1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ-QUẢN TRỊ KINH DOANH
DƯƠNG THỊ TRINH
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG
TÚI NILON TRONG SINH HOẠT CỦA NGƯỜI
DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN
THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Kinh tế Tài nguyên-Môi trường k36
Mã số ngành: 52620115
Ngành Kinh tế Tài nguyên-Môi trường k36
Mã số ngành: 52620115
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ths. VÕ THỊ LANG
Tháng 8 – Năm 2013
3
LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn quí Thầy, Cô của Trường Đại học Cần Thơ, đặc
biệt là các Thầy, Cô trong khoa Kinh Tế - Quản Trị Kinh Doanh đã tận tình
hướng dẫn dìu dắt truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu làm hành trang
để tôi bước vào đời. Tôi xin chân thành cảm ơn Ths.Võ Thị Lang đã tận tình
hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Do lần đầu tiên tiếp xúc với thực tế và thời gian có hạn nên đề tài không
tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự đóng góp chân thành của quý Thầy,
Cô để đề tài có thể hoàn thiện hơn.
Lời cuối cùng, xin chúc tất cả mọi người thật nhiều sức khỏe, thật nhiều
niềm vui và thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống.
Xin chân thành cảm ơn.
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập
và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề
tài nghiên cứu khoa học nào. Cần Thơ, Ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
(Ký và ghi họ tên)
Dương Thị Trinh
2.Về hình thức:
3.Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài:
4.Độ tin cậy về số liệu và tính hiện đại của luận văn:
5.Nội dung và các kết quả đạt được:
6.Các nhận xét khác:
Cần Thơ, Ngày tháng năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
(Ký và ghi họ tên)
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin……………………………………… 31
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu ……………………………………… 31
Chương 3: KHÁI QUÁT VỀ QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ
33
3.1 Khái quát về thành phố Cần Thơ…………………………………………33
3.1.1 Điều kiện về xã hội…………………………………………………… 33
3.1.2 Điều kiện về kinh tế 34
3.2 Giới thiệu tổng quan về quận Ninh Kiều…………………………………35
3.2.1 Lịch sử hình thành 35
3.2.2 Hành chính…………………………………………………………… 36
3.2.3 Kinh tế………………………………………………………………….36
3.3 Bảo vệ môi trường……………………………………………………… 37
3.4 Thực trạng rác thải nilon trên địa bàn thành phố Cần Thơ………………39
7
Chương 4: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG TÚI NILON
TRONG SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN QUẬN NINH KIỀU………… 42
4.1 Mô tả đối tượng khảo sát…………………………………………………42
4.2 Mô tả những hoạt động có sử dụng túi nilon…………………………… 46
4.3 Phân tích hành vi sử dụng túi nilon của người dân………………………48
4.4 Ảnh hưởng của nhận thức đến hành vi sử dụng túi nilon của người dân
quận Ninh Kiều………………………………………………………………53
4.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức người dân về tác hại của túi nilon…55
4.5.1 Mối quan hệ giữa độ tuổi và việc mang theo vật dụng chứa đựng khi
mua sắm…………………………………………………………………… 55
4.5.2 Mối quan hệ giữa thu nhập và việc mang theo vật dụng chứa đựng khi đi
mua sắm………………………………………………………………………57
8
PHỤ LỤC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ cơ cấu giới tính………………………………………… 43
Hình 4.2: Cơ cấu độ tuổi của đối tượng nghiên cứu…………………………44
Hình 4.3: Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu………………………45
Hình 4.4 : Cơ cấu nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu………………… 46
Hình 4.5: Cơ cấu thu nhập của đối tượng nghiên cứu……………………… 46
Hình 4.6: Hành vi mang theo dụng cụ khi đi mua sắm………………………47
Hình 4.7: Các hình thức xử lý rác của người dân quận Ninh Kiều………… 51
Hình 4.8: Tỉ lệ đáp viên sẵn sàng mua túi nilon khi có nhu cầu sử dụng…….51
10
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
11
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngày nay, trên thế giới cứ mỗi giây dân số tăng lên 3 người, trong thời
gian ấy cũng có nghĩa là cùng 1 giờ thôi thì trên thế giới có 2280 ha rừng bị
tàn phá và ngót 290.000 tấn chất thải bẩn được sinh ra và có 570 người chết vì
các bệnh liên quan đến chất thải bẩn ấy. Đồng thời, trong khoảng 1 giờ ấy có
720 loài động thực vật bị tuyệt chủng có nghĩa rằng chúng không bao giờ xuất
hiện trên trái đất này nữa. Hàng ngày, có 25000 người chết vì thiếu nước [9].
Trong cuộc sống thường nhật dù vô tình hay cố ý chúng ta đều có những thói
quen gây ô nhiễm môi trường mà chính chúng ta không thể nào ngờ tới. Đất
nước của chúng ta đi đâu cũng thấy rác, rác có mặt khắp mọi nơi từ thành phố
đến nông thôn, từ khách sạn tới nhà bình dân, hay bất cứ nơi đâu, công viên,
trên đường phố. Điều đặc biệt là ngay cả ở trường học nơi dạy cho ta những
kiến thức bổ ích cũng ngập tràn rác. Bất cứ nơi đâu con người cũng có thể vứt
rác, uống xong chai nước cũng vứt, khi đi chùa, lễ hội, đền thờ nơi thiêng
liêng để thờ cúng họ cũng vứt rác bừa bãi,… Có phải thói quen đó đã thấm sâu
vào trong người chúng ta, hay ý thức chúng ta còn quá kém. Có bao giờ chúng
thì nhu cầu cũng cần được thỏa mãn nhiều hơn ở nhiều khía cạnh. Cùng với
tình hình kinh tế ngày càng phát triển là tình trạng dân số ngày một tăng lên,
năm 2011 quận Ninh Kiều có 243.794 người tăng 2,2% so với năm 2010 và
tăng đến 16% so với năm 2007, cộng với việc thu hút lượng sinh viên lớn từ
các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn. Từ những lý do đó làm cho môi
trường sống ngày càng bị hủy hoại mà cụ thể hơn là lượng túi nilon sử dụng
trong sinh hoạt ngày càng dữ dội, ít được quan tâm, mà hậu quả từ tác hại túi
nilon thì không thể lường trước được. Túi nilon lẫn vào đất ngăn cản oxy đi
qua đất, làm chậm sự tăng trưởng của cây trồng, gây xói mòn đất. Túi nilon lọt
vào cống, rãnh, kênh, rạch sẽ làm tắc nghẽn gây ngập úng. Các hoá chất độc
hại còn lại hay lẫn trong quá trình sản xuất túi nilon cũng sẽ thâm nhập vào
đất, vào nguồn nước, vào đồ ăn thức uống gây tổn hại sức khoẻ con người,
Về phía nhà cung cấp muốn thu hút khách hàng, phục vụ cho khách hàng
một cách chu đáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất khi mua sắm, nên họ cứ
vô tư phát miễn phí túi nilon cho khách hàng mà không cần biết hoặc quan
tâm về tác hại của chiếc túi này như thế nào. Trong sinh hoạt, bọc nilon được
sử dụng rất nhiều vì tính tiện lợi, giá lại rẻ, nên không có động lực để giảm,
do đó lượng thải bọc nilon là vô cùng khủng khiếp. Trung bình mỗi người Việt
nam tiêu dùng khoảng 25-35kg nhựa/người/năm và khi đời sống kinh tế ngày
càng khá hơn thì mức tiêu dùng sẽ đạt đến 40kg/người/năm [14]. Từ những
thông tin trên, đề tài “Phân tích thực trạng việc sử dụng túi nilon trong sinh
hoạt của người dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” được đưa ra nghiên
cứu để có cái nhìn rõ ràng hơn về hiện trạng cũng như tác hại của việc sử dụng
túi nilon một cách quá mức cần thiết, nhằm nâng cao nhận thức của người dân
trong quận để đề ra hướng giải quyết tốt nhất, hướng đến môi trường, sức khỏe
và cảnh quan của một khu đô thị đầy tiềm năng phát triển kinh tế.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng việc sử dụng túi nilon trong sinh hoạt của người dân
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian
Đề tài nghiên cứu tập trung vào hiện trạng sử dụng túi nilon từ người bán
hàng và người tiêu dùng ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
1.4.2 Thời gian
- Thởi gian thực hiện đề tài: Tháng 8 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013
- Số liệu thứ cấp thu thập phục vụ nghiên cứu: Số liệu từ năm 2008 đến
đầu năm 2013
- Số liệu sơ cấp được thu thập tháng 9 năm 2013
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về hiện trạng việc sử dụng túi nilon của người
bán hàng và người tiêu dùng từ đó đề xuất giải pháp hạn chế việc sử dụng túi
nilon trong sinh hoạt của người dân quận Ninh Kiều.
14
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam : “Ô nhiễm môi trường là sự làm
thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”. 15
này về môi trường để quảng bá, kêu gọi người tiêu dùng với những hành động
thân thiện, ít gây tổn hại đến môi trường. Ví dụ như khuyến khích sử dụng túi
sinh thái, túi thân thiện ở các siêu thị.
2.1.1.2 Ô nhiễm đất
* Ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay
đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã
sống trong đất. Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các
sinh vật cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp
và văn hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử
dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn
cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người. Nhưng với nhịp độ gia tăng
dân số cùng với tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hóa như
hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày
càng bị suy thoái. Riêng ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất
đáng lo ngại.
Có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo
các tác nhân gây ô nhiễm.
Dựa theo nguồn gốc phát sinh có:
• Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt.
• Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.
• Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.
Dựa theo các tác nhân gây ô nhiễm ta có:
• Chất thải rắn công nghiệp.
• Chất thải rắn nông nghiệp.
• Chất thải rắn xây dựng.
• Chất thải rắn từ các nhà máy xử lý chất thải.
* Tác hại chất thải rắn
• Tác hại của chất thải rắn đối với sức khỏe cộng đồng
Theo đánh giá của chuyên gia, chất thải rắn đã ảnh hưởng rất lớn đến sức
khỏe cộng đồng; nghiêm trọng nhất là đối với dân cư khu vực làng nghề, khu
công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm chất thải rắn
đến mức báo động.
Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy,
dịch tả, thương hàn…do chất thải rắn gây ra.
Đội ngũ lao động của các đơn vị làm vệ sinh đô thị phải làm việc trong
điều kiện nặng nhọc, ô nhiễm nặng, cụ thể: nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn
cho phép từ 1,5 đến 1,9 lần, khí độc vượt tiêu chuẩn cho phép từ 0,5 đến 0,9
lần, các loại vi trùng, siêu vi trùng, nhất là trứng giun, trực tiếp ảnh hưởng đến
sức khỏe của họ.[6]
• Chất thải rắn làm giảm mỹ quan đô thị
Nếu việc thu gom và vận chuyển rác thải không hết sẽ dẫn đến tình trạng
tồn đọng chất thải trong các đô thị, làm mất mỹ quan, gây cảm giác khó chịu
cho cả dân cư trong đô thị.
Không thu hồi và tái chế được các thành phần có ích trong chất thải, gây
ra sự lãng phí về của cải, vật chất cho xã hội.
• Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường
Chất thải rắn đổ bừa bãi xuống cống rãnh, ao, hồ, kênh, rạch,…làm quá
tải thêm hệ thống thoát nước đô thị, là nguồn gây ô nhiễm cho nguồn nước
20 đến 30% gỗ và các thành phần làm bằng gỗ (bệ gỗ, gỗ thừa, nhánh cây, gỗ
xẻ, ván lợp,…), 20 đến 30% là hỗn hợp các loại rác khác (gỗ đã sử dụng, kim
loại, sản phẩm chứa nhựa đường, vữa, kính vỡ, amiăng, các vật liệu điện khác,
ống nước, các bộ phận cấp nhiệt và cấp điện).
• Rác công nghiệp và nông nghiệp điển hình: bao gồm các nguồn như đồ
hộp và thực phẩm đông lạnh, in ấn, xuất bản, ô tô, máy móc tự động, lọc hóa
dầu, cao su, các loại phân bón,…
2.1.3 Sơ lược về túi nilon
2.1.3.1 Khái niệm “ô nhiễm trắng”
18
“Ô nhiễm trắng” được dùng để chỉ phế thải bằng nhựa như chai lọ, can, hộp,
khay,… các loại màng, túi chứa đựng, bao gói thương phẩm,…mà người ta
thải vào môi trường mà chủ yếu là ô nhiễm gây ra bởi túi nilon.
2.1.3.2 Quá trình hình thành túi nilon và cấu tạo của nó
• Quá trình hình thành túi nilon
Túi nhựa xuất hiện cách đây khoảng 150 năm do nhà hóa học Anh
Alexander Parkes phát minh, và đến nay, không ai xác định được chính xác
thời gian nó phân hủy. Tuy nhiên, các nhà môi trường, khoa học gia và giới
sản xuất đều đồng ý rằng quá trình túi nilon phân hủy có thể mất đến 1000
năm. Từ khi xuất hiện trong các siêu thị ở Mỹ vào cuối thập niên 1970, túi xốp
đã có mặt khắp mọi nơi, là vật không thể thiếu của người mua hàng trên thế
giới. Nó nhẹ, chắc và rẻ hơn so với túi giấy. Ước tính, mỗi năm nhân loại xài
khoảng 500 đến 1000 tỉ túi nhựa. Túi nilon được sản xuất từ nhựa
thấp với các hệ xúc tác như crom/silic catalyst,…thường gọi là túi xốp, dùng
phổ biến trong siêu thị, chợ, các trung tâm thương mại,…
- Túi nilon sản xuất từ hạt nhựa mật độ thấp polyethylene (LDPE) là một
nhựa nhiệt dẻo làm từ dầu khí. Đây là lớp đầu tiên của polyethylene LDPE,
thường gọi là nilon trong, đựng đường, muối,…
- Túi sản xuất từ nhựa polypropylene - PP, còn được gọi là polypropene,
là một nhựa nhiệt dẻo polymer, thường cung cấp cho thị trường buôn bán
thuốc tây để phân liều thuốc,…Cho dù là loại túi nilon ở dạng nào thì tác hại
của chúng đối với môi trường đều như nhau.
2.1.3.3 Một số nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm rác thải nilon
trong sinh hoạt
Nguyên nhân chính dẫn đến việc sử dụng túi nilon một cách tràn lan là
do giá thành. Do bao nilon có giá thành rẻ hơn hẳn so với các loại vật liệu
khác và được các thương nhân sẵn sàng cho không để làm vừa lòng khách nên
lượng bao nilon lưu thông trên thị trường ngày càng nhiều.
Với ưu điểm bền, chắc, tiện dụng và đặc biệt là các loại túi siêu mỏng rất
dễ dàng cho việc phân loại sản phẩm, ngay cả những sản phẩm ướt hoặc chất
lỏng đều có thể dùng để đựng được.
Do ý thức của người dân còn kém, còn vứt bừa bãi túi nilon ra môi trường
tự nhiên và dù có khá nhiều người biết về tác hại của túi nilon gây ra, nhưng
chưa ai thực sự nói không với túi nilon.
Mặc dù biết được tác hại to lớn của việc sử dụng tràn lan túi nilon nhưng
người dân khó lòng từ bỏ vì hiện nay việc thay thế chiếc túi này bằng những
chiếc túi đựng khác vẫn chưa được áp dụng phổ biến.
2.1.4 Sơ lược về hành vi con người
2.1.4.1 Khái niệm về nhận thức
Nhận thức là một hoạt động quan trọng nối kết các yếu tố ảnh hưởng
chính như nhóm, tình huống, chương trình tiếp thị đến cá nhân. Nhận thức là
- Nhân tố cá nhân: Là những đặc điểm chính của cá nhân. Sự thích thú
hoặc nhu cầu được xem như là những đặc tính cá nhân chính mà cần phải có
sự tác động. Sự thích thú là sự phản ánh phong cách sống, là kết quả của quá
trình lên kế hoạch và đạt mục tiêu lâu dài (ví dụ như để trở thành một giám
đốc kinh doanh) và nhu cầu ngắn hạn (ví dụ như đói bụng). Cá nhân tiếp nhận
và quan tâm đến những thông tin liên quan đến nhu cầu hiện tại của mình.
- Nhân tố tình huống: Bao gồm các kích thích của môi trường như quảng
cáo, đóng gói và các tính chất nhất thời của cá nhân sẽ bị ảnh hưởng bởi môi
trường bên ngoài như áp lực về mặt thời gian hoặc sự đông đúc quá mức.
Những cá nhân ở trong một môi trường không thỏa mãn thì sẽ không quan tâm
đến những kích thích vì họ chỉ muốn thoát ra khỏi môi trường đó càng nhanh
càng tốt. Ngoài ra để tác động đến sự chú ý còn có sự ảnh hưởng của chương
trình: Các chuyên mục quảng cáo trên báo chí, tivi xuất hiện cùng với nội
dung của chương trình này.
• Bước 3: Diễn giải: Diễn giải là sự gán nghĩa cho các thông tin tiếp nhận
từ các giác quan. Khả năng diễn giải của người tiếp nhận phụ thuộc các yếu tố
thuộc về cá nhân, đặc điểm tình huống, đặc điểm của các tác nhân kích thích,
sự diễn giải của thông điệp,…
Quá trình nhận thức diễn ra không giản đơn, thụ động máy móc, mà là
quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cách năng động,
sáng tạo, biện chứng.
21
Có thể chia hoạt động nhận thức làm hai giai đoạn lớn:
Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác)
Là một quá trình tâm lí, nó là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của
không chú ý
đến.
Thứ nhất: túi nilon gây tác hại ngay từ khâu sản xuất bởi vì việc sản xuất
túi nilon phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, do đó trong
22
quá trình sản xuất nó sẽ tạo ra khí CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính, thúc đẩy
biến đổi khí hậu toàn cầu.
Thứ hai: Việc sử dụng túi nilon sẽ gây tác hại xấu tới sức khoẻ của con
người. Theo phân tích của ông Nguyễn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Công
nghệ hoá học thì túi nilon được làm từ nhựa PVC (pholy vinyl clorua) không
độc nhưng các chất phụ gia thêm vào để làm cho túi nilon mềm, dẻo, dai lại vô
cùng độc hại. Các chất phụ gia chủ yếu được sử dụng là chất hoá dẻo, kim loại
nặng, phẩm màu là những chất cực kỳ nguy hiểm. Chất phụ gia hóa dẻo
TOCP (triorthocresylphosphat) có thể làm tổn thương và làm thoái hoá thần
kinh ngoại biên và tuỷ sống; chất BBP có thể gây độc cho tinh hoàn và gây ra
một số dị tật bẩm sinh nếu thường xuyên tiếp xúc với nó. Những loại túi nilon
tái chế hoặc hộp nhựa, bình nhựa, túi nhựa có thể chứa DOP (dioctin phatalat)
cực độc, ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục nam. Trẻ em bị nhiễm chất này lâu
dài có thể thay đổi giới tính: các bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh nam; còn
bé gái có nguy cơ dậy thì rất sớm. Các loại nilon màu nếu sử dụng để đựng
thực phẩm tươi sống, đồ ăn chín có thể khiến thực phẩm nhiễm các kim loại
như chì, clohydric gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi.
Đặc biệt nếu sử dụng để đựng các thực phẩm chua có tính axit như dưa muối,
cà muối hoặc thực phẩm nóng, các chất hóa dẻo trong túi nilon sẽ tách khỏi
thành phần nhựa lớn gây độc cho thực phẩm. Khi ngấm vào dưa chua, axit
- Ngoài ra, bên cạnh ảnh hưởng tới nguồn nước, đất, sức khỏe, túi nilon
còn gây mất mỹ quan.
Mọi người vẫn thờ ơ với những mối nguy hại (Nguồn: Internet).
- Một tác hại nữa đó là việc xử lý túi nilon là một bài toán khó giải. Các
nhà khoa học đã chỉ ra rằng, việc chôn lấp túi nilon sẽ ảnh hưởng tới môi
trường đất, nước do nilon khó phân huỷ, còn đốt chúng sẽ tạo ra khí thải có
chất độc dioxin và Furan gây ngộ độc, ảnh hưởng đến tuyến nội tiết, gây ung
thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá và các dị tật bẩm
sinh ở trẻ nhỏ Theo các nhà khoa học, trong một số loại túi nilon có lẫn lưu
huỳnh, dầu hỏa nguyên chất, khi bị đốt cháy, gặp hơi nước sẽ tạo thành axit
sunfuric dưới dạng các cơn mưa axit, rất có hại cho phổi.
- Tuy nhiên chỉ riêng những nỗ lực của các tổ chức, cá nhân riêng lẻ chưa
đủ sức mạnh để giảm thiểu tác hại do túi nilon gây ra. Điều quan trọng nhất là
thái độ và hành động của cả cộng đồng đối với việc này. Trong khi chưa có
những chính sách pháp luật và các loại túi thay thế để hạn chế việc sử dụng túi
nilon, mỗi người dân chúng ta cần có những hành động thiết thực và cụ thể để
24
hạn chế đến mức thấp nhất tác hại do túi nilon gây ra cho sức khoẻ và môi
trường sống.[15]
2.1.6 Tái chế phế thải nilon
a.Thành tựu
Công nghệ xử lý rác thải nilon của Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây
dựng) đã tạo ra nguồn nguyên liệu phong phú cho các mặt hàng ván ép, cốp 25
cơ sở nhỏ thu mua, tái chế túi nilon nhưng chỉ với quy mô nhỏ do ý thức về
phân loại rác còn hạn chế.
b. Hạn chế
Tái chế bọc nilon, nhựa mang lại lợi ích lớn về kinh tế, tuy nhiên còn
nhiều vấn đề kéo theo rất đáng được quan tâm. Đó là tình trạng ô nhiễm môi
trường và ảnh hưởng đến sức khỏe vẫn là bài toán chưa có lời giải. Việc xử lý
tại các cơ sở ở các vùng nông thôn hiện chủ yếu là bằng phương pháp thủ
công, không qua xử lý hóa học. Sau khi tái chế ra túi nilon thành phẩm, người
làm nghề chỉ rửa qua bằng nước vôi trong rồi sấy khô và bán ra thị trường.
Trong khi đó, các sản phẩm làm ra là các loại túi nhựa đang được sử dụng để
đựng thực phẩm hằng ngày vẫn chưa có cơ quan quản lý vệ sinh an toàn thực
phẩm nào kiểm tra mức độ an toàn. Đây cũng là một mối đe dọa không nhỏ
đối với sức khỏe cộng đồng.
Ở những vùng tái chế túi nilon, thường có các dạng ô nhiễm hữu cơ
BOD và COD, ô nhiễm sinh vật và ô nhiễm dầu. Hàm lượng Amoniắc,
nitrit,…Mật độ vi khuẩn coliform ở các ao hồ kênh mương cao, ô nhiễm trong
không khí, những người làm nghề tái chế túi nilon thường mắc các bệnh về
đường hô hấp, tai mũi họng, da, mắt, thần kinh,…ngày càng gia tăng. Đây là
một thực trạng đáng lo ngại.
2.1.7 Sản xuất túi tự hủy và phân hủy sinh học
a. Thành tựu
• Khoảng vài năm trở lại đây, thị trường rộ lên những thông tin về việc sản
xuất bao bì tự hủy thay cho túi nilon thông thường để hưởng ứng lời kêu gọi
bảo vệ môi trường.