đánh giá ảnh hưởng tới môi trường của một số dự án khai thác và chế biến quặng sắt trên địa bàn huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


TRẦN MẠNH TOÀN
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT
SỐ DỰ ÁN KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN QUẶNG SẮT
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào;
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc./.

Tác giả luận văn
Trần Mạnh Toàn

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii

PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
PHẦN II. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1. Tổng quan về tình hình khai thác quặng kim loại trên thế giới 3
2.2. Tổng quan về tình hình khai thác quặng kim loại tại Việt Nam 7
2.2.1. Tình hình khai thác quặng kim loại tại Việt Nam 7
2.2.2. Các vấn đề môi trường liên quan tới hoạt động khai thác 13
2.3. Tình hình khai thác khoáng sản tại tỉnh Phú Thọ 19
2.3.1. Tổng quan về đặc điểm phân bố và chất lượng khoáng sản 19
2.3.2. Thực trạng khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh: 25
2.3.3 Ảnh hưởng của khai thác khoáng sản đến môi trường 30
PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 34
3.1. Đối tượng nghiên cứu 34
3.2. Phạm vi nghiên cứu 34
3.3. Nội dung nghiên cứu 34
3.3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 34
3.3.2. Tình hình hoạt động và công tác bảo vệ môi trường của các dự án khai
thác, chết biến quặng sắt tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 34
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

QCVN :

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
TCVN :

Tiêu chuẩn Việt Nam
TSS :

Chất rắn lơ lửng
BQ :

Bình quân
BOD :

Nhu cầu oxy sinh hóa
COD :

Nhu cầu oxy hóa học
DO :

Lượng oxy hòa tan


4.6. Lượng thuốc nổ sử dụng tương ứng lượng khí CO
2
phát sinh do nổ mìn 55
4.7. Bụi phát sinh trong hoạt động khai thác quặng sắt 57
4.8. Bảng lượng chất thải rắn tại các dự án khai thác quặng Sắt 59
4.9. Lượng nước thải quá trình tuyển quặng 59
4.10. Các hạng mục, chương trình nhằm quản lý và giảm thiểu ô nhiễm
không khí tại các dự án khai thác quặng sắt 62
4.11. Bảng lượng chất thải rắn trung bình ngày được thu gom và đưa đi xử lý 65
4.12. Bảng kết quả quan trắc mẫu không khí bên trong khu vực khai thác quặng 66
4.13. Bảng kết quả quan trắc các chỉ tiêu môi trường không khí xung quanh
khu vực khai thác 69
4.14. Bảng kết quả quan trắc các chỉ tiêu môi trường nước mặt 72
4.15. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng trong mẫu nước ngầm khu
vực Thượng Cửu - Khả Cửu 75
4.16. Hàm lượng kim loại nặng trong đất khu vực Thượng Cửu - Khả Cửu 77

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang 3.1. Sơ đồ lấy mẫu không khí 35
3.2. Sơ đồ lấy mẫu nước 39
4.1. Bản đồ huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 42
4.2. Sơ đồ vị trí các mỏ sắt 50
4.3. Sơ đồ khai thác quặng sắt tại huyện Thanh Sơn, Phú Thọ 52

lại lợi ích về kinh tế cho đất nước. Tuy nhiên khai thác khoáng sản tràn lan cũng
gây ra những thách thức to lớn đối với môi trường.
Ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện và khoanh định được trên 216 vị trí có
quặng sắt, có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn, phân bố không đều, tập trung chủ yếu
ở vùng núi phía Bắc như Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Phú Thọ.
Phú Thọ là tỉnh trung du có mức độ điều tra cơ bản về tài nguyên khoáng sản
tương đối tốt, có nhiều công trình nghiên cứu địa chất trong nhiều giai đoạn khác
nhau, đến nay đã phát hiện được nhiều mỏ khoáng sản rất đa dạng như: kaolin,
feldspat, đá xây dựng, keramzit, than bùn, quarzit, talc, sắt, nước khoáng… ngoài ra
còn có mica, disten, urani, chủ yếu tập trung ở các huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy
và Yên Lập.
Các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đang
diễn ra khá mạnh mẽ. Tính đến 31/12/2011, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã có 147 mỏ
được cấp giấy phép hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản. Các hoạt động khai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

thác chế biến khoáng sản đã cơ bản thực hiện theo quy định pháp luật. Một số
doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, lựa chọn công nghệ tiên
tiến chế biến khoáng sản nhằm mức tiêu nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm.
Các hoạt động khai thác khoáng sản đã đáp ứng nhu cầu về nguồn nguyên liệu lớn
cho các ngành giao thông, công nghiệp, tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước. Ngoài
ra các hoạt động này còn thu hút, giải quyết công ăn việc làm cho bà con nhân dân ở
địa phương, tạo thêm phúc lợi xã hội tại địa phương và các dịch vụ kèm theo đã
phần nào cải thiện đời sống người dân. Việc thực hiện bảo vệ môi trường ở các cơ
sở khai thác, chế biến khoáng sản được chú trọng, đã áp dụng các phương pháp,
công nghệ xử lý chất thải hiện đại, giảm thiểu khói bụi gây độc hại trong khai thác,
vận 2 chuyển và chế biến khoáng sản. Nhiều cơ sở xây dựng hồ chứa, bể lắng, bể
lọc chất thải trong khai thác, chế biến theo tiêu chuẩn quy định. Tuy nhiên, bên cạnh
đó vẫn còn một số cơ sở chạy theo sản lượng, lợi nhuận còn chưa thực sự chú trọng

tổng số vốn của các dự án đầu tư. Xét theo tổng giá trị sản lượng, bốn kim loại này
cũng chiếm ưu thế trong kinh doanh mỏ. Trong năm 2008, tổng giá trị sản lượng
của chúng ước định đạt 280 tỷ USD (76% tổng giá trị sản lượng khoáng sản phi
nhiên liệu). Nhu cầu sử dụng và giá cả tăng cao khiến cho quặng sắt dần trở thành
nguồn kim loại quan trọng nhất. Tổng vốn đầu tư cho các dự án khai thác quặng sắt
trong năm 2010 đạt 162 tỷ USD, vượt mức đầu tư cho dự án đồng (155 tỷ USD) và
cao hơn nhiều so với vàng (83 tỷ USD) và niken (69 tỷ USD), tiếp theo mới là
nhóm urani, chì/kẽm và nhóm các kim loại chứa platin PGMs (Platinum Group
Metals) với mức đầu tư 15 tỷ USD – 20 tỷ USD. Để tiện so sánh, bảng 1 giới thiệu
mức vốn đầu tư trong khai thác các kim loại trọng điểm trên thế giới vào năm 2009.
Theo số liệu công bố của Raw Materials Group (RMG), trong năm 2010, đã có
thêm 105 dự án mới trong khai thác quặng kim loại với tổng vốn đầu tư lên tới 60 tỷ
USD được đăng ký, trong đó có 36 dự án khai thác vàng, 22 dự án khai thác quặng sắt
và 12 dự án khai thác đồng. Tổng vốn đầu tư trung bình cho một dự án khai thác quặng
sắt xấp xỉ 1,3 tỷ USD (tăng từ mức 750 triệu USD), còn đối với các dự án khai thác
vàng con số này vẫn giữ mức ổn định 204 triệu USD. Như vậy, trong tổng vốn đầu tư
các dự án được công bố trong năm 2010, ngành khai thác quặng sắt chiếm 47%. Theo
dự báo, nhu cầu tiêu thụ thép tiếp tục tăng cao là nguyên nhân chính khiến cho sản
lượng thép tiếp tục tăng trong vòng 3 đến 5 năm tới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Giá kim loại tăng cao dẫn đến nhu cầu thăm dò và đầu tư khai thác các mỏ mới
tăng cao. Điển hình là trong năm 2010, giá bạc tăng khiến cho hàng loạt dự án mới
được triển khai, đặc biệt là trong thời gian cuối năm. Sáu dự án khai thác bạc với tổng
vồn đầu tư 4 tỷ USD được công bố. Ngoài ra, những động thái gần đây cho thấy Trung
Quốc có khả năng ngừng xuất khẩu đất hiếm nhằm giữ thế độc quyền đối với nguồn tài
nguyên khoáng sản quan trọng này đã dẫn đến việc 4 dự án khai thác đất hiếm với số
vốn đầu tư trên 3 tỷ USD đã được triển khai ngoài lãnh thổ nước này.
Bảng 2.1. Vốn đầu tư trong khai thác các kim loại trọng điểm năm 2009

Tổng vốn đầu tư các dự án khai thác năm 2010 tính theo khu vực
Tổng vốn đầu tư (tỷ USD) %
Châu Phi 80 14
Châu Á 73 13
Châu Âu 62 11
Mỹ La tinh 180 32
Bắc Mỹ 86 15
Châu Đại Dương 81 15
Tổng 562 100
( Nguồn: Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam, 2010)
Bảng 2.2 giới thiệu 10 quốc gia đứng đầu trong đầu tư khai thác khoáng sản
kim loại năm 2010. Vị trí đầu tiên thuộc về Australia với tổng vốn đầu tư đạt 64 tỷ
USD, chiếm 11% tổng vốn đầu tư trên toàn cầu. Trong 20 dự án lớn nhất tại
Australia đã có tới 11 dự án dành cho khai thác quặng sắt với vốn đầu tư lên tới trên
1 tỷ USD/dự án. Canada là quốc gia đứng thứ hai, nhưng lĩnh vực khai thác phong
phú hơn, bao gồm 20 dự án khai thác vàng và các kim loại cơ bản. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

Bảng 2.3. Tổng vốn đầu tư khai thác kim loại năm 2010 theo quốc gia
10 quốc gia hàng đầu trong đầu tư khai thác kim loại năm 2010
Tổng vốn đầu tư (tỷ USD) % Xếp hạng năm 2009
1. Australia 64 11 2
2. Canada 63 11 1
3. Brazil 51 9 3

sinh khoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát
triển mạnh các quá trình phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản. Qua 65
năm nghiên cứu điều tra cơ bản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt
Nam cùng với các kết qủa nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp từ trước cách mạng
tháng 8 đến nay chúng ta đã phát hiện trên đất nước ta có hàng nghìn điểm mỏ và tụ
khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản năng lượng, kim
loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng.
Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và tìm
kiếm thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ Việt Nam.
Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ
1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển vọng lớn. Kết quả của
công tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy, Việt Nam có tiềm năng
khoáng sản khá phong phú, đa dạng. Nhiều khoáng sản có trữ lượng lớn như bôxit,
quặng sắt, đất hiếm, apatít,… chủng loại khoáng sản đa dạng.
Hiện trạng khai thác và chế biến một số khoáng sản kim loại chính:
a. Quặng sắt:
Ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện và khoanh định được trên 216 vị trí có
quặng sắt, có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn, phân bố không đều, tập trung chủ yếu
ở vùng núi phía Bắc.
Trong tất cả các mỏ quặng sắt của Việt Nam, đáng chú ý nhất là có hai mỏ
lớn đó là mỏ sắt Quý Xa ở Lào Cai và mỏ sắt Thạch Khê ở Hà Tĩnh.
Hàng năm, số lượng quặng sắt khai thác và chế biến ở Việt Nam đạt từ
300.000 – 450.000 tấn.(Báo cáo thống kê của tập đoàn khoáng sản Hamico

Công suất khai thác của mỏ hiện nay là thấp hơn rất nhiều so với công suất
thiết kế được phê duyệt.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

Công nghệ và thiết bị khai thác, chế biến ở mức trung bình, một số thiết bị

Page 9

nhiều so với xuất khẩu quặng tinh và nhập khẩu pigment, ilmenhit hoàn nguyên và
zircon mịn ngay trước mắt và lâu dài cho các ngành công nghiệp.
* Hiện trạng khai thác và chế biến quặng titan:
Do thuận lợi về mặt tài nguyên, công nghệ và thiết bị đơn giản và có thể tự
chế tạo trong nước, vốn đầu tư không lớn, có thị trường, lợi nhuận cao cho nên khai
thác, chế biến và xuất khẩu quặng titan Việt Nam đang phát triển. Ngành Titan hoạt
động với giá trị xuất khẩu quặng tinh titan 20-30 triệu USD/năm, có hiệu quả kinh
tế đáng kể, đặc biệt có ý nghĩa kinh tế xã hội với nhiều địa phương suốt dọc ven
biển từ Thanh Hoá đến Bình Thuận.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, do quản lý không chặt chẽ, và lợi dụng
hình thức “khai thác tận thu” đơn vị khai thác và chế biến quặng titan, chỉ đầu tư
nửa vời, tách được ilmenhít, phần còn lại giàu zircon rutin và momazít được bán ra
nước ngoài ở dạng thô, trong đó có cả các đơn vị không đủ khả năng, năng lực
chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, khai thác bừa bãi bất hợp pháp, “nhảy cóc” gây
lãng phí tài nguyên, gây tác động xấu đến môi trường, gây tình trạng tranh chấp
trong sản xuất và thị trường. Chế biến quặng tinh và nghiền mịn zircon mới được
thực hiện ở số ít doanh nghiệp khai thác và chế biến quặng titan.
Tóm lại, có thể đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác và tuyển quặng titan
ở Việt Nam như sau:
- Tài nguyên trữ lượng quặng titan – zircon của Việt Nam không nhiều,
chiếm khoảng 0,5% của thế giới.
- Ngành Titan Việt Nam đã làm chủ hoàn toàn được công nghệ khai thác và
tuyển quặng titan, các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật đạt mức tiên tiến của khu vực và
thế giới, thu được các quặng tinh riêng rẽ, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
- Thiết bị cho công nghệ tuyển và phụ trợ hoàn toàn có thể sản xuất trong
nước với chất lượng khá tốt và giá thành rất cạnh tranh về thiết bị khai thác chỉ nhập
thiết bị xúc bốc như máy đào, gạt, ôtô vận tải. Tuy nhiên, hiện nay nước ta chưa có
công nghệ chế biến sâu quặng titan.

Công nghệ khai thác lộ thiên kết hợp với hầm lò. Công nghệ tuyển nổi đồng
để thu được quặng tinh đồng, tinh quặng đất hiếm và tinh quặng manhêtit. Khâu
luyện kim áp dụng phương pháp thuỷ khẩu sơn (luyện bể) cho ra đồng thô, sau đó
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

qua lò phản xạ để tinh luyện và đúc dương cực, sản phẩm đồng âm cực được điện
phân cho đồng thương phẩm.
f. Quặng kẽm chì:
Các mỏ kẽm chì ở nước ta đã được phát hiện và khai thác, chế biến từ hàng
trăm năm nay.
Hiện nay, Công ty Kim loại mầu Thái Nguyên đã xây dựng xong nhà máy
điện phân kẽm kim loại tại khu Công nghiệp Sông Công Thái Nguyên với công
nghệ, thiết bị của Trung Quốc công suất kẽm điện phân là: 10.000t/năm.
Trên cơ sở nắm chắc tài nguyên, và kết quả thăm dò trong các năm 2008-
2010, Tổng công ty KSVN sẽ tiến hành đầu tư khai thác và tuyển các mỏ kẽm – chì
Nông Tiến – Tràng Đà, Thượng ấn, Cúc Đường, Ba Bồ,… với quy mô công suất
tuyển từ 40.000-60.000 tấn quặng nguyên khai/năm. Từ nguồn nguyên liệu là tinh
quặng tuyển nổi và bột kẽm từ 50.000-100.000 tấn quặng nguyên khai/năm, sẽ tiến
hành xây dựng hai nhà máy điện phân kẽm tại Tuyên Quang và Bắc Cạn với công
suất mỗi nhà máy khoảng 20.000 tấn kẽm/năm. Xây dựng một nhà máy luyện chì và
tách bạc với công suất 10.000 tấn chì thỏi và 15.000 kg bạc/năm. Các nhà máy điện
phân kẽm và luyện chì dự kiến sẽ xây dựng trong giai đoạn 2008-2015.
Như vậy, nếu tài nguyên cho phép sau khi đã thăm dò nâng cấp trữ lượng, thì
dự kiến đến năm 2010, sản lượng kẽm thỏi sẽ đạt 20.000-30.000 tấn/năm và khoảng
10.000 tấn chì thỏi/năm, đưa tổng thu nhập lên 35 triệu USD/năm.
g.Đất hiếm:
Ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên trữ lượng
đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và Mỹ
(13 triệu tấn). Quặng đất hiếm ở Việt Nam chưa được khai thác sử dụng.

quặng sunphua kẽm chì Lang Hích, apatít, graphít,… với sơ đồ và thiết bị tuyển đơn
giản, hệ số thu hồi thấp, giá thành cao và chưa thu hồi được khoáng sản có ích đi kèm.
Về luyện kim và chế biến sâu:
Công nghiệp luyện kim và chế biến sâu khoáng sản chưa được phát triển.
Gang, thép, thiếc, antimon, vàng, kẽm, chì đã được luyện nhưng chỉ có gang, thép
và thiếc được luyện ở quy mô công nghiệp.
Nhà máy gang thép Thái Nguyên với công nghệ luyện gang bằng lò cao (lò
cao nhỏ V=100m3).
Luyện thiếc bằng lò phản xạ và lò điện hồ quang và điện phân.
Sản xuất bột kẽm bằng lò phản xạ và lò quay.
Luyện antimon bằng lò phản xạ và lò điện hồ quang.
Công nghệ thuỷ luyện được áp dụng cho luyện vàng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Nhìn chung, công nghệ luyện kim và chế biến sâu chưa phát triển, thiết bị lạc
hậu, năng suất và hệ số thu hồi thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao. Phần lớn sản
phẩm chỉ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu ở mức trung bình, trừ thiếc điện phân đạt loại I
thế giới (99,95%Sn).
Tóm lại, ngành khai thác và chế biến khoáng sản kim loại trong nhiều thập
kỷ qua chưa phát triển đúng với tiềm năng, đúng với vị trí, vai trò trong quá trình
phát triển KT-XH của đất nước. Trong bối cảnh mở cửa và giao lưu quốc tế theo cơ
chế thị trường, chúng ta cần liên doanh, liên kết với nước ngoài trong dự án đòi hỏi
vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp và thị trường tiêu thụ như dự án sản xuất alumin
và điện phân nhôm, dự án luyện gang, thép từ quặng sắt Thạch Khê, Quý Xa…
Trong thời gian đầu từ 10-15 năm, có thể phải cho nước ngoài nắm cổ phần
chi phối, chúng ta nắm cổ phần ở những khâu thiết yếu như nguồn tài nguyên… có
như vậy ngành công nghiệp khoáng sản kim loại mới có cơ hội phát triển mạnh.
Công nghiệp khai thác khoáng sản ở Việt Nam mặc dù còn kém phát triển,
nhưng cũng đã đóng góp một phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội

nông; hạ thấp mực nước ngầm của những vùng lân cận và thay đổi hướng chảy
trong túi nước ngầm, ô nhiễm túi nước ngầm có thể sử dụng được nằm dưới vùng khai
mỏ do lọc và thẩm nước chất lượng kém của nước mỏ, tăng hoạt động lọc và ngưng
đọng của những đống đất từ khai mỏ. Ở đầu có than hoặc chất thải từ khai thác than,
tăng hoạt động lọc có thể tăng chảy tràn của nước chất lượng kém và xói mòn của
những đống phế thải, nạp nước chất lượng kém vào nước ngầm nông hoặc đứa nước
chất lượng kém vào những suối của vùng lân cận dẫn đến ô nhiễm cả nước mặt lẫn
nước ngầm của những vùng này. Những hồ được tạo ra trong quá trình khai thác than
lộ thiên cũng có thể chứa nhiều a xít nếu có sự hiện diện của than hay chất phế thải
chứa than, đặc biệt là những chất này gần với bể mặt và chứa pi rít.
Axit sunphuric được hình thành khi khoáng chất chứa sunphit và bị ôxy hóa qua
tiếp xúc với không khí có thể dẫn đến mưa axít. Hóa chất còn lại sau khi nổ mìn
thường là độc hại và tăng lượng muối của nước mỏ và thậm chí là ô nhiễm nước.
Tác động hoá học của hoạt động khai thác khoáng sản tới nguồn nước: Sự phá
vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy
các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình
tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được
quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung
cấp cho nguồn nước tự nhiên, là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất
vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

Nước ở các mỏ than thường có hàm lượng các ion kim loại nặng, á kim, các
hợp chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ cao hơn so với nước mặt và nước biển
khu vực đối chứng và cao hơn TCVN từ 1-3 lần. Đặc biệt là khu vực từ Quảng Yên
đến Cửa Ông.
Trong các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm đục
nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng.
Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg,

b. Khai thác khoáng sản ảnh hưởng tới môi trường đất:
Mất đất mặt: Bóc lớp đất đá nằm phía trên quặng nếu không hợp lý sẽ chôn vùi
và mất đất mặt, đá mẹ lộ ra tạo ra một vùng đất kiệt vô dụng rộng lớn. Những hố
khai mỏ và đất đá phế thải sẽ không tạo được thức ăn và nơi trú ẩn cho đa số các
loài động vật. Nếu không được hồi phục thì những vùng này phải trải qua thời kỳ
phong hóa một số năm hoặc một vài thập kỷ để cho thực vật tái lập và trở thành
những sinh cảnh phù hợp. Nếu hồi phục thì tác động đối với một số loài không quá
nghiêm trọng. Con người không thể hồi phục ngay được những quần xã tự nhiên.
Tuy nhiên, có thể hỗ trợ qua cải tạo đất và những nỗ lực hồi phục theo yêu cầu của
những động vật hoang dã. Hồi phục không theo yêu cầu của những động vật hoang
dã hoặc quản lý không phù hợp một số cách sử dụng đất sẽ cản trở tái lập của nhiều
chủng quần động vật gốc.
Khai thác khoáng sản đã làm thu hẹp đáng kể diện tích đất nông, lâm nghiệp và
ảnh hưởng đến sản xuất như: chiếm dụng đất nông, lâm nghiệp để làm khai trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status