ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MẠNH DUY
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG
MẶT BẰNG TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẮC KẠN,
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên – 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MẠNH DUY
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG
MẶT BẰNG TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẮC KẠN,
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đức Nhuận
Thái Nguyên – 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ luận văn nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 4
1.3. Cơ sở thực tiễn 8
1.3.1. Khái quát chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng của một số
nước trong khu vực và một số tổ chức ngân hàng 8
1.3.2. Nghiên cứu chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Việt Nam 13
1.3.3. Khái quát công tác giải phóng mặt bằng tại thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 29
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Đối tượng nghiên cứu 30
2.2. Phạm vi nghiên cứu: 30
2.3. Nội dung nghiên cứu 30
2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Bắc Kạn liên quan
đến công tác giải phóng mặt bằng thuộc 2 dự án nghiên cứu 30
2.3.2. Tình hình quản lý sử dụng đất trên địa bàn thị xã Bắc Kạn và mối
quan hệ của nó đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà
nước thu hồi đất 30
2.3.3. Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở hai dự án 30
2.3.4. Đánh giáảnh hưởng của công tác thu hồi đất đến sinh kếcủa người dân 31
2.3.5. Đề xuất một số giải pháp trong công tác giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất 31
2.4. Phương pháp nghiên cứu 31
iv
2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp: 31
2.4.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 31
2.4.3. Phương pháp tổng hợp thống kê và xử lý số liệu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Điều kiện tự nhiên, - kinh tế xã hội và tình hình phát triển của thị xã
Bắc Kạn 32
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 36
3.2. Công tác quản lý đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn 40
Ủy ban nhân dân
BĐS
:
Bất động sản
BAH
:
Bị ảnh hưởng
WB
:
Ngân hàng Thế giới( World bank)
ADB
:
Ngân hàng phát triển Châu Á
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 43
Bảng 3.2: Hiện trạng, cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 45
Bảng 3.3. Tổng hợp diện tích các loại đất thu hồi của dự án Bệnh viện đa
khoa 500 giường 49
Bảng 3.4. Tổng hợp diện tích các loại đất thu hồi của dự án Nâng cấp, cải
tạo đường tỉnh lộ 257 đoạn qua TX Bắc Kạn 51
Bảng 3.5. Xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường 53
Bảng 3.6. Tổng hợp kết quả bồi thường về đất của hai dự án 55
Bảng 3.7. Ý kiến của người bị thu hồi đất về giá đất tính bồi thường tại 2 dự án 55
Bảng 3.8. Tổng hợp đơn giá bồi thường tài sản tại 2 dự án 58
Bảng 3.9. Ý kiến của người bị thu hồi đất trong việc bồi thường về tài sản
gắn liền với đất 59
Bảng 3.10. Tổng hợp kết quả hỗ trợ 61
Bảng 3.11: Tổng hợp kết quả hỗ trợ 63
Bảng 3.12: Phương thức sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân 66
những người có tư tưởng cơ hội lợi dụng nhu cầu của Nhà nước để đem lại lợi
ích bất hợp pháp cho bản thân.
2
Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn hẹp mà nhu cầu đầu tư ngày càng
tăng thì vấn đề lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi Nhà nước giao đất
cũng như thu hồi đất ngày càng được quan tâm. Trong nhiều năm qua Chính
phủ, các Bộ ban hành và UBND các tỉnh thành trong cả nước đã ban hành và
triển khai nhiều văn bản chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định
cư cho người có đất bị thu hồi. Những bất cập đã được chỉnh sửa, bổ sung
thường xuyên nhằm đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế. Tuy nhiên, để
hoàn thiện về cơ chế chính sách khi thực hiện thu hồi, bồi thường, giải phóng
mặt bằng và tái định cư khi thu hồi đất cần có nhiều công trình nghiên cứu
sâu, rộng và nghiên cứu tại nhiều tỉnh thành khác nhau trên cả nước, nhằm
đáp ứng hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, Chủ đầu tư và nhân dân. Vì vậy
tôi thực hiện đề tài “Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng tại một số dự án
trên địa bàn thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn” để tìm ra những nguyên nhân về
các khó khăn và đưa ra những giải pháp để công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư hiệu quả và hợp lý hơn.
2. Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn thị
xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
3. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn
thị xã Bắc Kạn, Tỉnh Bắc Kạn.
- Đánh giá ảnh hưởng của công tác giải phóng mặt bằng đến sinh kế của
người dân.
- Từ đó đề xuất một số ý kiến trong công tác giải phóng mặt bằng nhằm
đảm bảo lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi,
hạn chế tranh chấp, khiếu kiện về đất đai trong việc giải phóng mặt bằng.
3
1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
1.2.1.1. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng
đất đai và tổ chức thực hiện
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển
của nền kinh tế - xã hội. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất
đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính
ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế.
Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1987, 1993, Chính phủ đã hai
lần trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai (1998,
2001) và Nhà nước ban hành Luật đất đai 2003 nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội đất nước. Cùng với đó, chính sách bồi thường, GPMB
cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với
yêu cầu thực tế triển khai. Với những đổi mới về pháp luật đất đai, thời gian
qua công tác GPMB đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, cơ bản đáp ứng
được nhu cầu về mặt bằng cho việc phát triển các dự án đầu tư. Tuy nhiên bên
cạnh đó, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các
thời kỳ mà công tác bồi thường GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở.
Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý,
sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường GPMB.
Bên cạnh ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai,
việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng. Kết quả
kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
cho thấy, nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ
quản lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế,
trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa
tốt. Nhận thức pháp luật chưa đến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số
cán bộ quản lý đất đai cùng với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ,
5
không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm
hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà
* Đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng
ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất đai,
người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất
của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể,
làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết
các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất. Trong công tác bồi thường
GPMB, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng
được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường. Hiện nay, công tác
đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biến động về
sử dụng đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất.
Chính vì vậy mà công tác bồi thường GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn. Làm
tốt công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công
tác bồi thường GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ giải phóng mặt bằng nhanh hơn.
1.2.1.2. Yếu tố giá đất và định giá đất
Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường
GPMB hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi.
Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy
định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Theo quy
định của pháp luật đất đai hiện hành thì giá đất được hình thành trong các
trường hợp sau đây:
- Do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là
UBND cấp tỉnh) quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá
đất và và khung giá đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai
vào ngày 01 tháng 01 hàng năm;
7
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên
một số nội dung chủ yếu sau:
- Thị trường bất động sản là nơi giải quyết quan hệ về cung - cầu bất
động sản trong một thời gian và không gian nhất định. Việc hình thành và
phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để
thực hiện các dự án đầu tư (do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai
thông qua các giao dịch trên thị trường); đồng thời, người bị thu hồi đất có thể
tự mua hoặc thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà
nước thực hiện chính sách tái định cư và bồi thường.
- Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác
động tới giá đất tính bồi thường.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Khái quát chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng của một số
nước trong khu vực và một số tổ chức ngân hàng
1.3.1.1. Inđônêxia
Đối với Inđônêxia di dân TĐC, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu
hồi đất vì mục đích phát triển của xã hội từ trướcc đến nay vẫn bị coi là sự "hi
sinh" mà một số người phải chấp nhận vì lợi ích của cộng đồng. Các chương
trình bồi thường TĐC chỉ giới hạn trong phạm vi bồi thường theo Luật cho
đất bị dự án chiếm dụng, hoặc cho một số ít trường hợp thu hồi đất để xây
dựng khu TĐC.
Tuy nhiên, quan điểm nhìn nhận về công tác bồi thường TĐC đang
từng bước thay đổi, nhận thức về hậu quả xấu có thể xảy ra đối với các vấn đề
kinh tế, xác hội, môi trường trong quá trình thu hồi đất và di dân, mặt bắc, từ
thực tế khách quan và sự chuyển biến về nhận thức, người bị ảnh hưởng quan
tâm ngày càng lớn về quyền lợi và phục lợi cho họ vậy, vì vậy TĐC ngày nay
được xem là chương trình phát triển của quốc gia. Kinh nghiệm thực tiễn đã
giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia lập kế hoạch và các
nhà thực tiễn đi đến thống nhất rằng chi phí phải trả cho những tổn thất do sự
9
thiếu quan tâm và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách TĐC có thể lớn
chi tiết về các phương án bồi thường TĐC, người bị ảnh hưởng được hỗ trợ ở
mức cao nhất về hoà nhập cộng đồng dân cư bản địa bằng cách mở rộng lợi
ích của dự án đến cả các cộng đồng dân cư địa phương.
- Các chủ đầu tư đặc biệt chú ý đến tầng lớp những người nghèo, trong
đó có những người hoặc chưa có quyền hợp pháp về đất đai, tài sản, những hộ
gia đình do phụ nữ làm chủ. Đồng thời, có kế hoạch xác định quyền hợp pháp
của họ, hạn chế những trường hợp coi lý do ngăn trở bồi thường TĐC là việc
thiếu quyền sở hữu, quyền sử dụng đất hợp pháp.
- Để không ngừng cải tiến sự hỗ trợ của Ngân hàng với các dự án trong
lĩnh vực nhạy cảm này. Chính phủ Inđônêxia đã thông qua và thực hiện một
số chính sách bồi thường TĐC bắt buộc. Chính sách này nêu rõ các mục tiêu
và phương pháp, định ra các tiêu chuẩn trong hoạt động của các tổ chức Ngân
hàng tham gia đầu tư vào các công trình TĐC.
1.3.1.2. Thái Lan
Hiếp pháp Thái Lan năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các
mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên
cho đất nước, phát triển đô thị, cải tạo đất đai và các mục đích công cộng khác
phải theo giá thị trường cho những người có đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật về tất cả các thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi
thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế
tài sản đó. Dựa trên các quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc
thực hiện trưng dụng đất của ngành mình.
Năm 1987 Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng BĐS áp dụng cho
việc trưng dụng đất sử dụng vào các mục đích xây dựng tiện ích công cộng,
quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước,
phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích
công cộng. Luật quy định những nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc
tính giá trị bồi thường các tài sản bị thiệt hại. Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra
các quy định cụ thể về trình tự tiến hành bồi thường TĐC, nguyên tắc cụ thể xác
11
Về TĐC, các khu TĐC và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ và kịp
thời, thường xuyên đáp ứng nhu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử
dụng khác nhau. Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền chú ý
điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước
có chính sách riêng.
Khi di dời thực hiện nguyên tắc chỗ ở mới tốt hơn chỗ ở cũ. Khu TĐC
được quy hoạch tổng thể (nhà ở, trường học, chợ), cân đối được giao thông
động và tĩnh. Trong quá trình bồi thường, GPMB phải lập các biện pháp xử lý
đối với việc sắp xếp bồi thường khi không đạt được sự thống nhất, lúc này sẽ
xử lý theo phương thức trước tiên là dựa vào trọng tài, sau đó theo khiếu tố.
Tại thành phố Thượng Hải, tiêu chuẩn sắp xếp bồi thường di dời nhà
hiện nay được thực hiện theo 3 loại:
- Loại 1: Lấy theo giá thị trường của nhà đất đối với nhà bị tháo dời
cộng thêm với "Giá tăng thêm nhân với diện tích xây dựng của ngôi nhà bị
tháo dỡ".
- Loại 2: Đổi theo tiêu chuẩn giá trị, bố trí nhà lấy theo giá thị trường,
giá tương đương với giá nhà bị tháo dỡ, di dời.
- Loại 3: Bố trí nhà theo tiêu chuẩn diện tích, đây là tiêu chuẩn mà
chính quyền thành phố, thành phố nơi mà có nhà di dời lập ra đối với những
người có khó khăn về nhà ở. Người bị di dời có thể chọn hình thức bố trí nhà
ở cho phù hợp. Dựa vào khu vực bố trí nhà ở để tăng diện tích, dựa theo phân
cấp từng vùng trong thành phố. Càng ra ngoại vi hệ số tăng thêm càng cao,
mức tăng thêm có thể là 70%, 80% hay 100%.
1.3.1.4. Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Theo kinh nghiệm của các tổ chức Ngân hàng quốc tế thì " chìa khoá dẫn
tới việc bồi thường TĐC hợp lý là chấp nhận và thực hiện chính sách phát triển
mà con người là trung tâm chứ không phải là chính sách đền bù vật chất "
Vì vậy, mục tiêu chính sách bồi thường TĐC của Ngân hàng thế giới
(WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) là việc bồi thường TĐC sẽ
được giảm thiểu càng nhiều càng tốt và đưa ra những biện pháp khôi phục để
quyền đến thời Nguyễn, chính sách bồi thường cho người thiệt hại khi Nhà
14
nước thu hồi đất đã được xác lập và chủ yếu tập trung vào bồi thường cho
ruộng đất canh tác, đất ở không được quan tâm nhiều so với các loại đất khác.
Hình thức bồi thường chủ yếu bằng tiền, mức bồi thường được quy định chặt
chẽ, tương xứng với những thiệt hại của người bị thu hồi đất.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng thực hiện chính sách lập
đồn điền, ban hành một số Hiệp ước, Nghị định bất bình đẳng để chiếm hữu
đất đai và khai thác tài nguyên của đất nước ta.
Sau cách mạng tháng 8/1945, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam
dân chủ Cộng hoà (1946) chỉ rõ: "Nhiệm vụ của dân tộc trong giai đoạn này
là nhằm bảo toàn lãnh thổ giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên
nền tảng dân chủ ". Với mục tiêu người cày có ruộng, ngày 04/12/1953, Luật
cải cách ruộng đất ra đời nhằm thủ tiêu chính quyền chiếm hữu ruộng đất của
thực dân Pháp và tay sai bán nước ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến
chiếm hữu ruộng đất, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, đồng
thời tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng. Cải cách ruộng đất hoàn thành,
nông dân có quyền sử dụng ruộng đất được chia cấp.
Ngay sau khi hoà bình được lặp lại ở Miền Bắc (1954), Đảng và Nhà
nước đã khẳng định con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Để đáp ứng
nhiệm vụ xây dựng đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, ngày 14/4/1959,
Hội đồng chính phủ (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 151/TTg quy
định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất. Đây có thể coi là văn bản pháp
quy đầu tiên liên quan tới bồi thường TĐC bắt buộc ở Việt Nam. Tiếp sau đó,
Liên bộ uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư Liên bộ
số 1424/TTLB ngày 06/7/1959 hướng dẫn việc thi hành Nghị định 151/TTg
với các nguyên tắc cơ bản là đảm bảo kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho
xây dựng, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có
ruộng đất; những người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong
ruộng đất bị trưng dụng" trước đây sang "đảm bảo quyền lợi kinh tế của HTX
và của nhân dân", đồng thời những quy định tại Nghị định số 151/TTg trước
đây chỉ có tính nguyên tắc thì đến Thông tư 1792/TTg đã được quy định cụ
thể mức bồi thường nhà ở, đất đai, cây lâu năm, hoa màu trên đất.
16
Sau khi giải phóng miền Nam, để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách
mạng mới, Hiến pháp năm 1980 ra đời, bước đầu tạo ra sự đổi mới về nhận
thức cũng như phương thức quản lý kinh tế. Điều 19 của Hiến pháp khẳng
định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng sự phát triển kinh tế vẫn dựa trên
cơ sở chế độ bao cấp. Về đất đai, pháp luật không quy định có giá và không
cho phép đất đai tham gia chuyển dịch dân sự (điều này thể hiện trong Quyết
định số 201/CP ngày 01/07/1980 của Hội đồng Chính phủ). Khi có nhu cầu sử
dụng đất, Nhà nước sẽ cấp đất và không thu tiền sử dụng đất, cần bao nhiêu,
Nhà nước cấp bấy nhiêu, quan hệ đất đai giữa Nhà nước với người sử dụng
đất đơn thuần chỉ là quan hệ "giao - thu".
Luật Đất đai 1987 ra đời dựa trên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước thống nhất quản lý, khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ
cho các mục đích công cộng, người sử dụng đất không được Nhà nước bồi
thường bằng đất, chỉ được bồi thường bằng tiền, tài sản hoa màu có trên diện
tích bị thu hồi.
Ngày 31 tháng 5 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số
186/HĐBT về bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển
sang sử dụng vào mục đích khác. Theo quy định của Nghị định số
186/HĐBT thì các tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để
sử dụng vào mục đích khác phải bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp, đất
có rừng mà người được Nhà nước giao đất phải nộp được điều tiết về ngân
sách Trung ương 30%, còn lại 70% thuộc ngân sách địa phương để sử dụng
vào việc khai hoang, phục hoá, cải tạo đất nông nghiệp và định canh, định cư
cho nhân dân vùng bị lấy đất. Người có đất bị thu hồi chỉ được bồi thường
thiệt hại tài sản trên đất, trong lòng đất. Nếu Nhà nước thu hồi vào đất làm
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP và Thông tư số 145/1998/TT-BTC đã quy
định rõ phạm vi áp dụng bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đối
tượng phải bồi thường thiệt hại, đối tượng được bồi thường thiệt hại, phạm vi bồi
thường thiệt hại và các chính sách cụ thể về bồi thường thiệt hại về đất, tài sản
gắn liền với đất, việc lập khu TĐC cũng như việc tổ chức thực hiện.