i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------
NGUYỄN MẠNH DUY
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG
MẶT BẰNG TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẮC KẠN,
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
ii
Thái Nguyên – 2014ĐẠI
HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------
NGUYỄN MẠNH DUY
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG
MẶT BẰNG TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BẮC KẠN,
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của
các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cơ
quan, đồng nghiệp và nhân dân địa phương.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa
học TS. Nguyễn Đức Nhuận đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo
Khoa Quản lý Tài nguyên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tập thể
Phòng Tài Nguyên và Môi trường, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Ban bồi
thường giải phóng mặt bằng thị xã Bắc Kạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồng
nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện
luận văn này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Duy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
/>
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
2. Mục tiêu tổng quát ..................................................................................... 2
3. Mục tiêu cụ thể .......................................................................................... 2
2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp: .............................. 31
2.4.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp ................................ 31
2.4.3. Phương pháp tổng hợp thống kê và xử lý số liệu........................... 31
Chƣơng 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 32
3.1. Điều kiện tự nhiên, - kinh tế xã hội và tình hình phát triển của thị xã
Bắc Kạn........................................................................................................ 32
3.1.1. Điều kiện tự nhiên .......................................................................... 32
3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội ................................................................. 36
3.2. Công tác quản lý đất đai trên địa bàn thị xã Bắc Kạn .......................... 40
3.2.1. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai ............................................. 40
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất ................................................................... 42
3.3. Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của hai dự án
nghiên cứu trên địa bàn thị xã Bắc Kạn....................................................... 46
3.3.1. Giới thiệu về hai dự án nghiên cứu ................................................ 46
3.3.2. Căn cứ pháp lý liên quan đến hai dự án ......................................... 47
3.3.3. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng hai dự án nghiên cứu .. 48
3.3.4. Đánh giá kết quả thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà
nước thu hồi đất tại 02 dự án trên địa bàn thị xã Bắc Kạn. ...................... 51
3.4. Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế người dân ....................... 65
3.4.1. Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ .................. 65
3.4.2. Tác động đến tài sản sở hữu của hộ .............................................. 68
3.4.3. Tác động đến tình hình ổn định cuộc sống của hộ gia đình........... 69
3.4.4. Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến việc làm của người dân ........ 70
3.4. 5. Tình hình lao động, việc làm của người dân ................................. 71
3.5. Một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 78
1. Kết luận .................................................................................................... 78
2. Kiến nghị.................................................................................................. 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 81
Bất động sản
BAH
:
Bị ảnh hưởng
WB
:
Ngân hàng Thế giới( World bank)
ADB
:
Ngân hàng phát triển Châu Á
CÁC
Bảng 3.1: Hiện trạng, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 .................. 43
Bảng 3.2: Hiện trạng, cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 ............ 45
Bảng 3.3. Tổng hợp diện tích các loại đất thu hồi của dự án Bệnh viện đa
khoa 500 giường................................................................................... 49
Bảng 3.4. Tổng hợp diện tích các loại đất thu hồi của dự án Nâng cấp, cải
tạo đường tỉnh lộ 257 đoạn qua TX Bắc Kạn ...................................... 51
Bảng 3.5. Xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường ......... 53
Bảng 3.6. Tổng hợp kết quả bồi thường về đất của hai dự án ......................... 55
Bảng 3.7. Ý kiến của người bị thu hồi đất về giá đất tính bồi thường tại 2 dự án ...... 55
Trong quá trình đổi mới ở nước ta, đặc biệt những năm gần đây, việc xây
dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị mới đã phát triển nhanh đáp
ứng nhu cầu CNH-HĐH đất nước với mục tiêu đưa nước ta trở thành một
nước công nghiệp vào năm 2020. Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, một diện tích lớn đất đai, trong đó chủ yếu là đất tại
các khu vực nông thôn, đất nông nghiệp được thu hồi sử dụng vào mục đích
phát triển công nghiệp, phát triển đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng. Việc thu hồi
đất diễn ra trên diện rộng trong nhiều năm qua đã tác động lớn tới đời sống
nhân dân và tình hình kinh tế - xã hội khu vực có đất bị thu hồi ở cả hai góc
độ tích cực và tiêu cực.
Có thể thấy trên cả nước, việc bồi thường, giải phóng mặt bằng và công
tác tái định cư đều gặp rất nhiều vướng mắc làm chậm trễ việc khởi công xây
dựng và kéo dài tiến độ thi công của các công trình, không những gây thiệt hại
cho Nhà nước mà còn là nguyên nhân của những vụ khiếu kiện kéo dài, làm ảnh
hưởng đến sự ổn định kinh tế - xã hội - chính trị của địa phương. Cần có chính
sách hợp lý để bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, của nhà đầu tư và
người có đất bị thu hồi, nhưng đồng thời cũng phải có tác dụng ngăn chặn
những người có tư tưởng cơ hội lợi dụng nhu cầu của Nhà nước để đem lại lợi
ích bất hợp pháp cho bản thân.
2
Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn hẹp mà nhu cầu đầu tư ngày càng
tăng thì vấn đề lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi Nhà nước giao đất
cũng như thu hồi đất ngày càng được quan tâm. Trong nhiều năm qua Chính
phủ, các Bộ ban hành và UBND các tỉnh thành trong cả nước đã ban hành và
triển khai nhiều văn bản chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định
cư cho người có đất bị thu hồi. Những bất cập đã được chỉnh sửa, bổ sung
thường xuyên nhằm đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế. Tuy nhiên, để
hoàn thiện về cơ chế chính sách khi thực hiện thu hồi, bồi thường, giải phóng
* Bồi thường về đất
Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu
hồi cho người sử dụng đất [14].
* Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời
sống, sản xuất và phát triển [14].
* Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để
sinh sống và làm ăn. Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi
khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển.
Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài
sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc
sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó. Như vậy, tái định cư là hoạt
động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận
dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung.
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở
thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở tái định cư
- Bồi thường bằng giao đất ở mới
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở [14].
4
1.2. Cơ sở pháp lý
1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
1.2.1.1. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng
đất đai và tổ chức thực hiện
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển
của nền kinh tế - xã hội. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất
đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính
dụng thật tốt nguồn tài nguyên đất không chỉ quyết định tương lai của nền
kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát
triển xã hội. Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định
hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế. Thông
qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc
phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá
trình phát triển đang đặt ra [17].
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để
tổ chức việc bồi thường GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà
Nhà nước đóng vai trò tổ chức. Bất kỳ một phương án bồi thường GPMB nào
đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu
cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Quy hoạch sử
dụng đất không chỉ là công cụ “tạo cung” cho thị trường mà còn là phương
tiện quan trọng nhất thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội hóa về công
bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường GPMB và cũng là công việc mà
hoạt động quản lý nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng
chức năng nhất [17].
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường
đất đai trên hai khía cạnh:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan
trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
dụng đất.
6
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh
hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất
tính bồi thường.
* Đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng
quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử
dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có
những hiểu biết về định giá đất. Định giá đất đó là những phương pháp kinh
tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm
khi chúng tham gia trong một thị trường nhất định. Khi định giá đất người
định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời điểm
định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế. Hiện
nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp truyền thống như
các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh trực tiếp và
phương pháp thu nhập.
Giá đất tính bồi thường thiệt hại về đất là thước đo phản ánh mối quan
hệ kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư. Theo quy định
của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị
trường trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là
giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên
tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh
khiếu kiện [13]. Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2005 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường cho thấy trong 17.480 đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
về đất đai thì có tới 12.348 trường hợp là khiếu nại về bồi thường, GPMB
(chiếm 70,64%). Trong các trường hợp khiếu nại về bồi thường GPMB thì có
tới 70% là khiếu nại về giá đất nông nghiệp bồi thường quá thấp so với giá đất
chuyển nhượng thực tế trên thị trường hoặc giá đất ở được giao tại nơi tái
định cư lại quá cao so với giá đất ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi [1]
Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường GPMB không được
làm tốt sẽ làm cho công tác GPMB ách tắc, dẫn tới không có mặt bằng đầu tư,
làm chậm tiến độ triển khai dự án hoặc làm lỡ cơ hội đầu tư.
8
9
thiếu quan tâm và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách TĐC có thể lớn
hơn rất nhiều chi phí TĐC đúng đắn. Hơn nữa, những người bần cùng hoá, đến
một thời điểm nhất định sẽ là nguyên nhân làm kiệt quệ nền kinh tế quốc dân.
Do vậy, tránh hay giảm thiểu những ảnh hưởng xấu trong việc di dân TĐC, cộng
với việc khôi phục thoả đáng cho những người bị ảnh hưởng, ngoài việc đạt
được lợi ích nền kinh tế, còn đảm bảo tính công bằng đối với họ, điều này giúp
cho các chủ thể an tâm trong quá trình triển khai thực hiện dự án.
TĐC được thực hiện theo ba yếu tố quan trọng:
- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất.
- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới và các dịch vụ
và phương tiện phù hợp.
- Trợ cấp khôi phục để ít nhật người bị ảnh hưởng có được mức sống
đạt hoặc gần đạt so với mức sống trước khi có dự án.
Đối với các dự án có di dân TĐC, việc lập kế hoạch, thiết kế nội dung
di dân là yếu tố không thể thiếu ngay từ chu kỳ đầu tiên của việc lập dự án
đầu tư và những nguyên tắc chính phải được đề cập đến, gồm:
- Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di
dân bắt buộc, nếu không thể tránh được khi triển khai dự án.
- Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để triển vọng
kinh tế, xã hội của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp
không có dự án: đất đai, nhà cửa, cơ sở hạ tầng thích hợp và các loại bồi
thường khác tương xứng như trước khi có dự án phải được cấp cho người bị
ảnh hưởng. Chú trọng đến người dân bản địa (các dự án nước ngoài), dân tộc
thiểu số, nông dân vì học là những người có quyền lợi hoặc quyền hoa lợi
theo phong tục đối với đất và các tài sản khác bị dự án chiếm dụng.
- Các dự án về TĐC phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt, các kế
hoạch TĐC phải được soạn thảo và xác lập tương ứng với thời gian và ngân
quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước,
phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích
công cộng. Luật quy định những nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc
tính giá trị bồi thường các tài sản bị thiệt hại. Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra
các quy định cụ thể về trình tự tiến hành bồi thường TĐC, nguyên tắc cụ thể xác
11
định giá trị bồi thường, các bước lập và phê duyệt dự án bồi thường, thủ tục
thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán,
nhận tiền bồi thường, quyền khiếu nại, quyền khởi kiện đưa ra toà án. Ví dụ:
Ngành điện lực Thái Lan là nơi có nhiều dự án bồi thường TĐC lớn nhất nước,
họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: "Đảm bảo cho những người bị
ảnh hưởng một mức sống tốt hơn" thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất
lượng và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu
nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển xã hội, vì vậy
thực tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án.
1.3.1.3. Trung Quốc
Về pháp luật đất đai, Trung quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật
Việt Nam. Tuy nhiên nhìn tổng thể, việc chấp hành pháp luật của người
Trung Quốc rất cao, việc sử dụng đất tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm.
Do đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước nên không có chính sách bồi
thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuy nhiên
trường hợp cụ thể, Nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi
đất. Nhà nước chỉ bồi thường cho các công trình gắn liền với đất khi bị thu
hồi của các chủ sử dụng.
Việc phương thức bồi thường thiệt hại, Nhà nước thông báo cho người
sử dụng đất biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong phạm vi một năm. Người
dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường thiệt hại bằng tiền hoặc bằng
nhà tại khu ở mới. Tại thủ đô Bắc Kinh và thành phố Thượng Hải, người dân
ở cho phù hợp. Dựa vào khu vực bố trí nhà ở để tăng diện tích, dựa theo phân
cấp từng vùng trong thành phố. Càng ra ngoại vi hệ số tăng thêm càng cao,
mức tăng thêm có thể là 70%, 80% hay 100%.
1.3.1.4. Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Theo kinh nghiệm của các tổ chức Ngân hàng quốc tế thì "... chìa khoá dẫn
tới việc bồi thường TĐC hợp lý là chấp nhận và thực hiện chính sách phát triển
mà con người là trung tâm chứ không phải là chính sách đền bù vật chất..."
Vì vậy, mục tiêu chính sách bồi thường TĐC của Ngân hàng thế giới
(WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) là việc bồi thường TĐC sẽ
được giảm thiểu càng nhiều càng tốt và đưa ra những biện pháp khôi phục để
13
giúp người bị ảnh hưởng cải thiện hoặc ít ra vẫn giữ được mức sống, khả năng
thu nhập và mức độ sản xuất như trước khi có dự án. Các biện pháp phục hồi
được cung cấp là bồi thường theo giá trị thay thế nhà cửa và các kết cấu khác,
bồi thường đất nông nghiệp là lấy đất đai có cùng hiệu suất và phải thật gần
với đất đã bị thu hồi, bồi thường đất thổ cư có cùng diện tích được người bị
ảnh hưởng chấp nhận, giao đất TĐC với thời hạn ngắn nhất. Đối với đất đai
và tài sản được đền bù chính sách của WB và ADB là phải bồi thường theo
giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn
bồi thường TĐC hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện.
Về quyền được tư vấn và tham gia của các hộ bị thu hồi đất, WB và ADB quy
định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường TĐC của dự án
phải thông đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác và tìm mọi cách
thoả mãn nhu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình lập kế hoạch bồi
thường TĐC cho tới khi thực hiện công tác lập kế hoạch. Kế hoạch giải toả
đất được thực hiện sau khi đã hội ý với người bị thu hồi đất. Việc lập kế
hoạch cho công tác bồi thường TĐC được WB và ADB coi là điều bắt buộc
trong quá trình thẩm định dự án. Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào
thời tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng. Cải cách ruộng đất hoàn thành,
nông dân có quyền sử dụng ruộng đất được chia cấp.
Ngay sau khi hoà bình được lặp lại ở Miền Bắc (1954), Đảng và Nhà
nước đã khẳng định con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Để đáp ứng
nhiệm vụ xây dựng đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, ngày 14/4/1959,
Hội đồng chính phủ (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 151/TTg quy
định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất. Đây có thể coi là văn bản pháp
quy đầu tiên liên quan tới bồi thường TĐC bắt buộc ở Việt Nam. Tiếp sau đó,
Liên bộ uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư Liên bộ
số 1424/TTLB ngày 06/7/1959 hướng dẫn việc thi hành Nghị định 151/TTg
với các nguyên tắc cơ bản là đảm bảo kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho
xây dựng, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có
ruộng đất; những người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong
trường hợp cần thiết phải được giải quyết công ăn việc làm; chỉ được trưng
dụng số ruộng đất cần thiết, không được trưng dụng thừa, hết sức tiết kiệm
15
ruộng đất cày cấy trồng trọt; hế sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa
trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa, đền, những người có ruộng đất trưng dụng cần
được báo cáo trước một thời gian là hai tháng để kịp di chuyển.
Khi trưng dụng ruộng đất, Nhà nước xác định, cách bồi thường tốt nhất là
vận động nhân dân điều chỉnh hoặc nhượng ruộng đất cho người được trưng
dụng để họ tiếp tục sản xuất. Trường hợp không làm được như vậy, về đất được
bồi thường bằng số tiền từ 1 - 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị
trưng dụng. Mức bồi thường căn cứ vào thực tế ở mỗi nơi, đời sống của nhân
dân cao hay thấp, ruộng đất ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định. Có thể nói, Nghị
định số 151/TTg ra đời phần nào đáp ứng nhu cầu trưng dụng ruộng đất trong
những năm 1960. Tuy nhiên, Nghị định này chưa có quy định cụ thể về mức bồi
dụng đất, Nhà nước sẽ cấp đất và không thu tiền sử dụng đất, cần bao nhiêu,
Nhà nước cấp bấy nhiêu, quan hệ đất đai giữa Nhà nước với người sử dụng
đất đơn thuần chỉ là quan hệ "giao - thu".
Luật Đất đai 1987 ra đời dựa trên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước thống nhất quản lý, khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ
cho các mục đích công cộng, người sử dụng đất không được Nhà nước bồi
thường bằng đất, chỉ được bồi thường bằng tiền, tài sản hoa màu có trên diện
tích bị thu hồi.
Ngày 31 tháng 5 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số
186/HĐBT về bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển
sang sử dụng vào mục đích
khác. Theo quy định của Nghị định số
186/HĐBT thì các tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để
sử dụng vào mục đích khác phải bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp, đất
có rừng mà người được Nhà nước giao đất phải nộp được điều tiết về ngân
sách Trung ương 30%, còn lại 70% thuộc ngân sách địa phương để sử dụng
vào việc khai hoang, phục hoá, cải tạo đất nông nghiệp và định canh, định cư
cho nhân dân vùng bị lấy đất. Người có đất bị thu hồi chỉ được bồi thường
thiệt hại tài sản trên đất, trong lòng đất. Nếu Nhà nước thu hồi vào đất làm
nhà ở, việc bồi thường thiệt hại về đất không được đặt ra ngoài người bị thu
hồi đất làm nhà ở sẽ phải tự lo liệu.
Tóm lại, do thời kỳ này đất đai được thừa nhận có giá trị nên các chính
sách bồi thường, GPMT còn nhiều hạn chế, thế hiện trong cách tính giá trị bồi
thường, phương thức thực hiện. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách công bằng thì
17
những chính sách này cũng đã đóng vai trò tích cực trong việc GPMB để dành