TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y VÕ THỊ MAI TRANG
Tên đề tài
KHẢO SÁT SỰ ĐỀ KHÁNG CỦA VI KHUẨN
ESCHERICHIA COLI ĐỐI VỚI KHÁNG SINH NHÓM
BETA-LACTAM PHỔ RỘNG TRÊN GÀ THẢ VƢỜN TẠI
HAI TRẠI THUỘC HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, 2015 TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Đề tài: “Khảo sát sự đề kháng của vi khuẩn Escherichia coli đối với kháng
sinh nhóm Beta - lactam phổ rộng trên gà thả vƣờn tại hai trại thuộc huyện
Mỏ Cày Bắc tỉnh Bến Tre”, do sinh viên Võ Thị Mai Trang thực hiện tại phòng
thí nghiệm vệ sinh thực phẩm, Bộ môn Thú Y, khoa Nông Nghiệp & Sinh Học
Ứng Dụng, trƣờng Đại Học Cần Thơ. Từ tháng 8/2014 đến tháng 11/2014. Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2015 Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2015
Duyệt Bộ Môn Giảng viên hƣớng dẫn TS. Lý Thị Liên Khai Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2015
Duyệt Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
LỜI CÁM ƠN
Nhớ lại ngày đầu tiên khi tôi đặt chân lên giảng đƣờng đại học, có biết bao ngỡ
ngàng, vui sƣớng với nhiều ƣớc mơ hoài bão. Hôm nay, ƣớc mơ đó đã thành sự
thật, ngoài sự nổ lực không ngừng của bản thân, còn có nguồn động viên và dạy
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
CRD
Chronic Respiratory Disease
DAEC
Diffusely adhering E. coli
ESBL
Extended-spectrum beta-lactamase
EPEC
Avian Pathogenic E. coli
EHEC
Enterohemorrhagic E. coli
ETEC
Enteropathogenic E. coli
EIEC
Enteroinvasive E. coli
EAEC
Enteroaggregative E. coli
IB
Infectious Bronchitis
KIA
Kliler Iron Agar
MC
Mac conkey Agar
MHA
Muleller Hinton Agar
MR
Methyl Red
NA
2.4 Vài nét lịch sử phát hiện enzyme beta-lactamase phổ rộng (Extended-
spectrum beta-lactamase, ESBL) 10
2.5 Đặc điểm phân loại enzyme beta-lactamase phổ rộng (Extended-spectrum
beta-lactamase, ESBL) 11
2.6 Tính đề kháng của vi khuẩn E. coli đối với kháng sinh nhóm -lactam phổ
rộng…. 12
2.7 Bệnh Escherichia coli trên gà 13
2.8 Kháng sinh 18
2.8.1 Phân loại 18
2.8.2 Cơ chế tác động của kháng sinh 21
2.8.3 Nhóm β-lactams và các chất ức chế β-lactamase 21
2.8.4 Cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn 23
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Phƣơng tiện nghiên cứu 25
3.1.1 Thời gian, địa điểm, đối tƣợng nghiên cứu 25
3.1.2 Hóa chất và môi trƣờng 25
3.1.3 Thiết bị, dụng cụ, máy móc 25
3.2 Phƣơng pháp nghiên cứu 25
3.2.1 Phƣơng pháp lấy mẫu 25
3.2.2 Phƣơng pháp định lƣợng vi khuẩn E. coli trong phân gà khỏe và gà
bệnh… 26
3.2.3 Phƣơng pháp phân lập vi khuẩn E. coli kháng kháng sinh và vi khuẩn
E. coli sinh enzyme β-lactamase phổ rộng (ESBL) trên gà 29
3.2.4 Phƣơng pháp xác định sự đề kháng của vi khuẩn E. coli đối với kháng
sinh nhóm β-lactam phổ rộng (ESBL) trên gà 31
3.2.5 Phƣơng pháp xử lí số liệu 33
CHƢƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Tổng quan về địa điểm lấy mẫu thực hiện đề tài tại hai trại gà thả vƣờn
thuộc huyện Mỏ Cày Bắc tỉnh Bến Tre 34
28
3.2
Bảng tiêu chuẩn phân tích kết quả đƣờng kính vô khuẩn (CLSI,
2014)
33
4.1
Phòng bệnh bằng kháng sinh tại trại 1
35
4.2
Phòng bệnh bằng kháng sinh tại trại 2
36
4.3
Tỷ lệ gà bệnh tiêu chảy chết do nghi nhiễm vi khuẩn E. coli tại
hai trại
37
4.4
Tỷ lệ gà bệnh tiêu chảy chết do nghi nhiễm vi khuẩn E. coli
theo tuần tuổi tại hai trại
38
4.5
So sánh tỷ lệ nhiễm và mức độ nhiễm vi khuẩn E. coli trên mẫu
phân nguyên của gà khỏe và gà bệnh tại 2 trại
39
4.6
Tỷ lệ hiện diện vi khuẩn E. coli sinh ESBL tại hai trại
40
4.7
Tỷ lệ hiện diện vi khuẩn E. coli sinh ESBL trên gà khỏe và gà
bệnh tại hai trại
41
khuẩn E. coli sinh enzyme β-lactamase phổ rộng
30
3.3
Quy trình làm kháng sinh đồ
32
4.1
Bản đồ hành chính huyện Mỏ Cày Bắc tỉnh Bến Tre
34
4.2
Chuồng úm tại trại 1
35
4.3
Chuồng úm tại trại 2
36
4.4
Gà ủ rũ, mệt mỏi
44
4.5
Gà tiêu chảy phân loãng vàng, bết hậu môn
44
4.6
Gà bị viêm rốn
45
4.7
Túi lòng đỏ không tiêu
45
4.8
Bụng gà xệ
45
4.9
Gà tích nƣớc xoang bụng
45
4.10
Tim, gan phủ fibrin
45
4.21
Coli 102
58
TÓM LƢỢC
Ngành chăn nuôi gà thả vườn hiện đang phổ biến tại huyện Mỏ Cày Bắc tỉnh Bến
Tre và những thiệt hại do trực khuẩn gây Escherichia coli gây tiêu chảy trên gà là
không thể tránh khỏi, E. coli có khả năng sản sinh các enzyme β-lactamase phổ
rộng (extended-spectrum beta-lactamase, ESBL), chính là tác nhân giúp vi khuẩn
E. coli kháng lại các tác động của kháng sinh nhóm β-lactam làm cho việc điều trị
bệnh do trực khuẩn E. coli ngày càng trở nên khó khăn, gây thiệt hại nghiêm trọng
cho nhà chăn nuôi. Qua khảo sát hai trại gà thả vườn huyện Mỏ Cày Bắc ghi nhận
được 149/ 2.000 con gà bệnh tiêu chảy chết do nghi nhiễm vi khuẩn E. coli chiếm
tỷ lệ 7,45%, tập trung ở tuần tuổi từ 1- 4, trong đó gà 1 tuần tuổi chiếm tỷ lệ cao
nhất (4,25%). Với phương pháp định đượng vi khuẩn E. coli theo TCVN 7924:
2008 thì mật độ vi khuẩn E. coli trong phân gà khỏe là 10
7
(CFU/ml) và có khả
năng gây bệnh khi mật độ tăng (10
8
CFU/ml). Bằng phương pháp đĩa đôi kết hợp
để xác định sự đề kháng của vi khuẩn E. coli đối với kháng sinh nhóm
-lactam
trên 72 con gà (36 con khỏe và 36 con bệnh) tại hai trại với kết quả: Tỷ lệ nhiễm
E. coli sinh ESBL là 52,80%; trong đó gà giai đoạn 4 tuần tuổi có tỷ lệ nhiễm E.
coli sinh ESBL cao nhất (83,30%), tuần 2 (33,30%), tuần 1 (41,70%); tỷ lệ hiện
diện E. coli sinh ESBL trên gà bệnh (69,9%) cao hơn gà khỏe (36,10%); trên bệnh
phẩm thì mẫu phân chiếm tỷ lệ cao nhất (55,60%) kế đến là thịt (22,20%) và phổi
(7,40%). Vi khuẩn E. coli sinh ESBL đã đề kháng cao với nhóm
(Blanco et al, 1997). Trong đó, kháng sinh nhóm β-lactam, đặc biệt là các
cephalosporin thế hệ III bắt đầu đƣợc sử dụng rộng rãi do kháng sinh trong nhóm
này có phổ kháng khuẩn rất rộng, chúng lại có đặc tính dƣợc học tốt, dễ hấp thu và
phân bố đều khắp các mô trong cơ thể (Bùi Thị Tho, 2003). E. coli là vi khuẩn có
khả năng tăng sức kháng nhanh nhất (Bùi Thị Tho, 2003). Theo nghiên cứu của
Carissa et al, (2013) phân lập từ 159 mẫu phân gà tây (n = 48), gà thịt (n = 96) và
gà thả vƣờn (n = 15) tại Owerri, Nigeria thì tỷ lệ nhiễm E. coli sinh enzyme beta-
lactamase phổ rộng (ESBL) là 22,2% từ phân gà thịt và gà tây, trên phân gà thả
vƣờn không tìm thấy sự hiện diện vi khuẩn E. coli sinh ESBL. Theo Trƣơng Hà
Thái và ctv (2009), kết quả kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh của một số
chủng E. coli phân lập từ gà bệnh (n = 50 chủng) thì E. coli kháng lại với tỷ lệ
cao: Nalidixic acid – 100%, ampicillin – 52%. Theo nhƣ các nghiên cứu trên thì E.
coli có khả năng kháng kháng sinh cũng nhƣ việc E. coli có khả năng sản sinh các
enzyme β-lactamase phổ rộng (extended-spectrum beta-lactamase, ESBL), chính là
tác nhân giúp vi khuẩn E. coli kháng lại các tác động của kháng sinh nhóm β-
lactam làm cho việc điều trị bệnh trực khuẩn E.coli ngày càng trở nên khó khăn,
gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà chăn nuôi.
Bên cạnh đó, thịt gà thả vƣờn là một sản phẩm thực phẩm ngon mà nhu cầu của
ngƣời tiêu dùng ngày càng cao nhƣng ngày nay đề kháng kháng sinh đã và đang
trở thành nguy cơ đối với sức khỏe mọi ngƣời, vi khuẩn và gene kháng thuốc của
vi khuẩn nhanh chóng lan truyền khắp mọi nơi, cả bệnh viện và cộng đồng. Theo
Smith et al, (1974, 1976, 1977, 1978, 1980) đã nghiên cứu trong nhiều năm và đi
đến kết luận: “Các chủng E. coli là nguồn cung cấp chủ yếu về tính kháng kháng
sinh lan truyền trong các chủng vi khuẩn có ở đƣờng tiêu hóa ở ngƣời và gia súc”
(trích dẫn bởi Bùi Thị Tho, 2003). Theo Nguyễn Lân Dũng và ctv (2007) thì các
phân tử DNA tái tổ hợp hoạt động in vivo có thể gây nên những sự rủi ro sinh học,
nếu chúng tồn tại trong vi sinh vật nhƣ E. coli sống trong đƣờng ruột ngƣời và có
thể trao đổi thông tin di truyền với các vi khuẩn khác, chúng có thể phổ biến rộng
rãi trong quần thể ngƣời, vi khuẩn, thực vật, hoặc động vật với những hậu quả
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.3 Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc về sự đề kháng của vi khuẩn E. coli đối
với kháng sinh nhóm β-lactam phổ rộng trên gà
Brinas et al, (2003) các gene mã hóa CMY-2, CTX-M-14 và SHV-12 β-lactamase
đã đƣợc phát hiện trong 3 của 5 chủng E. coli ESBL từ phân gà khỏe cho thấy sức
đề kháng hay giảm tính nhạy cảm với nhóm cephalosporins phổ rộng. Một sự đột
biến A-42 tại vùng promoter (vùng gene khởi động) của gene AmpC đã đƣợc phát
hiện trong 2 chủng khác. Có 3 trong 5 chủng E. coli ESBL (60%) đề kháng lại
nalidixic acid, ciprofloxacin, tetracycline và trimethoprim/ sulfamethoxazole. Tất
cả 5 chủng đều rất nhạy cảm (100%) với amikacin và fosfomycin.
Smet et al, (2008) điều tra sự đa dạng β-lactamase và phân lớp C của vi khuẩn
E. coli trên gà thịt tại Bỉ, tổng cộng có 295 mẫu E. coli ESBL từ 489 mẫu gà thịt
lấy từ 5 trại khác nhau tại Bỉ, trong đó phát hiện các gene nhƣ sau: TEM-52
(13,2%), TEM-106 (2%), CTX-M-1 (27,4%), CTX-M-2 (7,8%), CTX-M-14
(5,9%) và CTX-M-15 (2%). Phân lớp C phát hiện đƣợc là CMY-2 (49%).
Bortolaia et al, (2010) cho thấy rằng vi khuẩn E. coli sinh ESBL phân lập đƣợc từ
5 trại gà thịt tại Ý, thì đề kháng cao với tetracycline (94%), nalidixic acid (83%),
đề kháng trung bình với trimethoprim kết hợp sulfonamide (55%), sulfonamide
(39%), trimethoprim (22%) và không thấy mẫu nào kháng với amikacin, colistin
và imipenem.
Randall et al, (2010) khảo sát tỷ lệ nhiễm ESBL có mang gene CTX-M trên gà
thịt và gà tây tại Vƣơng quốc Anh từ năm 2006 đến 2009 với 388 mẫu phân gà thịt
từ 22 lò giết mổ gia cầm và 442 đàn gà tây khảo sát trong 1 năm với kết quả có
54,5% tại lò giết mổ, 3,6% từ phân gà thịt, 5,2% từ các trại gà tây nuôi lấy thịt và
6,9% từ các trại gà tây giống.
Carissa et al, (2013) phân lập từ 159 mẫu phân gà tây (n = 48), gà thịt (n = 96) và
gà thả vƣờn (n = 15) tại Owerri, Nigeria thì tỷ lệ nhiễm ESBL là 22,2% từ phân gà
C, pH thích hợp là 7,2 – 7,4, phát triển đƣợc ở pH 5,5 – 8,0 (Lƣu Hữu Mãnh,
2009).
Trong những điều kiện thích hợp E. coli phát triển rất nhanh. Trên môi trƣờng NA
(Nutrient agar), TSA (Tripticase Soy Agar) qua 18 – 24 giờ ử ở 37
0
C, hình thành
những khuẩn lạc tròn ƣớt, màu trắng nhạt, mặt khuẩn hơi lồi, đƣờng kính 2 – 3 mm
(Nguyễn Vĩnh Phƣớc, 1970).
Môi trƣờng nƣớc thịt vi khuẩn phát triển tốt, môi trƣờng rất đục có cặn màu tro
nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi trƣờng, môi trƣờng có
màu phân thối (Nguyễn Nhƣ Thanh và ctv, 1997).
Trên môi trƣờng MC (Mac conkey agar) vi khuẩn E. coli to, tròn, đều màu hồng
nhạt mặt khuẩn lạc hơi lồi, kích thƣớc 2 – 3 mm (Nguyễn Vĩnh Phƣớc, 1970).
Trên môi trƣờng EMB (Eosin Methylene Blue) khuẩn lạc tròn, hơi lồi, bong, màu
thẫm tím, có ánh kim (Nguyễn Vĩnh Phƣớc, 1970).
Đặc tính sinh hóa
Chuyển hóa đƣờng: Lên sinh hơi các loại đƣờng lactose, fructose, glucose,
levulose, galactose, xylose, ramnose, mannit. Không lên các loại đƣờng andonit
và inozit. Tất cả E. coli đều lên đƣờng lactose nhanh và sinh hơi, đây là đặc điểm
quan trọng phân biệt E. coli và Salmonella (Lƣu Hữu Mãnh, 2009).
Vi khuẩn E. coli đƣợc định danh bằng các phản ứng sinh hóa qua các môi trƣờng
KIA (Kliler Iron Agar), Simmons Citrate, VP (Voges – Proskauer), MR (Methyl
Red), LIM (Lysine Indole Motility Medium).
Sử dụng lysine, sinh indole, không sinh H
2
S.
Phản ứng MR (Methyl Red) dƣơng tính, VP (Voges – Proskauer) âm tính, phản
ứng Citrate âm tính, không sử dụng ure (Nguyễn Vĩnh Phƣớc, 1970).
Cấu trúc kháng nguyên
Kháng nguyên B thì ít thấy, ở 100°C trong vòng 1 giờ chỉ mất tính kháng nguyên
và vẫn giữ đƣợc khả năng ngƣng kết và kết tủa. Kháng nguyên này rất đặc hiệu
cho các type trong nhóm trực khuần đƣờng ruột.
Mặc dù trong tự nhiên trực khuần đƣờng ruột có nhiều serotype, nhƣng chỉ một
phần nhỏ trong số đó đƣợc xác định là mầm gây ra các bệnh đƣờng dạ dày ruột.
Dựa vào cấu tạo kháng nguyên O, E.coli đƣợc chia làm nhiều nhóm, căn cứ vào
cấu tạo kháng nguyên O, K, H, E.coli lại chia làm nhiều type, mỗi type đều đƣợc
ghi thứ tự các yếu tố kháng nguyên O, K, H. Trong số 28 type huyết thanh phổ
biến có 8 chủng gây bệnh là: O111B4, O86B7, O55B5, O26B6, O127B8 (Mỹ),
O128B12 (Anh), 408 và 145 (Nguyễn Nhƣ Thanh, 1997).
Kháng nguyên F (kháng nguyên bám dính)
Hầu hết các E. coli gây bệnh đều sản sinh một hoặc nhiều yếu tố bám dính, chúng
bám vào các cơ quan cảm thụ đặc hiệu trên tế bào biểu mô của màng nhày và
những lớp tế bào kế cận. Những yếu tố bám dính này là phần phụ có dạng lông kéo
dài từ vách tế bào vi khuẩn và đƣợc cấu tạo từ các tiểu đơn vị protein, trong nhiều
trƣờng hợp, chúng hoạt động nhƣ một giá đỡ cho protein bám vào đầu các sợi vi
nhung. Yếu tố bám dính đƣợc phân lập bằng phản ứng huyết thanh học hay bằng
các cơ quan cảm nhận đặc hiệu, cơ quan cảm nhận đặc hiệu này làm ngƣng kết
hồng cầu của nhiều loài gia súc khác nhau. Cách đặt tên cho các yếu tố bám dính
rất khác nhau. Mỗi loại kháng nguyên bám dính có các yếu tố quyết định kháng
nguyên tƣơng ứng, phù hợp với cấu trúc điểm tiếp nhận trên bề mặt của tế bào biểu
mô nhung mao ruột non của từng loại động vật hoặc từng lứa tuổi động vật .
Sức đề kháng
Cũng nhƣ các loại vi khuẩn không sinh nha bào khác, E. coli không chịu đƣợc
nhiệt độ đun 55
0
C trong 1 giờ, 60
0
C trong 30 phút, đun sôi 100
0
xâm nhập nhƣ ETEC hay EIEC. Nhóm này gây tiêu chảy cho ngƣời, đặc biệt là
gây tiêu chảy cho trẻ em (Levine, 1987).
EHEC (Enterohemorrhagic E. coli) là nhóm có khả năng tạo độc tố Verotoxin
giống với độc tố Shiga - Chất độc do nhà khoa học K. Shiga tìm ra, nên có tên gọi
chung là chất độc giống Shiga (Shiga - like toxin). Độc tố này ở dạng biến thể 2e
(Stx2e), gây ra các bệnh tích cho mao mạch ruột, mô dƣới da và não, dẫn tới triệu
chứng phù đầu và thần kinh (Bertschinger, 1999)
EAEC (Enteroaggregative E. coli) có khả năng sản sinh ra yếu tố bám dính và xâm
nhập vào tế bào niêm mạc ruột ( Nguyễn Thanh Bảo, 2005).
DAEC (Diffusely adhering E. coli) ngƣời ta biết rất ít về dịch tể học và lâm sàng
của bệnh do DAEC. Trong một nghiên cứu trên những đứa trẻ ở bệnh viện giữa độ
tuổi từ 1 tháng đến 14 tuổi đa số những bệnh nhân nhiễm DAEC đều bị ói mữa.
E. coli có sẵn trong ruột của động vật nhƣng chỉ tác động gây bệnh khi sức đề
kháng của con vật giảm sút (do chăm sóc, nuôi dƣỡng, thời tiết, thức ăn, ).
Bệnh do trực khuẩn E. coli có thể xảy ra nhƣ một bệnh truyền nhiễm kế phát trên
cơ sở thiếu vitamin và mắc các bệnh virus và ký sinh trùng.
E. coli thƣờng gây bệnh cho súc vật mới đẻ từ 2-3 ngày hoặc 4-8 ngày. Ngƣời ta
gọi Colibacillosis là một bệnh đƣờng ruột của ngựa, bê, cừu, lợn và gia cầm non
do E. coli gây ra.
Cần biết rằng type E. coli gây bệnh sau khi duy trì một thời gian trong một cơ sở
chăn nuôi sẽ đƣợc thay thế bằng một type E. coli gây bệnh khác sau này.
Colibacillosis của bê mới đẻ từ 2-12 ngày thƣờng do một số type E. coli sau:
O
78
B; O
55
B
5
; O
Trong phòng thí nghiệm: Tiêm vi khuẩn vào dƣới da cho chuột bạch, chuột lang,
thỏ có thể gây viêm cục bộ, nếu tiêm với liều lớn có thể gây bại huyết, giết chết
con vật (Nguyễn Nhƣ Thanh và ctv, 1997).
2.4 Tình trạng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn E. coli trên gà
Vi khuẩn E. coli có khả năng tăng sức kháng đối với kháng sinh nhanh nhất (Bùi
Thị Tho, 2003). Đây là vấn đề cấp bách cần đƣợc nghiên cứu để tìm ra loại kháng
sinh mẫn cảm dùng trong điều trị các bệnh xảy ra do E. coli.
Hiện tƣợng đa kháng của E. coli tăng rất nhanh. Năm 1976, đã phát hiện 17,5%
chủng E. coli kháng với 2 loại thuốc và 6,3% đa kháng với 3 loại thuốc, không có
chủng nào đa kháng một lúc với 4; 5; 6 hay 7 loại thuốc. Hiện nay kiểm tra, thấy tỷ
lệ E. coli đa kháng với 3; 4 loại thuốc là phổ biến nhất. Đặc biệt đã xuất hiện
chủng E. coli đa kháng một lúc với 5, 6 hay 7 loại thuốc với tỷ lệ tƣơng ứng:
14,92%; 8,95% và 5,97% (Bùi Thị Tho, 2003).
Gần đây nhất, khi tìm hiểu các yếu tố độc lực của vi khuẩn E. coli gây bệnh, Lê
Văn Tạo đã cho biết “hiện nay, có 12% E. coli đa kháng với 7 loại thuốc, 32% đa
kháng với 6 loại thuốc, 40% đa kháng với 5 loại thuốc, 10% đa kháng với 4 loại và
6% đa kháng với 3 loại” (Bùi Thị Tho, 2003).
E. coli có khả năng kháng chéo và các thuốc kháng chéo là những thuốc mà E. coli
này chƣa hề đƣợc tiếp xúc tong quá trình sống. Những cá thể có khả năng phát
sinh đột biến của E. coli chỉ khoảng 10
-7
(cứ 10.000.000 cá thể sẽ có một cá thể có
khả năng phát sinh đột biến tự nhiên). Vi khuẩn phân chia tế bào mỗi lần 40 phút,
nhƣ vậy cứ 22 giờ mỗi tế bào đột biến sẽ có 10
9
đời con (Bùi Thị Tho, 2003).
Van den Bogaard et al, (2001) khảo sát tỷ lệ kháng kháng sinh của E. coli từ phân
gà tây, gà thịt và gà thả vƣờn trong đó gà tây kháng cao với amoxycillin (87%),
oxytetracycline (87%), trimethoprim (85%), neomycin (81%), kháng trung bình
có khả năng mẫn cảm mạnh (100%) với các chủng đƣợc kiểm tra. Các kháng sinh
có tỷ lệ kháng cao (>80%) là tretracycline, sulfamethoxazole/trimethoprim,
apramycin, ceftiofur và streptomycin.
2.1 Vài nét về lịch sử phát hiện enzyme beta-lactamase phổ rộng (Extended-
spectrum beta-lactamase, ESBL)
Vào năm 1963 tại Athens Hy Lạp từ máu một bệnh nhân tên là Temoneira ngƣời ta
phân lập đƣợc chủng E. coli kháng ampicillin có sinh loại β-lactamase và lấy luôn
tên bệnh nhân đặt tên cho này là TEM-1.
Năm 1965 cũng ở nơi đây từ E. coli ngƣời ta phát hiện ra TEM-2 là do TEM-1
biến đổi một amino aicd. Nhờ TEM-1 và TEM-2 đã làm cho vi khuẩn Gram âm
kháng lại penicillin, ampicillin và cephalosporin thế hệ 1 trong một thời gian dài
sau đó, nhƣ các thong báo về N. gonorrhoeae kháng penicillins, H. influenzae và
Shigella spp đề kháng kháng sinh vào những năm 1971 – 1973 ở Châu Á và nhiều
nơi trên thế giới.
Cho đến năm 1974 chủng K. pneumoniae có gene mã hóa β-lactamase trên
plasmid đƣợc phát hiện, này có nhiều thay đổi về amino aicd so với TEM-1 và
TEM-2 nên đƣợc đặt tên là SHV-1 (Sulphyryl Variable), nhƣ vậy vi khuẩn đã có
TEM-1, TEM-2 và SHV-1 nên các penicillins và cephalosporin thế hệ 1 đã bị
kháng lại rất nhiều.
Đầu những năm 1980 thì các kháng sinh β-lactam phổ rộng nhƣ cephalosporins thế
hệ thứ 2, thế hệ thứ 3 và các monobactams đƣợc đƣa vào điều trị các vi khuẩn
kháng thuốc. Sƣ ra đời các kháng sinh β-lactams mới này đặc biệt là
cephalosporins thế hệ 3, đã là thành công lớn của khoa học trong cuộc chiến đấu
dài lâu với vi khuẩn gây bệnh có TEM-1, TEM-2 và SHV-1. Nhƣng rồi một loại
β-lactamase có khả năng phân hủy các cephalosporins thế hệ 2, cephalosporins thế
hệ 3 và monobactams, có nguồn gốc do TEM-1, TEM-2 và SHV-1 đột biến thay
đổi một số amino aicd gọi là ESBL đã xuất hiện.
Năm 1983 ở Đức đã phát hiện chủng K. ozaenae sinh β-lactamase phân hủy
cefotaxime đƣợc đặt tên là SHV-2, đây là trƣờng hợp đầu tiên sinh ESBL đƣợc ghi
Bảng 2.1 Tóm tắt hệ thống phân loại β-lactamase và ESBL theo Amlber (1980) và
Bush – Jacoby – Medeiros (1995).
Lớp Amlber
Nhóm Bush
Type
A
2a
Penicillinase
2b
TEM-1-2, SHV-1
2be
β-lactamase phổ rộng phân hủy penicillins,
cephalosporins phổ rộng, bị ức chế bởi clavulanic
aicd (ESBL)
2br
β-lactamase kháng chất ức chế
2c
Carbenicillinase, ức chế bởi clavulanic aicd
2e
Cephalosporinase
2f
β-lactamase phân hủy carbanepem, bị ức chế bởi
clavulanic acid
B
3
β-lactamase Zinc-metallo phân hủy carbanepem va
- ESBL sinh ra do đột biến cảm ứng từ việc sử dụng các cephalosporin phổ rộng
thế hệ 3.
- Vi khuẩn E. coli sinh ESBL kháng hầu hết các kháng sinh nhóm -lactam kể cả
cephalosporin phổ rộng thế hệ 3 và aztreonam.
- Kháng chéo kèm với các kháng sinh nhóm aminglycosid, quinolone và nhiều
kháng sinh khác.
Tuy nhiên, còn nhạy cảm với các beta-lactam kết hợp chất ức chế, nhạy cảm
carbapenem, cephamicin, temocillin các nhóm kháng sinh có cấu trúc tƣơng tự
nhau (Dẫn liệu của Nguyễn Sâm, 2009).
2.6 Bệnh Escherichia coli trên gà
Theo Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền (2012), bệnh truyền nhiễm nhiều loài
gia cầm với triệu chứng cục bộ hoặc toàn thân do chủng có tính gây bệnh, đặc biệt
bệnh gây tổn thất nghiêm trọng ở thể nhiễm trùng huyết. Vi khuẩn E. coli hiện
diện thƣờng xuyên trong đƣờng ruột và đƣợc thải qua phân với số lƣợng lớn. Bệnh
có thể lây qua đƣờng tiêu hóa, qua vết thƣơng ngoài da, qua niêm mạc bị tổn
thƣơng, ngoài ra bệnh còn có thể lây qua trứng. Tất cả các lứa tuổi của gia cầm đều
mẫn cảm với bệnh, nhƣng ở gia cầm non đều có tính mẫn cảm cao và bệnh thƣờng
nghiêm trọng hơn.
Bệnh thƣờng xảy ra ở giai đoạn gà con và hay nhiễm kế phát ngay sau bệnh CRD
(bệnh hô hấp mãn tính). Vì vậy có nhiều thể bệnh khác nhau. Tỷ lệ bệnh và chết
tùy thuộc vào từng vùng, từng trại có biện pháp phòng và vệ sinh khác nhau.
Truyền lây qua trứng do cơ thể mẹ bị nhiễm bệnh, qua vỏ trứng do bị nhiễm bẩn từ
phân hoặc môi trƣờng chuồng trại bị nhiễm trùng, qua đƣơng hô hấp do ga bị bệnh
CRD làm cho niêm mạc phế quản bị tổn thƣơng, vi khuẩn xâm nhập qua vết
thƣơng vào cơ thể, qua thức ăn nƣớc uống bị nhiễm trùng (Nguyễn Xuân Bình và
ctv, 2005).
Triệu chứng và bệnh tích (Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2012)
Viêm rốn hoặc nhiễm trùng túi lòng đỏ
Bệnh viêm rốn bởi E. coli là do trứng bị nhiễm vi khuẩn từ phân. Ngoài ra, bệnh
fibrin, kể cả những bạch cầu trung tính có hạt ở xoang xƣơng sọ, tai giữa và da
vùng mặt. Viêm kết mạc mắt có sự thẩm xuất của tế bao lâm ba, viêm khí quản có
thể quan sát đƣợc nhiều đám vi khuẩn.
Bệnh viêm ống dẫn trứng cấp tính