năng suất, giá trị dinh dưỡng của cỏ voi và cỏ voi thân ngắn được bón phân hữu cơ từ bùn của trạm xử lý nước thải - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***

NGUYỄN THỌ THỰC
NĂNG SUẤT, GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CỎ VOI VÀ
CỎ VOI THÂN NGẮN ĐƯỢC BÓN PHÂN HỮU CƠ TỪ BÙN
CỦA TRẠM XỬ LÝ NƯỚC THẢI LUẬN VĂN THẠC SĨ

ơ
HÀ NỘI, 2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagei

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực
và được thực hiện nghiêm túc, khách quan. Các phân tích thành phần hoá học của
cây cỏ voi và cỏ voi thân ngắn được tiến hành tại phòng thí nghiệm trung tâm của
Khoa Chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản và phòng phân tích thức ăn của Bộ môn
Dinh dưỡng – thức ăn. Thành phần kim loại nặng được gửi phân tích tại phòng thí
nghiệm trung tâm – Khoa Quản lý đất đai – Học viện nông nghi
ệp Việt Nam.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho luận văn này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Học viên

Nguyễn Thọ Thực

Nguyễn Thọ Thực

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  PageiiiMỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
3. Ý NGHĨA CỦA
ĐỀ TÀI 2
3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 2

phân h
ữu cơ 29
2.2.2. Đánh giá năng suất của cỏ thí nghiệm được bón phân hữu cơ 29
2.2.3. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ voi thí nghiệm
được bón phân hữu cơ 29
2.2.4. Hàm lượng kim loại nặng trong đất trồng cỏ 29
2.2.5. Đánh giá khả năng sinh trưởng của cỏ voi thân ngắn thí nghiệm
được bón phân hữu cơ.
29
2.2.6 Đánh giá năng suất của cỏ thân ngắn thí nghiệm được bón phân
hữu cơ 29
2.2.7 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ voi thân ngắn
được bón phân hữu cơ 30
2.2.8 Hàm lượng kim loại nặng trong đất trồng cỏ 30
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.3.1. Bố trí thí nghiệm cỏ voi 30
2.3.2. Các biện pháp kỹ thuật 30
2.4. PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
32
2.4.1. Điều kiện của địa điểm nghiên cứu 32
2.4.2. Các chỉ tiêu về đất 32
2.4.3. Các chỉ tiêu nông sinh học 32
2.4.4. Các chỉ tiêu năng suất 32
2.4.5. Phân tích thành phần hóa học 33
2.5. XỬ LÝ SỐ LIỆU 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagev

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU, ĐẤT ĐAI CỦA ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 35

25
Bảng 1.2: Sản lượng VCK của cỏ Ghinê tía cắt sau 30
ngày
26
Bảng 1.3. Năng suất của các giống cỏ hòa thảo (tấn/ ha/
năm)
27
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 30
Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 31
Bảng 3.1. Điều kiện thời tiết khí hậu 35
Bảng 3.2. Dinh dưỡng đất ruộng thí nghiệm 36
Bảng 3.3. Hàm lượng kim loại nặng trong phân bón 38
Bảng 3.4. Chiều cao cây cỏ voi khi thu cắt (cm) 39
Bảng 3.5. Tốc độ sinh trưởng của cỏ voi (cm/ngày) 41
Bảng 3.6. Năng suất chất xanh của cỏ voi (T/ha) 43
Bảng 3.7. Năng suất chất khô của cỏ voi (T/ha) 46
Bảng 3.8. Năng suất protein của cỏ voi (T/ha) 48
Bảng 3.9. Chiều cao cây cỏ voi thân ngắn khi thu cắt (cm) 50
Bảng 3.10. Tốc độ sinh trưởng của cỏ voi thân ngắn (cm/ngày) 52
Bảng 3.11. Năng suất chất xanh của cỏ voi thân ngắn (T/ha) 54
Bảng 3.12. Năng suất chất khô c
ủa cỏ voi thân ngắn (T/ha) 56
Bảng 3.13. Năng suất protein của cỏ voi thân ngắn (T/ha) 57
Bảng 3.14. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ voi 61
Bảng 3.15. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ voi thân ngắn 62
Bảng 3.16. Thành phần kim loại nặng trong cỏ thí nghiệm. 65

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagevii

DANH MỤC HÌNH


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page1

MỞ ĐẦU

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, đàn gia súc nhai lại ở nước ta tăng rất nhanh.
Bên cạnh đó ngành chăn nuôi gia súc nhai lại đang phải đối mặt với nhiều khó
khăn, trong đó đặc biệt là khả năng đáp ứng nhu cầu thức ăn thô xanh cho gia súc
và đó là một trong những nguyên nhân làm cho ngành chăn nuôi phát triển chưa
tương xứng với tiềm năng. Vấn đề thứ
c ăn thô xanh trong vụ đông-xuân cho gia
súc nhai lại đang được các nhà nghiên cứu và người chăn nuôi quan tâm. Hiện
nay, chúng ta vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu nào để đảm bảo nguồn thức ăn
thường xuyên và ổn định cho đàn gia súc nhai lại.
Để cung cấp nguồn thức ăn thô xanh cho gia súc ăn cỏ, nước ta đã nhập
nhiều giống cỏ có năng suất, chất lượng cao. Các giống cỏ có năng suất cao đòi
hỏi điều kiện thâm canh cao, đặc biệt là các loại phân hữu cơ vừa cung cấp các
chất dinh dưỡng cho cây vừa tạo độ tơi xốp, cải thiện tính chất lý-hóa-sinh của
đất trồng cỏ.
Để duy trì năng suất cỏ và khả năng tái sản xuất của đồng cỏ, hàng năm
phải sử dụng lượng lớn phân bón cho đồng cỏ. Việc sử dụng được các nguồn
phân thích hợp sẽ giúp nâng cao năng suất, chất lượng cỏ, hạ giá thành cỏ cho
chăn nuôi.
Bùn từ các trạm xử lý nước thải sinh hoạt ở các thành phố có khối lượng rất
lớn, giàu chất hữu cơ, đặc biệt tương đối giàu nitơ. Bùn sau xử lý có thể được
phối trộn với các nguồn phế phụ phẩm của ngành trồng trọt như rơm rạ, thân cây
ngô sau thu bắp, thân cây đậu đỗ, trấu … để sản xuất thành phân hữu cơ bón cho
cây trồng.
Xuất phát từ thực tiến trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Năng

tích, sinh khối của chúng. Ví dụ phân chia và già của tế bào, sự tăng kích thước
của lá, hoa, quả, sự đẻ nhánh
Trong lĩnh vực cây th
ức ăn chăn nuôi thì phần thân lá được các nhà chăn
nuôi đặc biệt quan tâm, vì đây là phần chính sử dụng làm thức ăn cho gia súc.
Quá trình sinh trưởng của thân lá có thể chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn sinh
trưởng chậm; giai đoạn sinh trưởng nhanh; giai đoạn sinh trưởng chậm.
Sau khi nảy mầm trọng lượng vật chất khô của cây sẽ giảm do chất dự trữ ở
hạt được sử dụng trong quá trình nảy m
ầm. Cây sinh trưởng chủ yếu dựa vào
dinh dưỡng dự trữ trong hạt nên sinh trưởng của cây lúc này chậm. Cho tới khi
những lá xanh đầu tiên xuất hiện, cây non bắt đầu hoạt động quang hợp, sự sinh
trưởng tăng dần đến khi bộ rễ và bộ lá của cây phát triển tương đối hoàn thiện,
khả năng hút dinh dưỡng trong đất và khả năng quang hợp của cây sinh trưởng
rất nhanh. Đến gần giai đo
ạn trưởng thành thì sinh trưởng giảm dần và ngừng
hẳn, cũng có khi ở giai đoạn này trọng lượng vật chất khô của cây bị giảm đi.
Đồ thị sinh trưởng của thân lá cây thức ăn chăn nuôi có dạng hình chữ S, độ
dài của các giai đoạn sinh trưởng chậm, nhanh, chậm sẽ khác nhau. Dựa vào sự
nghiên cứu đồ thị sinh trưởng để người chăn nuôi quyết định thời đi
ểm bón thúc
cho cây thức ăn, thời điểm thu hoạch thích hợp để được năng suất và chất lượng thức
ăn cao, chọn cỏ để trồng kết hợp, hạn chế được sự che bóng của nhau.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của thân lá
Thực tiễn cho thấy không loài thực vật nào có thể sống và cho năng suất
cao, chất lượng tốt trong mọi đều kiệ
n tự nhiên khác nhau. Nghiên cứu sự thích
nghi của các giống cây thức ăn khác nhau dưới tác động của các yếu tố có ý

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page4

ng rộng hơn và chồi hình thành nhiều hơn.
Hầu hết các loài cây thức ăn đều có thể sinh trưởng tốt dưới những vùng đất
bị che bóng nhẹ như Brachiaria humidicola, Arachis pintoi… Không có giống

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page5

cây thức ăn gia súc nào sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện bị che bóng
nặng, chỉ có một số loài có thể thích hợp tồn tại dưới mật độ tán cây che phủ
trung bình như Centrosema macrocarpum, Paspalum atratum… Những loài này
có thể trồng che phủ mặt đất và hạn chế cỏ dại ở dưới các tán cây, nhưng trong
trường hợp này năng suất chất khô thu được không được cao.
Tùy thuộc vào con đường đồng hóa CO
2
trong quang hợp khác nhau mà
người ta chia thế giới thực vật thành 3 nhóm:
Nhóm thực vật C
3
bao gồm các thực vật mà con đường quang hợp là C
3

(chu trình Calvin). Hầu hết cây trồng của chúng ta thuộc nhóm thực vật C
3
như
lúa, đậu đỗ, khoai, sắn…
Nhóm thực vật C
4
gồm các thực vật mà con đường quang hợp của chúng là
sự liên hợp giữa 2 chu trình quang hợp là chu trình C
3
và chu trình C

thự
c vật. Nhìn chung tất cả các tiến trình sinh lí, hóa học và sinh học trong thực
vật đều chịu ảnh hưởng của nhiệt độ. Thực vật nói chung đều có thay đổi đáp ứng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page6

của nhiệt độ rất rộng, nhưng cũng có một số loài lại sinh trưởng và phát triển
trong một giới hạn nhiệt độ xác định.
Nhiệt độ có ảnh hưởng của đến quá trình sống của thực vật. Trong
những giai đoạn phát triển cá thể khác nhau, nhu cầu nhiệt độ cũng khác nhau.
Chẳng hạn như ở giai đoạn nảy mầm, hạt cần nhiệt
độ thấp hơn thời kì nở hoa,
vào thời kì quả chín đòi hỏi nhiệt độ cao hơn cả. Mỗi loài thực vật đều có một
nhiệt độ thích hợp để nảy mầm tạo cây con. Nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt đới
nảy mầm là 15-20
0
C và tối ưu là 25-35
0
C. Nhiệt độ tối ưu cho quang hợp ở cỏ ôn
đới là 15-20
0
C và ở cỏ nhiệt đới là 30-35
0
C. Phần lớn các loài cỏ ôn đới nhiệt độ
thích hợp nhất để sinh trưởng nằm trong khoảng 20-25
0
C thì những loài cỏ hòa
thảo nhiệt đới và cận nhiệt đới có nhiệt độ sinh trưởng thích hợp cao hơn. Ở nhiệt
độ thấp dưới 10
0

thay đổi theo mùa của
sinh trưởng do nhiều yếu tố gây ra, nhưng hạn chế nhất cho sinh trưởng trong
mùa đông vẫn là nhiệt độ và ẩm độ mà trong đó nhiều nhà nghiên cứu cho nhận
định rằng ẩm độ là nhân tố hạn chế nhất. Cho nên tưới nước cho đồng bãi cỏ là
một hình thức nhằm tăng năng suất cỏ và đáp ứng được nhu cầu cho chăn nuôi
thâm canh ở nhiều nước ch
ăn nuôi phát triển, lí do là vì nhờ nước mà cây có thể
hút được chất dinh dưỡng.
Ẩm độ không khí có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cỏ vì ẩm độ
giảm thì cường độ thoát hơi nước tăng và ngược lại. Nước trong đất cần thiết cho
cây trong toàn bộ thời kì dinh dưỡng vì nhờ nước mà cây có thể hút chất dinh
dưỡng, đất thiếu nước cây không thể hoạt động mạnh mẽ đượ
c, và nếu thừa nước
thì cây có thể bị úng thối vì thiếu ôxi. Vì vậy chế độ tưới nước và tiêu nước cũng
là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sinh trưởng của cỏ.
Cây thức ăn cần nước để sinh trưởng, giữ thân nhiệt và vận chuyển dinh
dưỡng từ đất lên. Không có cây thức ăn nào có thể sinh trưởng tốt trong khi mùa
khô kéo dài, chỉ có một vài loài có thể chịu được môi trường khô hạn h
ơn những
loài khác mà thôi. Một số loài đậu thân gỗ, như keo dậu (Leucaena
leucocephala), có hệ thống rễ ăn sâu có thể giúp cây lấy nước từ tầng đất sâu
hơn. Điều này cho phép cây sinh trưởng được và giữ màu xanh của lá trong mùa
khô hơn những cây thức ăn khác. Một vài loại cây hòa thảo và đậu thân bụi như
Andropgon gayanus và đậu Stylo (Stylosanthes hamate) … cũng có khả năng
duy trì được màu xanh của lá trong mùa khô.
Nhu cầu nước cho tạo chấ
t khô của cây thức ăn lâu năm gấp 1,5-2 lần so
với cây lúa. Do vậy việc tưới nước cho đồng bãi trồng cỏ thâm canh sẽ nâng cao
năng suất cây thức ăn lên 2-4 lần. Nhiệm vụ của việc tưới là bù đắp phần nước


ổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây thức
ăn trong đó các chất dinh dưỡng trong đất đóng vai trò quan trọng kể cả các
nguyên tố đại và vi lượng. Phân bón và cách bón phân có ảnh hưởng rõ rệt đến
năng suất chất khô và thành phần hóa học của thức ăn. Các loài có năng suất cao
như cỏ voi (Pennisetum purpureum), cỏ ghi nê (Panicum maximum), cỏ lông
para (Brachiaria mutica)… phản ứng rất mạnh với phân chuồ
ng và phân đạm.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page9

Phân bón lót P - K rải một lần trong năm có tác dụng trong cả năm, làm tăng
năng suất cỏ so với không bón phân. Ngược lại sự tăng năng suất do tác dụng của
N chỉ xảy ra ngay khi trước đó người ta bón phân, cũng chính vì vậy mà người ta
có thể sử dụng đạm một cách hợp lý nhằm cân bằng năng suất cỏ trong cả năm
để khắc phục trạng mùa do điều kiện thờ
i tiết gây nên.
Độ pH trong đất quyết định trạng thái dễ tiêu hay không tiêu của các
nguyên tố. Nói chung, hòa thảo ưa đất trung tính còn các cây đậu ưa đất hơi kiềm
vì chúng cần nhiều Ca hơn, đó cũng là nguyên nhân vì sao ở đồng cỏ nhiệt đới ít
cây đậu.
Tất cả cây thức ăn đều sinh trưởng tốt trên đất có độ màu mỡ cao đến trung
bình. Một vài cây có tiềm năng năng suất cao như cỏ Pennisetum purpureum,
Panicum maximum… ch
ỉ sinh trưởng tốt trên đất màu mỡ. Nhiều cây thức ăn có thể
sinh trưởng trên đất nghèo dinh dưỡng và một số như Brachiaria humidicola,
Stylosanthes guianensis còn sinh trưởng tốt trên đất chua. Mặc dù vậy, không có loài
nào cho năng suất cao trên đất nghèo dinh dưỡng nếu không được bón phân đầy đủ.
Trên đất nghèo dinh dưỡng cây thức ăn có thể không chứa đầy đủ các chất dinh
dưỡng cần thiết cho nhu cầu sinh trưởng và sản xuất của gia súc.
Hầu hế

cho đồng cỏ càng có hiệu quả cao và ảnh hưởng của phân bón đến năng suất càng
mạnh. Thực tế cũng chứ
ng minh rằng phân bón có hiệu quả cao hơn ở đồng cỏ
trồng thu cắt so với đồng cỏ tự nhiên chăn thả. Bởi vậy ở các nước nhiệt đới bón
phân thường được áp dụng cho đồng cỏ trồng và là biện pháp quan trọng duy trì
năng suất cao của đồng cỏ.
Bùi Quang Tuấn (2005) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các mức
bón phân urê khác nhau đến năng suất, thành phần hoá học cũ
ng như hiệu quả
của đầu tư phân bón đối với cỏ voi, cỏ ghi nê. Kết quả cho thấy mức bón phân
urê thích hợp đối với cỏ voi là 100kg, cỏ ghi nê là 50kg N/ha/lứa cắt.
Điểm rất nổi bật là bón phân urê đã cải thiện được tỉ lệ protein thô trong cây
thức ăn. Tuy nhiên ảnh hưởng của mức bón phân urê đến chất lượng của thức ăn
không rõ như ảnh hưởng đến n
ăng suất của cây thức ăn.
Bón nhiều phân nitơ dẫn đến thực vật sinh trưởng nhanh (nhiều thân cành,
lá ít) sẽ dẫn đến xơ thô trong thức ăn tăng. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page11

- Chăm sóc, quản lý:
Sản xuất cây thức ăn gia súc không chỉ phụ thuộc vào các điều kiện khí hậu,
đất đai và phẩm giống mà còn phụ thuộc rất lớn vào sự tác động của con người.
Trong tất cả các giới hạn này thì ảnh hưởng của người nông dân là rất đáng kể tới
số lượng và chất lượng cây thức ăn gia súc thu hoạch được. Ở nhiều khu vực
ng
ười ta không quan tâm đến việc bón phân, tưới tiêu nước cho cây thức ăn gia
súc, điều này sẽ làm cho cây thiếu chất dinh dưỡng, trở nên cằn cỗi hoặc chết do
ngập úng, khô hạn kéo dài. Việc thu cắt hay chăn thả gia súc cần tính toán hợp lí

tái sinh.
+ Tuổi thiết lập:
Tuổi thiết lập là tuổi kể từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch lứa đầu. Lứa
tuổi này rất quan trọng vì nó tạo
điều kiện cho các bộ phận dưới đất (rễ, thân
ngầm…) phát triển làm cơ sở cho việc dự trữ dinh dưỡng sau này. Chỉ khi các bộ
phận này đã phát triển và dự trữ đầy đủ chất dinh dưỡng mới cho phép quá trình
tái sinh mạnh. Nếu cây thức ăn vừa mới mọc mà ta đã chăn thả gia súc hoặc thu
cắt thì chúng bị tàn phá ngay. Hay thu hoạch khi cây thức ăn đã quá già phần còn
lại có khả n
ăng tái sinh kém. Nhưng ở giữa hai thời điểm này có một giai đoạn
mà ở đó người ta có thể chăn thả gia súc hoặc thu cắt, và sau đó cây vẫn cho tái
sinh mạnh. Do vậy trong quá trình sinh trưởng của cây có một thời điểm mà chất
dự trữ là nhiều nhất và vì vậy điều kiện tái sinh là tối ưu.
+ Tuổi thu hoạch:
Kể từ lứa cắt thứ nhất trở
đi, thời gian giữa các lần thu hoạch gọi là tuổi thu
hoạch. Dĩ nhiên lứa tuổi này sẽ nhỏ hơn tuổi thiết lập vì lúc này các bộ phận
ngầm dưới đất đã được phát triển, chỉ chờ cho chúng dự trữ đủ dinh dưỡng là có
thể thu hoạch. Nếu một cây cỏ bị cắt trước khi rễ và những phần còn lại của lứa
cắt trước dự trữ
đủ dinh dưỡng thì sự tái sinh sẽ gặp khó khăn và có thể không
xảy ra.
Tuổi thu hoạch biến động phụ thuộc vào mùa, giống, điều kiện chăm sóc…
Tuổi thu hoạch của các cây hòa thảo khoảng 30-40 ngày, của cây đậu khoảng 40-
50 ngày trong mùa mưa, còn trong mùa khô tuổi thu hoạch sẽ dài hơn, có những
vùng quá khô hạn thì trong suốt mùa khô không cho thu cắt lứa nào. Trong điều
kiện thâm canh cao (bón phân đầy đủ, có nước tưới) cây thức ăn sinh trưởng
nhanh hơn thì tuổi sinh trưởng cũng ngắn hơn. Bởi vậy cần phải tiến hành xác
định cụ thể thời điểm thu hoạch để cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao

Ở Việt Nam, cỏ voi được coi là một trong những cây hòa thảo có tiềm năng,
được trồng nhiều ở các nông trường, trại chăn nuôi trâu bò và các nông hộ. Cỏ
voi được nhập vào nước ta qua nhiều nguồn khác nhau thông qua các dự án,
chương trình hợp tác trong và ngoài nước, hiện nay đã phát triển rất nhiều nơi
trong và ngoài nước, hiện nay đã phát triển ở nhiều nơi trong nước, chủ yếu là
gi
ống King grass có nhiều lông và phát triển chiều cao rất nhanh. Năng suất thâm
canh có thể đạt 350 – 400 tấn/ha/năm. Mùa mưa cho năng suất 180-200 tấn/ha.
Trong những năm gần đây, có thêm các giống cỏ voi mới đó là Madagasca,
Florida và VA06. Các giống này có thân to hơn, lá nhiều ít lông hơn King grass

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page14

và được cho là có năng suất cao hơn. Cỏ voi có tính ngon miệng, gia súc rất thích
ăn, có thể cho ăn tươi hoặc ủ chua đều tốt (Bùi Quang Tuấn và cs., 2012).
1.2.2. Đặc tính thực vật và khả năng chống chịu của cây cỏ voi
Cỏ voi là cỏ lâu năm, thân đứng có thể cao từ 1 – 6m, nhiều đốt, những đốt
gần gốc thường ra rễ, hình thành cả thân ngầm phát triển thành búi to. Lá hình
dài có mũi nhọn ở đầu, bẹ lá dẹt ng
ắn và mềm, có khi lá dài tới 60cm, rộng 2cm.
Chùm hoa dài màu vàng nhạt. Rễ phát triển mạnh, ăn sâu tới 2m hoặc hơn.
Cỏ thích hợp với những vùng đất có độ màu mỡ cao, phản ứng mạnh với
phân bón, đặc biệt là phân đạm. Cỏ có khả năng chịu hạn kém, thích hợp ở những
vùng có mùa khô ngắn và lượng mưa hàng năm lớn hơn 1000mm. Cỏ voi có khả
năng chịu ngập úng kém, vì vậy, chỉ cho năng su
ất cao nhất ở những vùng đất
màu mỡ, độ thoát nước tốt và có nước tưới. Cỏ voi có khả năng kháng cỏ dại
kém, khả năng chịu giẫm đạp kém nên không thích hợp làm cỏ chăn thả, phù hợp
với trồng làm đồng cỏ thu cắt. Cỏ voi cho năng suất cao trong điều kiện chiếu
sáng đầy đủ, phát triển kém khi bị che bóng.

- Nhiệt độ: nhiệt độ cao hay thấp đều có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng
của cây, nhiệt độ tăng thì sinh trưởng tăng, nhiệt độ giảm thì sinh trưởng giảm.
Nói chung trong khoả
ng 30-35
o
C ảnh hưởng nhiệt độ đến cây trồng tuân theo
quy luật Van Hoff. Mặt khác tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác dụng
thúc đẩy quá trình hấp thu khoáng của rễ. Nhiệt độ thấp nhất để cỏ voi nảy mầm
là khoảng 15
o
C và nhiệt độ tối ưu cho quang hợp là 25-30
0
C.
Cây cỏ voi không sinh trưởng hoặc sinh trưởng rất chậm trong khoảng nhiệt
độ 10-15
0
C và ở nhiệt độ 30-35
0
C thì tốc độ sinh trưởng đạt mức cao nhất. Theo
số liệu của nghiên cứu ở Maroc nếu nhiệt độ xuống dưới 14
0
C hoặc trên 45
0
C thì
cây ngừng sinh trưởng. Ở nhiệt độ dưới 10
0
C cây có hiện tượng úa vàng, sau đó
chết do chất diệp lục bị phá hủy.
Sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng của
cây, ban ngày nhiệt độ cao thuận lợi cho cây quang hợp và tích lũy, ban đêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status