến điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được nhà nước
chú ý và có chính sách xã hội riêng.
Khi di dời thực hiện nguyên tắc chỗ ở mới tốt hơn chỗ ở cũ. Khu TĐC được
quy hoạch tổng thể (nhà ở, trường học, chợ), cân đối được giao thông động và tĩnh.
Trong quá trình bồi thường, GPMB phải lập các biện pháp xử lý đối với việc sắp
xếp bồi thường khi không đạt được sự thống nhất, lúc này sẽ xử lý theo phương thức
trước tiên là dựa vào trọng tài, sau đó theo khiếu tố.
1.2.2. Tại Thái Lan
Pháp luật đất đai Thái Lan cho phép tồn tại hình thức sở hữu tư nhân về
đất đai. Do vậy nguyên tắc khi nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất để làm bất kỳ
một dự án nào, công trình nào đều phải có sự thoả thuận về sử dụng đất giữa chủ
dự án và chủ sở hữu khu đất trên cơ sở một hợp đồng (Tạp chí Cộng sản, 2007).
Năm 1987 Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho
việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng công cộng, an ninh quốc
phòng. Luật BE 2530 quy định những nguyên tắc thu hồi đất, nguyên tắc tính giá
trị bồi thường các loại tài sản được bồi thường, trình tự lập dự án, duyệt dự án,
lên kế hoạch bồi thường trình các cấp phê duyệt. Luật còn quy định thủ tục thành

+ Hai là: Luật “Sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của
công pháp.
Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế thì cần rất nhiều đất công cộng
trong một thời gian ngắn với mục đích cưỡng chế đất cho nên luật “Sung công
đất” đã được xây dựng vào năm 1962. Sau đó theo pháp luật ngoài mục đích
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

thương lượng thu hồi đất công cộng thì còn muốn thống nhất việc này trên
toàn quốc và đảm bảo quyền tài sản của công nên luật này đã được lập vào
năm 1975 và dựa vào hai luật trên, Hàn Quốc đã triển khai bồi thường thiệt
hại cho đến nay. Tuy nhiên dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện
luật “Đặc lệ” thương lượng không đạt được thoả thuận thì luật “Sung công
đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế nhưng nếu như thế thì phải lặp đi
lặp lại quá trình này và đôi khi bị trùng hợp cho nên thời gian có thể bị kéo
dài hoặc chi phí bồi thường sẽ tăng lên. Do đó luật bồi thường thiệt hại của
Hàn Quốc mới ra đời và thực hiện theo 3 giai đoạn:
+ Thứ nhất tiền bồi thường đất đai sẽ được giám định viên công cộng đánh
giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng.
Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự
khách quan trong việc bồi thường.
+ Thứ hai pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có
quyền sử hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất. Quy trình
chấp nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai,
thương lượng chấp nhận thu hồi.
+ Thứ ba biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng. Chế độ này được
Nhà nước hỗ trợ tích cực về mọi mặt chính sách bảo đảm sự sinh hoạt của con
người, cung cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công
trình công cộng cần thiết của Nhà nước. Đây là công việc có hiệu quả lôi cuốn
người dân tự nguyện di dời và liên quan rất nhiều tới việc giải phóng mặt

cũng quy định nhu cầu phổ biến thông tin, giám sát và đánh giá, và đảm bảo MARD
– CPO, PMU10 và các PPMU có đủ kinh phí và năng lực (Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, 2012).
* Nhận xét, đánh giá
Nhìn chung, việc xây dựng và phát triển các công trình đều liên quan đến
việc thu hồi đất. Ở mỗi nước, quyền lực thu hồi, trưng thu đất được ghi trong
Hiến pháp hoặc tại Bộ Luật đất đai hoặc một bộ luật khác. Nếu việc thu hồi,
trưng thu đã phù hợp với quy định của pháp luật mà người sở hữu hoặc sử dụng
đất không thực hiện thì nhà nước có quyền chiếm hữu đất đai. Việc thu hồi đất,
trưng thu đất và bồi thường thiệt hại về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện
theo chính sách riêng do nhà nước đó quy định. Từ việc nghiên cứu chính sách

Trích đoạn Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa Giới thiệu khái quát về hai dự án điểm Tình hình thực hiện hai dự án Giải pháp giải quyết từng tồn tại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status