BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG TRÙN QUẾ
(Perionyx excavatus) ĐỂ XỬ LÝ PHÂN VỊT CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
TS. BÙI THỊ MINH DIỆU TRẦN NGỌC MỲ
MSSV: 3102751
LỚP: CNSH K36
Cần thơ, tháng 05/2014
MSSV: 3102751
LỚP: CNSH K36 Cần thơ, tháng 05/2014 PHẦN KÝ DUYỆT CÁN BỘ HƢỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
TS. Bùi Thị Minh Diệu Trần Ngọc Mỵ
DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
Trần Ngọc Mỳ
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2014 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học i Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
TÓM LƢỢC
Ngành chăn nuôi vịt ngày càng phát triển và mở rộng qui mô từ chăn nuôi nhỏ lẻ
đến qui mô công nghiệp. Lượng phân thải ra đã trở thành sức ép đối với môi trường,
việc tìm ra phương pháp xử lý phân vịt hiệu quả là vô cùng cần thiết. Đề tài “Nghiên
cứu khả năng sử dụng trùn Quế (Perionyx excavatus) để xử lý phân vịt” được tiến
hành nhằm xử lý phân vịt nhờ hoạt động phân hủy chất hữu cơ của trùn, đồng thời thu
được nguồn thức ăn giàu đạm là thịt trùn Quế. Thí nghiệm ảnh hưởng của tỷ lệ trùn
đến khả năng xử lý phân vịt được tiến hành với 4 mức 0%, 1,5%, 2,5% và 3% trùn
cùng xử lý 3kg phân vịt. Cho thấy khi sử dụng tỷ lệ trùn là 3% sẽ rút ngắn thời gian xử
lý phân vịt (26,7 ngày), phân vịt sau xử lý mùi hôi giảm đi nhiều. Khảo sát ảnh hưởng
của chất độn (bã mía) với các tỷ lệ 0%, 30%, 50%, 70% đến sự phát triển của trùn
Quế. Kết quả cho thấy nghiệm thức có tỷ lệ phối trộn 30% bã mía và 70% phân vịt là
phù hợp, khối lượng trùn tăng 1,74 lần so với ban đầu, chất lượng thịt trùn cao: hàm
lượng vật chất khô: 23,41%, hàm lượng protein tổng số/trọng lượng khô: 65,67%,
hàm lượng đạm amin/trọng lượng khô: 0,58mg/kg, Coliforms: 36 MPN/g và không có
sự hiện diện E.coli, đạt tiêu chuẩn về thức ăn chăn nuôi. Ngoài ra phân hữu cơ sau
nuôi trùn (vermicompost) có tỷ lệ C/N: 11,58, hàm lượng nitơ tổng số: 1,58%, hàm
lượng lân tổng số: 1,50%, hàm lượng IAA: 2,86 mg/kg, Coliforms: 24.10
2
MPN/g, tỷ lệ
E.coli: 74 MPN/g.
Từ khóa: bã mía, phân trùn (Vermicompost), phân vịt, trùn Quế Perionyx
excavatus, Vermicomposting.
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
TỪ VIẾT TẮT vii
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU 1
CHƢƠNG 2. LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2014 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học iii Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
3.1. Phƣơng tiện nghiên cứu 13
3.1.1. Thời gian và địa điểm 13
3.1.2. Nguyên vật liệu 13
3.1.3. Dụng cụ, thiết bị 13
3.1.4. Hóa chất 13
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 13
3.2.1. Ảnh hưởng của tỷ lệ trùn Quế đến khả năng xử lý phân vịt. 13
3.2.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ chất độn (bã mía) đến sự phát triển của trùn Quế 15
3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu 16
4.1. Ảnh hƣởng của tỷ lệ trùn đến khả năng xử lý phân vịt 17
4.1.1. Ảnh hưởng của tỷ lệ trùn đến thời gian phân hủy phân vịt 17
4.1.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ trùn đến đến tốc độ tăng trưởng của trùn quế 18
4.1.3. Đánh giá cảm quan mùi của phân vịt sau khi được trùn xử lý 19
4.2. Ảnh hƣởng của tỷ lệ chất độn (bã mía) đến sự phát triển của trùn Quế 20
4.3. Ảnh hƣởng của tỷ lệ chất độn (bã mía) đến chất lƣợng thịt trùn Quế 21
4.3.1. Ảnh hưởng của tỷ lệ chất độn đến hàm lượng vật chất khô của thịt trùn Quế
21
4.3.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ chất độn đến hàm lượng protein tổng số của thịt trùn
Quế 22
4.3.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ chất độn đến hàm lượng đạm amin của thịt trùn Quế
.23
4.3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ chất độn đến mật số vi sinh vật có hại trong thịt trùn
CHƢƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2014 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học v Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng của một số loại phân chuồng (Đơn vị %) 2
Bảng 2. So sánh thành phần dinh dưỡng giữa thịt trùn Quế và một số thức ăn chăn
nuôi thông thường (Đơn vị %) 6
Bảng 3. Thành phần hoá học trong bã mía (Đơn vị %) 10
Bảng 4. Tốc độ tăng trưởng của trùn Quế (Đơn vị lần) 18
Bảng 5. Đánh giá cảm quan mùi của phân vịt sau khi trùn xử lý 19
Bảng 6. Mật số vi sinh vật có hại trong thịt trùn Quế (Đơn vị MPN/g) 24
Bảng 7. Tỷ lệ C/N của phân trùn 24
Bảng 8. Mật số vi sinh vật có hại trong phân vịt và phân trùn (Đơn vị MPN/g) 32 Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2014 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học vi Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1: Trùn Quế Perionyx excavatus 3
Hình 2: Phân trùn Quế (Vermicompost) 7
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nói chung đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
của Việt Nam, trong đó, chăn nuôi vịt ngày càng phát triển với nhiều qui mô từ nhỏ lẻ
thả đồng đến qui mô công nghiệp. Theo thống kê, hàng năm có hơn hai triệu tấn phân
thải ra môi trường, gây ra ô nhiễm nghiêm trọng. Để giảm thiểu rủi ro và quản lý tốt
hơn chất thải chăn nuôi vịt tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, theo Nick Taylor – Chuyên
gia tư vấn của FAO, lượng phân này có thể được tận dụng làm phân vi sinh (compost)
và sẽ an toàn sau 7 – 10 ngày xử lý (Báo NNVN – Số 75 – Ngày 15/4/2011).
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trùn Quế phát triển khá mạnh ở các vùng
lân cận Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Trùn Quế là
một trong những giống trùn đã được thuần hóa, nhập nội và đưa vào nuôi công nghiệp
với các quy mô vừa và nhỏ. Đây là loài trùn sinh sản nhanh, xuất hiện rải rác ở vùng
nhiệt đới, dễ bắt bằng tay, vì vậy rất dễ thu hoạch. Trùn Quế được sử dụng rộng rãi
trong việc chuyển hóa chất thảm ở Philippines, Australia và một số nước khác
(Gurrero, 1983; Edwards, 1995).
Trùn Quế chủ yếu được nuôi bằng các loại phân của động vật ăn cỏ, như phân
bò, phân trâu,… nhưng những loại phân này ngày càng khan hiếm. Trong khi đó,
nguồn phân vịt dồi dào thì không được sử dụng mà lại thải trực tiếp ra môi trường gây
ô nhiễm nghiêm trọng. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu khả năng sử dụng trùn Quế
(Perionyx excavatus) để xử lý phân vịt” có ý nghĩa rất thiết thực trong việc hạn chế
hiện trạng ô nhiễm môi trường do chất thải từ ngành chăn nuôi vịt và tạo ra một loại
phân sinh học giúp nâng cao năng suất cây trồng với giá thành rẻ lại an toàn cho sức
khỏe con người. Ngoài ra còn thêm nguồn lợi thu từ thịt trùn Quế giàu protein.
1.2. Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu qui trình phù hợp để xử lý tốt phân vịt bằng trùn Quế, tạo ra phân
hữu cơ và nguồn thức ăn giàu đạm cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, tôm, cá…
O
CaO
MgO
Heo
82,0
0,80
0,41
0,26
0,09
0,10
Trâu bò
83,1
0,29
0,17
1,00
0,35
0,13
Ngựa
75,7
0,44
0,35
0,35
0,15
0,12
Gà
56,0
1,63
0,54
0,85
2,40
các quy mô vừa và nhỏ, phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở Philippines,
Ấn Độ, Úc.
Đây là loài trùn sinh sản nhanh, xuất hiện rải rác ở vùng nhiệt đới, dễ bắt bằng
tay, vì vậy rất dễ thu hoạch. Chúng được sử dụng rộng rãi trong việc chuyển hóa chất
thảm ở Philippines, Australia và một số nước khác (Gurrero, 1983; Edwards, 1995).
Kích thước Trùn Quế trưởng thành từ 10 – 15 cm, nước chiếm khoảng 80 – 85%, chất
khô khoảng 15 – 20%. Hàm lượng các chất (tính trên trọng lượng chất khô) như sau:
protein: 68 –70%, lipid: 7 – 8%, chất đường: 12 –14 %, tro 11 – 12%. Do có hàm
lượng protein cao nên trùn Quế được xem là nguồn dinh dưỡng bổ sung quý giá cho
các loại gia súc, gia cầm, thủy hải sản,…Ngoài ra, trùn Quế còn được trong y học,
công nghệ chế biến thức ăn gia súc,…Phân trùn là loại phân hữu cơ sinh học có hàm
lượng dinh dưỡng cao, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, không gây ra tình trạng
―sốc‖ phân, yêu cầu trữ dễ dàng, đặc biệt thích hợp cho các loại hoa kiểng, làm giá thể
vườn ươm và là nguồn phân thích hợp cho việc sản xuất rau sạch (Nguyễn Văn Bảy,
2004).
Luận văn tốt nghiệp Đại học khóa 36 – 2014 Trường ĐHCT Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 4 Viện NC và PT Công nghệ Sinh học
2.2.2. Đặc tính sinh học của trùn Quế
Thân trùn hơi dẹt, có hai đầu nhọn. Con trưởng thành có thể dài 10 - 15cm, nặng
khoảng 0,08 – 0,15g, bề ngang của con trưởng thành có thể đạt 0,1 – 0,2 cm. Thân hơi
dẹt, có màu đỏ mận chín ở lưng, có đai sinh dục chiếm năm đốt từ đốt thứ XIII-XVII
và có hai lỗ sinh dục đực nằm ở gần nhau, trong vùng lõm hình trứng ở đốt XVIII.
Trùn Quế rất linh hoạt, cơ thể tiết ra hương thơm (Nguyễn Văn Bảy, 2004). Búi tuyến
da của trùn trưởng thành bắt đầu khoảng chừng 12 đốt tính từ miệng và 6 đốt phủ
ngoài. Phần trước của nó màu tím đậm và phần sau màu đỏ đậm hoặc màu nâu (Selden
et al., 2005). Đem chúng ra ngoài ánh sáng thì cơ thể phát dạ quang màu xanh tím.
Trùn Quế thích nghi được ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới (Selden et al., 2005). Sau
khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều vi sinh vật cộng sinh, chúng thải phân (Vermicast)
Trùn Quế rất thích sống trong môi trường ẩm ướt và có độ pH ổn định, do đó, pH
ban đầu của chất nền nuôi trùn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ và khả
năng sinh trưởng của trùn. pH thích hợp nhất vào khoảng 7,0 – 7,5 (Allee et al., 1930;
Petrov, 1946), nhưng trùn Quế có khả năng chịu đựng được phổ pH khá rộng, từ 4 – 9,
nếu pH quá thấp, chúng sẽ bỏ đi. pH trung tính là tối ưu cho sự ổn định của chất thải
và sự phát triển của trùn Quế, khoảng pH này cũng được đề nghị sử dụng trong việc
sản xuất phân trùn Bhawalkar (1995). Môi trường có tính acid không phù hợp cho việc
nuôi trùn (Singh et al., 2005).
Trùn Quế thích nghi với phổ thức ăn khá rộng, chúng ăn bất kỳ chất thải hữu cơ
nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc, gia cầm) và
chuyển thành loại chất giàu dinh dưỡng hơn (Kale et al., 1988; Hallat et al., 1992).
Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ hấp dẫn chúng hơn, giúp
cho chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn. Trong tự nhiên, trùn Quế thích sống nơi ẩm
thấp, gần cống rãnh hoặc nơi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thối rữa như trong
phân động vật, rác hoai mục.
2.2.4. Sự sinh sản và phát triển
Trùn Quế lớn lên trong kén – trùn non – trùn trưởng thành. Trùn Quế là loài
lưỡng tính (Selden et al., 2005), có đai và các lỗ sinh dục nằm ở phía đầu của cơ thể,
có thể giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗi con, kén được hình thành ở
đai sinh dục. Kén có dạng hình thon dài, hai đầu túm lại gần giống hạt bông cỏ, ban
đầu màu trắng đục, chuyển sang xanh nhạt sau đó là vàng nhạt (Nguyễn Thị Huệ
Thanh, 2002). Mỗi kén có chứa nhiều trứng đã được thụ tinh, với điều kiện thích hợp
chúng sẽ nở trong 2 – 3 tuần. Tốc độ sinh sản phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ và môi
trường. Với điều kiện thuận lợi, mỗi con trùn Quế có thể sinh được 20 con/tuần
(Selden et al., 2005). Còn theo Nguyễn Thị Huệ Thanh (2002) mỗi kén mang từ 2 – 20
trứng và trong mỗi kén có thể nở từ 2 – 10 con.
Khi mới nở, trùng nhỏ như kim có màu trắng, dài khoảng 2 – 3mm, sau 5 – 7
ngày, cơ thể chúng sẽ chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện một vành đỏ thẫm
Luận văn tốt nghiệp Đại học khóa 36 – 2014 Trường ĐHCT
đậu tƣơng
Bột tằm
Bột tép
đông khô
Protein
9,4
47,24
45,0
46,02
68,6
50,9
Lipid
2,3
11,56
6,4
1,3
6,68
3,4
Cellulose
1,3
6,53
2,4
5,0
5,5
5,6
Tro
3,2
16,08
27,02
6,0
Hình 2: Phân trùn Quế (Vermicompost)
(*Nguồn: , 15/011/2013)
Phân trùn thích hợp với nhiều loại cây trồng, chúng chứa các khoáng chất cây trồng
có khả năng hấp thụ một cách trực tiếp mà không cần quá trình phân huỷ trong đất như
những loại phân hữu cơ khác. Chất mùn trong phân trùn còn loại trừ độc tố nấm có hại
và vi khuẩn trong đất nên nó có thể đẩy lùi những bệnh của cây trồng. Phân trùn còn
gia tăng khả năng giữ nước của đất, chống xói mòn. Đặc biệt phân trùn thích hợp bón
cho các loại hoa kiểng, làm giá thể vườn ươm và là nguồn phân thích hợp cho việc sản
xuất rau sạch.
Luận văn tốt nghiệp Đại học khóa 36 – 2014 Trường ĐHCT Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 8 Viện NC và PT Công nghệ Sinh học
Phân trùn Quế có cấu trúc tốt hơn so với các loại phân thông thường, và chứa các
chất dinh dưỡng ở dạng mà cây có thể sử dụng trực tiếp. Phân trùn có những đặc tính
hóa học và sinh học nổi bật với các chất điều hòa sự tăng trưởng thực vật mà ở những
loại phân khác thiếu và quần thể vi sinh vật lớn, đa dạng (Edwards, 1998). Hàm lượng
N trong phân trùn cũng cao hơn so với các loại phân thông thường khác và khi dùng phân
trùn bón cho cây, nhận thấy cây được cung cấp nhiều chất dinh dưỡng như: phospho (P),
Kali (K), lưu huỳnh (S), Magiê (Mg) hơn so với dùng các loại phân thông thường bón vào
đất (Atiyeh et al., 2000).
2.3.2. Tính chất của phân trùn
Giàu chất dinh dƣỡng
Phân trùn là một loại ‗phân bón hữu cơ‘ giàu NPK (nitơ 2-3%, kali 1,85-2,25% và
phospho 1,55 - 2,25%), các vi chất dinh dưỡng, vi sinh vật đất có lợi như vi khuẩn cố
định đạm (Sighn et al., 2009).
Theo báo cáo của Kale et al. (1986), trong sản phẩm bài tiết của trùn có 7,37%
Nitơ (N) và 19,58% phospho như P
Chất mùn trong phân có nhiều vi sinh có lợi, vi khuẩn hiếu khí loại trừ được độc
tố, nấm độc và vi khuẩn có hại trong đất, giúp cây trồng kháng được bệnh tật.
Edwards và Arancon (2004) đã tìm thấy rằng việc sử dụng phân trùn giúp ức chế
bệnh do nấm và tuyến trùng thực vật ký sinh trên hồ tiêu, cà chua, dâu tây và nho.
Dễ hấp thu:
Phân trùn có độ pH trung bình làm giảm lượng acid carbon trong đất, gia tăng
hàm lượng nitơ trong một trạng thái cây trồng dễ hấp thụ. Acid humic trong phân trùn
kích thích sự phát triển cây trồng đồng thời kích thích sự phát triển mật độ vi khuẩn
trong đất.
Năng suất cây trồng cao:
Giàu hormone tăng trưởng: theo Neilson (1951) và Tomati (1988) khi thêm dung
dịch chiết xuất từ phân trùn cho kết quả tăng trưởng tương tự như với việc bổ sung
auxin, giberelin và cytokinin vào đất.
Chauhan (2009) và Valani (2009) cũng báo cáo tăng trưởng cực kỳ tốt của ngô
và lúa mì trong chậu khi sử dụng phân trùn so với phân trộn thông thường và phân bón
hóa học. Singh (2009) báo cáo vụ mùa lúa mì trồng bằng phân trùn cho năng suất cao
hơn so với bón cùng một lượng phân bón hóa học.
2.4. Sơ lƣợc về bã mía
Mía là loại cây trồng rất phổ biến ở nước ta, thành phần hóa học của mía thay đổi
theo giống, đất đai và chế độ canh tác. Ở nước ta, bã mía chủ yếu được sử dụng để
trồng nấm, sản xuất điện, nhiên liệu sinh học, thức ăn gia súc hoặc là ủ phân hữu cơ để
trồng cây,… Tại các nhà máy đường, bã mía thường được đem đi đốt để cung cấp một
phần năng lượng cho nhà máy, hoặc kết hợp với các phụ gia khác để sản xuất ván ép,
nhưng chủ yếu là được đốt đi và điều đó gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Trong bã
Luận văn tốt nghiệp Đại học khóa 36 – 2014 Trường ĐHCT Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 10 Viện NC và PT Công nghệ Sinh học
mía chứa trung bình 49% là nước, 48% là xơ (trong đó chứa 45-55% cellulose) 2,5%
là chất hoà tan mà chủ yếu là đường (Jennifer và Trade, 2008). Để tận dụng được bã
0,32
Phospho
0,15
Vật chất khô
92,57
Nguồn:
a/
Chu Thị Thơm et al. ( 2006)
b/
Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm Viện Chăn nuôi Quốc gia ( 2001)
2.5. Một vài nghiên cứu về trùn Quế trên thế giới và Việt Nam
2.5.1. Trên thế giới
Edwards et al. (1998) đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng tăng
trưởng và sinh sản của trùn Quế P. excavatus trên các loại chất thải hữu cơ khác nhau
trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy ở 30
º
C thúc đẩy nhanh quá trình
tăng trưởng và giảm thời gian thành thục sinh dục của trùn Quế. Tuy nhiên, ở 25
0
C tốc
độ sinh sản diễn ra nhanh nhất ở cả phân gia súc và bùn thải. Thời gian trung bình để
trứng nở giảm và mức độ kén nở thành công tăng theo nhiệt độ. Trùn Quế tăng trưởng
như nhau ở cả phân phân heo và bùn thải, nhưng lại không tăng trưởng tốt trên phân
ngựa và tăng trưởng kém trên phân gà tây.
Theo Mason (Đại học Florida – Mỹ), thịt trùn tươi là thức ăn lý tưởng để nuôi
động vật thủy sản, sản xuất con giống ba ba, rùa, lươn, tôm, cá chình. Với cá tầm, nếu
các loại phân khác nhau, cho thấy sinh khối trùn tăng cao nhất trong môi trường phân
trâu và phân dê, thấp nhất trong môi trường phân heo.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Thị Thùy Dương (2003)
trùn Quế chứa hàm lượng protein rất cao, các kết quả phân tích cho thấy hàm lượng
protein của trùn có thể đạt đến 70% trọng lượng khô. Các acid amin, trong protein của
trùn đất khá đầy đủ và cân đối. Đặc biệt trong sinh khối của trùn Quế chứa rất nhiều
vitamin như thiamin (12,9mg/kg), niacin (567mg/kg), acid pantotenic (18,4mg/kg),
pyridoxine (6,6mg/kg), acid folic (1,94mg/kg), biotin (1,53mg/kg).
Luận văn tốt nghiệp Đại học khóa 36 – 2014 Trường ĐHCT Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 12 Viện NC và PT Công nghệ Sinh học
Vũ Đình Tôn (2009) đã nghiên cứu sử dụng phân trùn Quế nhằm nâng cao giá trị
dinh dưỡng cho cây trồng. Và Phan Thị Bích Trâm et al. (2009) nghiên cứu sử dụng
bột đạm từ trùn Quế làm thức ăn cho hậu ấu trùng tôm sú.
Năm 2010, Nhóm nghiên cứu đến từ Khoa Công nghệ Sinh học – Đại học mở
TP.HCM, Đại học Y dược TP.HCM, Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn 2 TP.HCM nghiên cứu, thực hiện phân lập và sàng lọc in vitro một số
hoạt tính probiotic trong nuôi trồng thủy sản của 2 nhóm vi khuẩn, vi khuẩn nitrate hóa
và Bacillus từ dịch trùn thô và phân trùn Quế phân lập được 40 chủng Bacillus, thu
nhận được 7 chủng: B. subtilis, B. polyfermenticus, B. pumilus, B. licheniformis, B.
flexus, B. thuringensis vừa có hoạt tính probiotic cao vừa có khả năng đối kháng với
nhiều vi khuẩn thường gây bệnh cho động vật thủy sản (V. harveyi, V.
parahaemolyticus, V. alginolyticus, A. hydrophyla, A. caviae, P. aeruginosa, E. coli),
vừa có khả năng emzyme ngoại bào (amylase, protease, cellulase và lipase). Đồng
thời, phân lập được 10 chủng vi khuẩn oxy hóa amon và 7 chủng vi khuẩn oxy hóa
nitrite. Kết quả cho thấy 5 chủng này đều có hoạt tính cao và có tiềm năng ứng dụng
làm probiotic xử lý nitrate trong nuôi trồng thủy sản.
Năm 2011, Vũ Đình Tôn và Hán Quang Hạnh nghiên xứu xác định mức sử dụng
bột trùn Quế thích hợp trong khẩu phần ăn của gà Broiler nuôi thả vườn.
nhiệt ướt Pbi international, cân Sartorius, tủ hút Huy Hoàng, máy đo pH Eutech
(Malaysia), buret, pipet, bình định mức, ống đong, chai lọ thủy tinh…
3.1.4. Hóa chất
H
2
SO
4
đậm đặc, NaOH, K
2
Cr
2
O
4
, FeCl
3
, HCl, NaCl, K
2
SO
4,
CuSO
4
Acid boric, dung dịch tiêu chuẩn phospho, môi trường canh thang Tryptose et
Lauryl sulfate natri, Môi trường xanh lục sáng (Brilliant Green Bile Broth – BGBL),
bột IAA chuẩn, acid ascorbic, thuốc thử Kovac‘s, Kali antimoantartrat,
amoni molypdat [(NH
4
)
8
Sau khi vận chuyển trùn từ Tiền Giang về, để riêng cho trùn phục hồi sức do
vận chuyển xa, đồng thời loại bỏ con đã chết trong quá trình vận chuyển để tránh ảnh
hưởng đến những trùn còn sống.
Thả trùn vào buổi sáng, cho vào chuồng nuôi một lớp sinh khối cũ (giúp trùn
thích nghi trước khi đổi môi trường sống và nguồn thức ăn mới), cân trùn tinh theo tỷ
lệ đã định ở các nghiệm thức cho lên bề mặt sinh khối. Trùn sẽ từ từ chui xuống.
d. Chăm sóc và cho trùn ăn
Dùng tấm phủ che chắn cho trùn, vì trùn ưa tối và sợ ánh sáng.
Theo dõi trùn hàng ngày, đặc biệt là duy trì độ ẩm khoảng 90%. Thường xuyên
theo dõi nhiệt độ, nếu trời nóng quá phải tưới nước cho trùn.
Mỗi lần cho trùn ăn 0,5kg thức ăn pha với nước dạng sền sệt, theo dõi ghi nhận
số ngày thức ăn bị trùn ăn hết và mùn hóa. Khi thấy trùn ăn gần hết thì bổ sung thêm
thức ăn. Cho ăn đến khi nào hết 3kg phân vịt.
Riêng đối với nghiệm thức đối chứng, không sử dụng trùn thì để tự nhiên, theo
dõi nhiệt độ và thời gian 3kg phân vịt hoai và không còn mùi hôi.
e. Thu hoạch trùn