Tổ chức hoạt động quảng cáo ở một doanh nghiệp (lấy ví dụ tại tổng công ty viễn thông quân đội viettel mobile) - Pdf 30



TIỂU LUẬN:

Tổ chức hoạt động quảng cáo ở một
doanh nghiệp
(lấy ví dụ tại Tổng công ty viễn
thông quân đội Viettel Mobile)

Lời mở đầu

Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể
đó cần được “trao đổi chất”với môi trường sống bên ngoài-thị trường. Quá trình trao đổi
chất đó càng diễn ra thường xuyên, liên tục với quy mô càng lớn thì cơ thể đó càng khỏe
mạnh. Ngựợc lại sự trao đổi chất diễn ra yếu ớt thì cơ thể đó có thể quặt queọ và chết
yểu.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại phải có các họat động cơ bản như: sản xuất, quản lý tài
chính, quản lýnhân lực. Bên cạnh đó muốn phát triển, thành đạt cần phải biết kết nối
mọi hoạt động của doanh nghiệp với thị trường hay biết lấy thị trường_nhu cầu và ước
muốn cuả khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh. Với
tương quan như vậy quảng cáo là hoạt động không thể thiếu của doanh nghiệp.
Tổ chức hoạt động quảng cáo là khâu quan trọng kết nối khách hàng với doanh
nghiệp. Đặc biệt là với doanh nghiệp viễn thông hay cụ thể là Tổng công ty Viễn thông
Quân đội (Viettel Mobile). Chúng ta ngiên cứu các chiến dịch quảng cáo để thấy được
từng bước phát triển của họ trong việc củng cố lòng tin với khách hàng cũng như khả

Thứ hai, thông điệp quảng cáo được các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải như
đài phát thanh, ti vi, báo tạp chí…cho đến các phương tiện hiện đại như điện thoại di
động, Internet là để truyền tin đến khách hàng tiềm năng .
Thứ ba, mục đích của quảng cáo là nhằm lôi cuốn khách hàng, quảng cáo là hình thức
truyền thông marketing. Nó vừa là công cụ giúp cho doanh nghiệp bán được nhanh và
nhiều hàng. Nó vừa là phương tiện dẫn dắt khách hàng mới đến với doanh nghiệp. Vì
vậy quảng cáo là động lực của buôn bán.
Vai trò của quảng cáo thể hiện ở nhiều góc độ. Nó được dự tính để hướng một người
vào mua một sản phẩm, để hỗ trợ cho một mục tiêu hoặc thậm chí để khuyến khích tiêu
dùng ít đi, để tăng khoản thu cho việc thiện, hoặc công khai hóa công đoàn hay các quan
điểm chủ đạo của việc kinh doanh.Quảng cáo là sự trình bày để giới thiệu về hàng hóa
cho mọi người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng. Trong kinh doanh thương
mại, quảng cáo không còn là “cái đuôi” của buôn bán mà là một hệ thống phức tạp, một
cơ cấu hỗn hợp lồng khít vào cơ cấu tổng quát của cơ chế kinh doanh của doanh nghiêjp thương mại. Quảng cáo vừa là sự cần thiết khách quan vừa là sự nỗ lực chủ quan của
bản thân doanh nghiệp. Nhờ có quảng cáo, khách hàng biết đến sản phẩm của doanh
nghiệp và doanh nghiệp bán được nhiều hàng hóa trong tương lai. Điều này tạo điều
kiện cho doanh nghiệp giảm được chi phí cho một đơn vị hàng hóa bán ra, tăng doanh
nghiệp và lợi nhuận. Đồng thời tạo ra khác biệt cho sản phẩm nâng cao uy tín của doanh
nghiệp. Qua quảng cáo doanh nghiệp phải lựa chọn ra cái hay cái tốt của hàng hóa của
mình để quảng cáo, cũng từ đó có thể so sánh với sản phẩm cùng loại. Điều này cũng
giúp cho doanh nghiệp cải tiến và lựa chọn sản phẩm trong kinh doanh, áp dụng các tiến
bộ khoa học công nghệ mới, dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của khách
hàng. Trong điều kiện nền kinh tế mở, với tiến bộ khoa học công nghệ như vũ bão,
nhiều sản phẩm mới được cải tiến với chất lượng cao ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu
dung ngày càng phong phú, đa dạng, phức tạp với nhiều nguồn cung ứng, nên quảng
cáo ngày càng trở nên quan trọng và không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày.
Sự phát triển của quảng cáo phụ thuộc vào sự phát triển của văn hoá, xã hội, sự phát

có bán loại hàng này cho phép người tiêu dùng nhận biết dược thông tin cơ bản nhanh.
Vì những người bán lẻ căn cứ vào sự mua sắm tùy hứng để có một tỷ lệ phần trăm cao
trong doanh số bán ra của họ nên các thông tin quảng cáo thường được thiết kế để đề
cao hàng có bán, điều này sẽ tạo ra sự buôn bán tích trữ hàng với hy vọng rằng khách
hàng sẽ mua các khoản mục được định giá đầy đủ khác một khi họ đã vào trong cửa
hàng.
2.1.3 Quảng cáo sản phẩm cuối cùng
Quảng cáo sản phẩm cuối cùng kích thích sự hình thành nhu cầu tiêu dùng về các bộ
phận cấu thành mà chúng được kết hợp lại với nhau trong khi chế tạo ra các sản phẩm
khác. Nhà quảng cáo sản phẩm cuối cùng lớn nhất là E.I.Dupont de Nemours & Co.
Quảng cáo của hang Dupont nhằm thay mặt người sản xuất kể lại trực tiếp câu chuyện
cho người tiêu dùng thành phẩm cuối cùng. Trong việc tạo dựng nhu cầu tiêu dùng
Dupont hy vọng rằng nhhững người sản xuất sẽ có thiên hướng về sử dụng các bộ phận
cấu thành nhu cầu vào việc chế tạo ra các sản phẩm của họ. Kiểu quảng cáo trực tiếp
này được gọi là quảng cáo sản phẩm cuối cùng. Bí mật của một dự án bẩt kỳ như vậy đề là sự nỗ lực bán hàng để lôi kéo những người
sản xuất mua sản phẩm đã được quảng cáo đưa vàio sản phẩm riêng của họ, để sử dụng
cái tên nhãn hiệu hàng của họ. Quảng cáo sản phẩm cuối cùng là một phương án của
quảng cáo quốc gia thông thường, nó đề nghị người tuêu dùng mua sản phẩm qua tên
hàng.
2.1.4 Quảng cáo đáp ứng trực tiếp
Một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất của nền kinh tế chúng ta là marketing
trực tiếp, đó là việc bán một sản phẩm từ người tham gia thị trường tới người tiêu dùng
không qua kênh bán lẻ. Quảng cáo dùng trong marketing trựv tiếp là quảng cáo đáp ứng
trực tiếp.
Ngày nay, chúng ta không chỉ thấy các ví dụ về quảng cáo đáp ứng trực tiếp trên mọi
phương tiện mà cả Telemarketing - phiếu bán hàng và nhập hàng được thực hiện qua
điện thoại – cũng trở nên rất phổ biến.

nhận biết về tên của sản phẩm; thông tin về lợi thế chủ yếu mà sản phẩm đem lại.
2.2.3 Quảng cáo có tính chất nghiệp vụ
Người quan trọng nhất trong quá trình bán ra sản phẩm là người cố vấn về chuyên môn
cho người mua như nhà vật lý hay nhà kiến trúc.Lời giới thiệu của thầy thuốc là lý do
tác động tốt nhất để người bệnh mua sản phẩm đó.
Quảng cáo có tính chất nghiệp vụ cũng có thể được dùng theo một cách gián tiếp hơn.
Trong một vài trường hợp công ty có thể tạo dựng uy tín nhờ những khách hàng chuyên
môn của mình qua việc chỉ ra tầm quan trọng của khách hàng cho công chúng biết.
Những quảng cáo dịch vụ công cộng này có tác dụng hướng dẫn, giáo dục công chúng
và tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa công ty và khách hàng chuyên môn của họ
2.2.4 Quảng cáo có tổ chức
Quảng cáo có tổ chức hay quảng cáo phường hội có một số mục đích riêng và được thể
hiện dưới nhiều hình thức. Ở mặt hàng tiêu dùng nó có thể tạo ra một hình tượng như
một công dân có tính tập thể tốt. Nó cũng có thể tìm cách chỉ ra việc nghiên cứu sản
phẩm diễn ra như thế nào, không chỉ nhằm tìm ra các sản phẩm tốt hơn mà còn giải
quyết cả vấn đề xã hội và môi trường nào đó. Khi công tác quảng cáo này hướng trực
tiếp tới những ủy viên điều hành hiệp hội thì nó thường nhấn mạnh tới chất lượng sản phẩm của công ty. Thông thường quảng cáo có tổ chức sẽ vạch ra vai trò của công ty
trong lĩnh vực kỹ thuật cao. Mục tiêu là đẻ chứng minh rằng công ty có thể chế tạo ra
một thiết bị đặc biệt và cũng có kỹ năng, kỹ sảo để làm việc trong lĩnh vực khác. Quảng
cáo có tổ chức thường phân biệt với các quảng cáo kinh doanh ở chỗ nó xuất hiện trên
phạm vi rộng lớn và được viết cho đông đảo khán giả hơn so với các quảng cáo kinh
doanh khác.
2.3 Quảng cáo dịch vụ
Một số dịch vụ quảng cáo quốc gia như dịch vụ hàng không, ô tô cho thuê, hệ thống
hotel và motel, các địa danh du lịch…Hưởng ứng quảng cáo dịch vụ có nghĩa là đi trực
tiếp từ triển vọng hoặc qua nhiều nhất là một khâu trung gian. Bên cạnh đó quảng cáo
dịch vụ sẽ tạo ra sự độc quyền bởi lẽ không một dịch vụ có thể quảng cáo theo nhiều

Hiếm có một sản phẩm thành công nàomà không qua các cuộc chạy đua gay gắt giữa
các đối thủ cùng kinh doanh một loại hàng hóa. Người mở đường giới thiệu một sản
phẩm mới chịu một tỷ lệ chi phí cao cho việc phát triển và xúc tiến sản phẩm, cũng như
phải chịu rủi ro gắn liền với sự thất bạicó thể có của sản phẩm. Tuy nhiên, một khi
người mở đường đã thu hẹp lại những sự bất trắc của một sản phẩm mới bằng việc giới
thiệu thành công thì thị trường cũng mở ra cho những người kế tiếp tiềm năng bước
vào. Khi người tiêu dùng không còn phân vân “sản phẩm ấy để làm gì?” mà là “mình sẽ
mua kiểu nào?” thì khi ấy sản phẩm đã bước vàop giai đoạn cạnh tranh. Chúng ta nói về
quảng cáo cho một sản phẩm ở giai đoạn cạnh tranh là quảng cáo cạnh tranh.
Mục đích của quảng cáo trong giai đoạn cạnh tranh là để chỉ ra được các nét thống nhất
hay những sự hoàn thiện của một loại hàng hóa làm cho nó tốt hơn những hàng hóa
khác.
3. Giai đoạn duy trì
Khi một sản phẩm đã đạt đến độ chín muồi và dã có được sự chấp nhận rộng rãi thì nó
bước vào giai đoạn duy trì. Những nhà quảngcáo có kinh nghiệm biết rằng có những sản
phẩm bước vững chắc vào giai đoạn mở đường và giai đoạn cạnh tranh sẵn sang thách
thức với “kẻ đứng đầu”. Trong thực tế, nếu sản phẩm của bạn thực sự duy nhất trong
giai đoạn duy trì thì đó có thể trở thành nguyên nhân gây lo lắng. Điều này vó thể chỉ ra
rằng loại sản phẩm của bạn dang suy giảm và các nhà sản xuất khác nhận ra tiềm năng bán ra nhỏ bé trong thị trường của nó. Giai đoạn duy trì luôn là giai đoạn chuyển tiếp.
Sản phẩm của bạn cuối cùng hoặc sẽ suy giảm trước đối thủ cạnh tranh mới hoặc nó sẽ
thích nghi thông qua việc ứng dụng công nghệ mới, tiến hành marketing hay xúc tiến
bán để lại tiếp thêm sức mạnh cho chính nó.
Mục tiêu của quảng cáo duy trì là đảm bảo giữ thị phần và ngăn ngừa việc thí điểm sử
dụng những sản phẩm khác của người tiêu dùng. Sản phẩm trong giai đoạn này không
nhất thiết phải cắt giảm bớt việc quảng cáo mà chúng cần sử dụng những chiến lược
marketing và xúc tiến bán khác so với những chiến lược đã sử dụng trong các giai đoạn
mở đường và cạnh tranh.

sống của sản phẩm với mục tiêu tạo nhu cầu ban đàu. Quảng cáo thuyết phục trở nên
quan trọng trong giai đoạn cạnh tranh khi mục tiêu của doanh nghiệp là làm tăng nhu
cầu. Quảng cáo nhắc nhở rất quan trọng trong giai đoạn trưởng thành nhằm duy trì
khách hàng.
2. Xác định ngân sách quảng cáo
Cần căn cứ vào mục tiêu quảng cáo của doanh nghiệp để xác định ngân sách quảng cáo.
Do vậy có bốn phương pháp xác định ngân sách như sau:
2.1 Phương pháp xác định theo tỷ lệ (%) trên doanh số
Phương pháp này yêu cầu doanh nghiệp ấn định ngân sách cho quảng cáo bằng một tỷ
lệ phần trăm nào đó so với doanh số dự kiến.
Ưu điểm của phương pháp này là:
Thứ nhất, ngân sách có thể thay đổi theo chừng mực mà doanh nghiệp có thể chịu đựng
được, làm cho các nhà quản lý yên tâm vì chi phí tquảng cáo gắn liền với sự tăng, giảm
doanh số bán của doanh ngiệp trong chu kỳ kinh doanh
Thứ hai, phương pháp này khuyến khích các nhà quảng lý làm quyết định trong khuôn
khổ của mối liên hệ giữa chi phí quảng cáo, giá bán và lợi nhuận cho mỗi đơn vị sản
phẩm
Thứ ba, phương pháp này ổn định cạnh tranh trong tình thế các doanh nghiệp khác
cũng xác định ngân sách trên doanh số theo một quan hệ tỷ lệ đã hình thành Nhược điểm của phương pháp này đó là chưa có cơ sở thỏa đáng, chưa có luận điểm
vững vàng để bảo vệ cho nó và trong một chừng mực nào đó còn luẩn quẩn coi kết quả
doanh thu là nguyên nhân của mức độ hoạt động quảng cáo. Từ đó dẫn đến việc khó
tranh thủ các cơ hội tăng cường hoạt động thiêu thụ và quảng cáo.
2.2 Phương pháp cân bằng cạnh tranh
Phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp xác định mức ngân sách của mình bằng mức
ngân của đối thủ cạnh tranh trong khu vực thị trường và trong chu kỳ kinh doanh.
Dù sao chi phí của hãng cạnh tranh cho thấy mức độ chi tiêu hợp lí của ngành kinh
doanh. Hơn nữa việc duy trì một mức độ chi phí ngang bằng cạnh tranh sẽ loại trừ được

đáo và tính đáng tin cậy. Thông điệp quảng cáo phải nói lên những điều đáng mong ước
hay thú vị về sản phẩm. Nó cũng cần nói lên những khía cạnh độc đáo, khác biệt so với
những sản phẩm khác. Doanh nghiệp cần phân tích ba tính chất này trong nội dung
thông điệp.
Sau đó, doanh nghiệp phải thể hiện được nội dung đó trong thông điệp để bảo đảm cho
sự thành công của hoạt động quảng cáo. Phải chọn lựa ngôn ngữ, phải xác định cấu trúc
thông điệp, lựa chọn phương tiện truyền tin thích hợp, bảo đảm thỏa mãn các yêu cầu
của quảng cáo. Các thông điệp quảng cáo có thể trình bày theo nhiều phong thái thể
hiện khác nhau như mẩu đời, một lối sống, một sự tưởng tượng.
4. Quyết định phương tiện quảng cáo
Doanh nghiệp căn cứ vào mục tiêu quảng cáo, đối tượng quảng cáo và đối tượng nhận
tin mà chọn phương tiện truền tin quảng cáo cụ thể. Có thể chọn phương tiện truyền
thông đại chúng hoặc phương tiện truyền thông chuyên biệt, phương tiện quảng cáo
chính và phương tiện bổ xung v.v
Những đặc tính quan trọng nhất của phương tiện quảngc áo mà các doanh nghiệp quan
tâm khi lựa chọn là mức độ trung thành của khách hàng mục tiêu đối với các phương
tiện quảng cáo nhẩt định, sự thích hợp với hàng hóa, đặc thù của thông tin và chi phí.
Một số phương tiện quảng cáo mà các doanh nghiệp thường sử dụng:
+ Báo: Ưu điểm là dễ sử dụng, kịp thời, phổ biến rộng tại thị trường dịa phương, được
chấp nhận rộng rãi, độ tin cậy cao. Nhược điểm là tuổi thọ ngắn, số lượng độc giả hạn chế.
+ Tạp chí: Ưu điểm là có độ lựa chọn theo dân số và địa lý cao, có uy tín, có quan hệ
với người đọc lâu dài.
Nhược điểm là thời gian chờ đợi lâu, một số lượng phát hành lãng phí.
+ Rađiô: Là phương tiện thông tin đại chúng có khối lượng người nhận thông tin lớn,
nhanh và sâu rộng. Ưu điểm là nhiều người nghe, chi phí thấp, linh hoạt về địa lý có thể
nhắc đi nhắc lại nhiều lần.
Hạn chế ở chỗ chỉ giới thiệu bằng âm thanh, khả năng gây chú ý thấp, tuổi thọ ngắn.

tố ngoài quảng cáo. Mức độ kiểm soát các yếu tố đó càng cao thì việc xác định hiệu quả
của quảng cáo tới doanh số càng thuận lợi và chính xác. Các nhà ngiên cứu đã sử dụng
phương pháp phân tích và phương pháp lịch sử để xác định hiệu quả của quảng cáo và
doanh số. Hiệu quả quảng cáo còn được đánh giá qua hiệu quả truyền thông bằng các
chỉ tiêu như bao nhiêu người biết. bao nhiêu người nhớ, bao nhiêu người ưa thích thông
điệp quảng cáo.
IV. Những điều kiện để quảng cáo có hiệu quả
1. Điều quan trọng trước tiên sản phẩm phải là hàng hóa thỏa mãn một nhu cầu
nhất định
Với “hàng hóa” chúng ta hiểu là một sản phẩm mà người tiêu dùng muốn mua và sẽ tiếp
tục mua về sau này. Nếu sản phẩm là vật mua có giá trị lâu bền như máy giặt, tivi…thì
người mua còn sẵn sàng giới thiệu cho bạn bè hoặc hỗ trợ đắc lưc cho quảng cáo sản
phẩm. Mỗi loại hàng hóa lại có tính năng và cách sử dụng nhất định. Nhưng không phải
hàng hóa nào cũng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Mặt khác không hàng hóa nào có
thể đáp ứng tất cả mọi nhu cầu của người tiêu dùng. Do vậy hàng hóa đáp ứng tốt nhất
một nhu cầu sẽ kích thích được ham muốn mua hàng của người mua.
Thất bại của hãng Clairol với sản phẩm máy uốn tóc “Điều kỳ diệu nhỏ” là một ví dụ.
Đó là sản phẩm thử ngiệm tốt nhưng đã không được tiếng vang đáng kể trên thị trường.
Được bán trên thị trường là một máy sấy tóc có thể giữ được nếp tóc qua ba lần gội, nó
vẫn chưa hề được ưa chuộng mặc dù chi phí quảng cáo đã lên tới 5 triệu đô la. Các lần
kiểm ngiệm đều chỉ ra rằng đây là sản phẩm tuyệt vời nhưng cũng nhận thấy rằng
những chiếc máy này đã phải bán nhờ giá trị thẩm mỹ của chúng chứ không phải giá trị kinh tế hay công dụng chức năng. Tiềm năng thị trường và các nguồn lực công ty phải
đảm bảo hoạt động quảng cáo.
2. Công ty phải tiềm năng, doanh số bán ra, doanh thu và lợi nhuận từ sản phẩm
của mình
Trong một cuộc ngiên cứu về các sản phẩm công nghiệp, người ta nhận thấy rằng việc
giới thiệu các sản phẩm mới ra một thị trường nào đó đã làm cho chi phí quảng cáo tăng

đối với các nhà sản xuất là liệu có nên dùng tên hiệu hiện tại của họ hay không?
Trước đây, các công ty thường nghĩ bán sản phẩm mới ra thị trường theo những tên
hàng khác với những nhãn hiệu hàng hóa đã có uy tín của họ là sự khôn ngoan. Lý do
căn bản là nếu sản phẩm mới không thành công nó sẽ không làm tổn hại danh tiếng của
các sản phẩm khác của công ty. Tuy vậy, gần đây môi trường cạnh tranh và chi phí tạo
dựng uy tín cho sự nhận dạng một mặt hàng mới đã đòi hỏi những người sản xuất phải
xem xét lại chiến lược đa dạng hóa mặt hàng. Ngày nay, xu thế là tiếp tục marketing
một số sản phẩm có cùng tên nhãn: Diet coke, Diet pepsi, Gillette daisy…chỉ là một số
ví dụ về sản phẩm mới mà vẫn giữ tên hiệu trước đây. Các nhà sản xuất cũng tìm cách
đồng nhất hóa nhãn hàng của họ với công ty như: General Foods, General Electric &
ITT đã hoạt động theo các chiến dịch công ty về nhã hiệu hàng riêng của họ.
5. Sản phẩm cần có một sự nhận dạng duy nhất có lợi cho người tiêu dùng
Khi có một sản phẩm mới xuất hiện, nó phải thể hiện một giá trị nào đó mà những sản
phẩm đang tồn tại không có. Nếu nó giống như các sản phẩm khác hiện có trong thực tế
thì tại sao người ta lại cần chọn nó? Tại sao những người buôn bán lại phải mua tích
chúng. Một cách chắc chắn khi bỏ tiền vào quảng cáo là phải nghĩ rằng có sự khác biệt
trong quảng cáo để tìm ra các điểm khác biệt còn thiếu ở giá trị sản phẩm.

6. Các cách phân biệt sản phẩm
Phân biệt sản phẩm được chia thành bốn loại, mỗi loại lại tạo ra những cơ hội riêng duy
nhất cho hoạt động quảng cáo đó là:
+ Phân biệt theo lợi ích, bằng chứng về lợi ích và bằng chứng so với các đối thủ cạnh
tranh thường hiếm thấy nhưng rất có thể thành công. Các sản phẩm thuộc loại này cũng tương đối dễ quảng cáo vì chỉ phải làm cho người tiêu dùng nhận biết được rằng chúng
đang tồn tại là đủ.
+ Phân biệt sản phẩm theo lợi ích nhưng không có bằng chứng. Ở đây có lẽ quảng cáo
có ý nghĩa quyết định nhất đối với sự thành công của sản phẩm. Khả năng làm nổi bật
những đặc điểm có lợi cho người tiêu dùng được giấu đi một cách sáng tạo thông

1. Quá tập trung chú ý vào sản phẩm bán
Nếu chúng ta muốn lôi kéo sự chú ý của khách hàng tương lai hãy nói với họ về nhu cầu
và ham muốn của họ chứ đừng chỉ nói đến sản phẩm. Mối liên hệ ban đầu với khách
hàng tương lai không phải là cái chúng ta đã có suốt những năm qua, mà là vấn đề họ
muốn chúng ta đáp ứng. Hãy sử dụng quảng cáo để nhận dạng ít nhất một vấn đề chung
của khách hàng tương lai và lợi ích của việc sử dụng sản phẩm của bạn. 2. Có một thông điệp Marketing kém thuyết phục
Chúng ta thường nghe quảng cáo nhiều sản phẩm khác nhau. Mỗi quảng cáo đều mang
theo một thông điệp thể hiện tiêu chí của nhà sản xuất và nó gợi ra vài suy nghĩ ở phía
người tiêu dùng.
Hãy chắc chắn rằng quảng cáo của bạn bao gồm 7-10 từ miêu tả về những quyền bạn
đáp ứng, những vấn đề bạn giải quyết để người đọc, người nghe quảng cáo biết bạn có
thể đem lại cho họ điều gì. 3. Dùng từ sai
Khi bạn chi tiền cho quảng cáo đầu tiên kãy kiểm tra các bản copy để chắc chắn rằng tất
cả mọi từ ngữ đều được viết đúng và được lựa chọn hoàn hảo. Lỗi sai khi dùng từ và lỗi
in là những điểm rất nên tránh để không gây sự khó chịu cho khách hàng khi đọc chúng
khiến họ có ác cảm với công ty và với riêng sản phẩm. Từ đó dẫn đến việc sản phẩm,
hàng hóa không bán được trên thị trường, cũng từ đó uy tín của doanh nghiệp bị giảm
sút. 4. Quên thúc đẩy
Hầu hết các quảng cáo dễ bỏ qua mục đích thúc đẩy khách hàng tương lai hành động.
Nếu bạn muốn thúc đẩy khách hàng tiềm năng tới thăm wedside hay cửa hàng của bạn
hay tiếp xúc trực tiếp với bạn hãy thêm vào quảng cáo lời đề nghị kích thích họ hành

việc dễ dàng. Và đôi khi nằm ngoài khả năng của bạn nếu bạn không biết phải thay cái
gì? Thay đổi như thế nào? Hãy cầu cứu tới các chuyên gia để họ giúp bạn lập một chiến
lược như viết lời cho quảng cáo, hình ảnh minh họa và sắp đặt các phương tiện truyền
thông. Tránh được những lỗi trên bạn sẽ có thêm một lượng khách hàng không nhỏ và
kết quả thu được chắc chắn sẽ hơn rất nhiều so với những gì bạn đã bỏ ra cho chiến dịch
quảng cáo.

Chương II
Tổ chức hoạt động quảng cáo tại
Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel Mobile
I. Giới thiệu về Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel Mobile
Công ty điện thoại di động Viettel (Viettel Mobile) được thành lập ngày 31-5-2002 trụ
sở tại “Công ty Viễn thông Quân đội”. Trung tâm có nhiệm vụ xây dựng và phát triển
dự án, quảng lý và tổ chức khai thác mạng lưới di động trong toàn quốc.
Năm 1989 Công ty Điện tử thiết bị thông tin , tiền thân của Tổng công ty Viễn thông
Quân đội (Viettel) dược thành lập.
Năm 1995 Công ty Điện tử thiết bị viễn thông được đổi tên thành Công ty Viễn thông
Quân đội (tên giao dịch là Viettel) trở thành nhà khai thác viễn thông tại Việt Nam.
Năm 2000 cung cấp thử nghiệm thành công dịch vụ đường dài tuyến VolP tuyến Hà
Nội – Hồ Chí Minh với thương hiệu 178.
Năm 2001 Có giấy phép cung cấp chính thức dich vụ VolP trong cả nước. Thương hiệu
178 đã gây tiếng vang lớn trong dư luận và khách hàng vì sự tiện lợi.
Năm 2002 chính thức khai trương cung cấp dịch vụ truuy cập Internet và trở thành dịch
vụ Internet đầu tiên tại Việt Nam sự dụng công nghệ mạng thế hệ mới đáp ứng tốt các
nhu cầu của khách hàng. Ngày 7-6-2004 Mạng di động 098 bắt đầu thử nghiệm và tạo điều kiện để đi vào kinh
doanh.
Ngày 15-10-2004 mạng di động 098chính thức đi vào hoạt động đánh dấu bước ngoặt

Sau một loạt những khó khăn về nghẽn mạng, Viettel tại Đăk Lăk đã đẩy mạnh việc xây
dựng và lắp ráp trạm BTS mới trải rộng xuống các vùng huyện thậm chí là xã. Hiện tại
đã xây dựng được 74 trạm và tính đến hết tháng 5-2007 đã đưa vào phát sóng 6 trạm
“Đến thời điểm này song của Viettel đã phủ kín trên địa bàn, kể cả bản ở vùng sâu,
vùng xa”.
Bên cạnh đó, dịch vụ chăm sóc khách hàng cũng được chú trọng đặc biệt. Trong năm
2005 Viettel Đăk Lăk đã đặt cửa hàng, đại lý ở 100% số huyện và đến nay có 8/10
huyện có đại lý chính thức của Viettel kinh doanh bán hàng.
2. Chiến dịch dành riêng cho giới sinh viên
Phục vụ nhu cầu sử dụng di động ngày càng rộng rãi của sinh viên Viettel đã cho ra đời
dịch vụ trả trước đặc biệt là gói cước Z60 (gói cước trả trước khoán thời lượng) của
Viettel Mobile dành cho nhóm khách hàng có nhu cầu nghe và nhắn tin nhiều hơn gọi.
Chỉ với 8.300 đồng/tháng khách hàng đã có thể sử dụng di động của Viettel Mobile.
Hiện nay Viettel đã và đang áp dụng 8 gói cước dành riêng cho từng nhóm khách hàng.
Bao gồm:
+ Gói cước BONUS với khách hàng gọi từ 3900 đồng/ngày trở lên.
+Gói cước SPEEP thích hợp gọi nhiều trong thời gian ngắn hoặc đối với khách hàng đi
du lịch.
+ Gói cước ECONOMY khách hàng chỉ phải trả cước cho từng cuộc gọi
+ Gói cước FRIEND khi bạn muốn gọi nhiều đến một số nhất định với Friend bạn được
hưởng giá cước ưu đãi 1390/phút khi gọi một số di động hoặc cố định đã đăng kí trước.
+Gói cước DAILY gói cước trả trước có tính cước thuê bao theo ngày.
+Gói cước CÀ CHUA không giới hạn ngày gọi và ngày nghe.
+Gói cước BASIS CARD dịch vụ trả trước nhưng với giá cước trả sau.
+Gói cước Z60.

3. Chiến dịch “Nghe được tặng tiền” Kể từ ngày 21-5-2007 Viettel Mobile thực hiện chiến dịch “Nghe được tặng tiền” Bạn

“nóng”. Tuy nhiên, cho đến nay Tổng công ty Viễn thông quân đội(Viettel) hầu như
chưa vấp phải một cú ngã nào đến nỗi để lại vết thương.

* Khả năng thích ứng.
Đối với bất lỳ một doanh nghiệp sinh sau đẻ muộn nào, điều kiện đầu tiên chính là phải
thích ứng nhanh với thị trường nếu không muốn bị “ngã đau” ngay sau khi mở cánh cửa
cạnh tranh.
Khi bắt đầu xây dựng hạ tầng cho dịch vụ thông tin di động, vốn ít, kinh nghiệm chưa
nhiều, Viettel cũng định đi theo bước chân của những doanh nghiệp trước là chỉ đầu tư,
xây dựng mạng lưới tại những tỉnh, thành phố lớn bởi ở đó thu nhầp của người dân cao,
khả năng thu hồi vốn sẽ rất nhanh chóng.
Nhưng bài học từ các doanh nghiệp viễn thông nước ngoài đã cho thấy, bước theo con
đường có sẵn, kẻ đến sau sẽ yên bình hơn, sẽ “an toàn” hơn song có thể sẽ mãi mãi
không vượt lên được. Do đó vạch ra một con đường mới phải là một nhiệm vụ.
Từ đó Viettel đã nhanh chóng đầu tư và gây dựng mạng lưới đồng loạt ở 64/64 tỉnh,
thành phố. Sau hơn 2 năm kinh doanh dịch vụ di động, với việc áp dụng triệt để kinh
nghiệm học hỏi được Viettel dã thực sự tạo được dấu ấn với 3300 trạm phát song (bằng
1,5 lần sự phát triển của hầu hết các doanh nghiệp khác trong vòng 13 năm) tạonên ưu
thế để cạnh tranh với các nhà khai thác khác. Chính yếu tố này đã “mở màn” cho một
cuộc chạy đua phr song trong ngành viễn thông Việt Nam. Các “vận động viên” chính
là Viettel, Vinaphone, MobiFone và thành viên mới là HT Mobile cúng đang tham gia
một cách tích cực.

* Con linh dương Châu Phi và triết lý Quả cà chua.
Ở Viettel, vị Phó tổng giám đốc Nguyễn Mạnh Hùng nổi danh là người hay chữ, nhiệt
huyết và luôn gây được cảm tình khi lồng các hoạt động của doanh nghiệp vào những
“câu chuyện”có cốt chuyện.
Và phương châm về sự sáng tạo của nhà khai thác viễn thông này đã được bắt đầu bằng
câu chuyện về con linh dương Châu Phi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status