BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
THÂN NHẬT THẮNG NGHIÊN CỨU BỆNH THỐI THÂN LÚA
(SCLEROTIUM ORYZAE) VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
TẠI XÃ ÁI QUỐC, THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG,
TỈNH HẢI DƯƠNG VỤ MÙA NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT HÀ NỘI , NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Thân Nhật Thắng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và
người thân.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Văn Viên - Bộ môn Bệnh cây - Khoa Nông học - Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa
Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, cán bộ, bà con nhân dân xã Ái
Quốc, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Cán bộ phòng kỹ thuật Chi cục
bảo vệ thực vật tỉnh Hải Dương - Sở Nông nghiệp & PTNT Hải Dương đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn
bè và những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập và thực hiện bản luận văn này.
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn
2.2.4. Nghiên cứu khả năng lây bệnh nhân tạo nấm Sclerotium oryzae đối
với một số giống lúa gieo trong nhà lưới và trên ruộng sản xuất 20
2.2.5. Nghiên cứu hiệu lực của một số thuốc đối với nấm Sclerotium
oryzae trên môi trường nhân tạo và đối với bệnh thối thân lúa
trong nhà lưới và trên ruộng 21
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.3. Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1. Phân lập nấm Sclerotium oryzae 21
2.3.2. Quan sát, mô tả đặc điểm hình thái của nấm Sclerotium oryzae 21
2.3.3. Nghiên cứu một số đặc điểm nuôi cấy nấm Sclerotium oryzae 22
2.3.4. Phương pháp lây bệnh nhân tạo 22
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu hiệu lực của một số thuốc đối với nấm
Sclerotium oryzae trên môi trường nhân tạo 22
2.3.6. Phương pháp nghiên cứu khả năng phát triển của bệnh 22
2.3.7 Phương pháp nghiên cứu hiệu lực của thuốc đối với nấm và bệnh
thối thân, thối hạch trên cây lúa
23
2.4. Xử lý số liệu 23
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1. Kết quả điều tra tình hình bệnh thối thân lúa tại xã Ái Quốc, thành phố Hải
Dương, tỉnh Hải Dương vụ mùa năm 2014 24
3.1.1. Kết quả điều tra tình hình bệnh thối thân lúa nếp cái hoa vàng cấy
ở chân đất cao và trũng vụ mùa năm 2014 tại xã Ái Quốc, thành
phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
24
3.1.2. Kết quả điều tra bệnh thối thân lúa Nếp cái hoa vàng cấy ở các
mật độ khác nhau vụ mùa năm 2014 tại xã Ái Quốc, thành phố
Hải Dương, tỉnh Hải Dương
thân lúa trồng trong chậu vại ở nhà lưới 49
3.5.3. Kết quả nghiên cứu hiệu lực của thuốc Fuji-one 400WP và
Ketomium đối với bệnh thối thân lúa trên đồng ruộng vụ mùa
năm 2014 tại xã Ái Quốc, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương 51
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
Kết luận 52
Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Giải thích chữ viết tắt
1 BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
2 CV Hệ số biến động
3 HLPT Hiệu lực phòng trừ
4 LSD Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
5 M Lớp phủ
6 NĐHN Ngày đếm hạch nấm
7 NĐKT Ngày đo kích thước
8 NĐT Ngày điều tra
9 NM Không lớp phủ
10 NXB Nhà xuất bản
11 OMA Oatmeal agar
12 PGA Khoai tây-glucose-agar
13 PP Trang
14 PSA Khoai tây-đường sacarose-agar
15 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
16 TB Trung bình
3.9 Khả năng nhiễm bệnh của các giống lúa nếp ở các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau trồng trong chậu vại ở nhà lưới 37
3.10 Khả năng nhiễm bệnh của các giống lúa tẻ ở các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau trồng trong chậu vại ở nhà lưới 39
3.11 Khả năng nhiễm bệnh của các giống lúa nếp, lúa tẻ ở các giai đoạn
sinh trưởng khác nhau trồng trong ô xi măng ở nhà lưới 40
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
3.12 Khả năng lây lan của bệnh thối thân lúa sau 15 ngày lây bệnh nhân
tạo trong chậu vại ở nhà lưới giai đoạn lúa đẻ nhánh 42
3.13 Khả năng lây lan của bệnh thối thân lúa sau 15 ngày lây bệnh nhân
tạo trong chậu vại ở nhà lưới giai đoạn lúa làm đòng 43
3.14 Khả năng lây lan của bệnh thối thân lúa sau 15 ngày lây bệnh nhân
tạo trong chậu vại ở nhà lưới giai đoạn lúa trỗ 45
3.15 Kích thước vết bệnh sau khi lây lúa ở các giai đoạn trồng trong
khay nhựa 47
3.16 Kết quả nghiên cứu hiệu lực của một số thuốc đối với nấm
Sclerotium oryzae trên môi trường PSA 49
3.17 Kết quả nghiên cứu hiệu lực của một số thuốc đối với bệnh thối
thân lúa trong nhà lưới 50
3.18 Kết quả nghiên cứu hiệu lực của thuốc Fuji-one 400WP và
Ketomium đối với bệnh thối thân lúa trên đồng ruộng vụ mùa
năm 2014 tại xã Ái Quốc, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương 51
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
DANH MỤC HÌNH
1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực chính cung
cấp lương thực cho hai phần ba dân số thế giới. Hiện nay có trên 100 quốc gia
sản xuất lúa gạo. Trên thế giới, cây lúa được khoảng 250 triệu nông dân trồng, là
lương thực chính của hơn 1,3 tỉ người trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông
dân, là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người. Châu Á là nơi gắn
liền với văn minh lúa nước, sản xuất lúa gạo chiếm phần lớn trên thế giới về
diện tích và sản lượng.Việt Nam, với dân số trên 90 triệu người, có khoảng
70% là nông dân, sản xuất nông nghiệp trồng lúa là cây lương thực
chính.Theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), năm 2009,
cả nước xuất khẩu hơn 6,052 triệu tấn gạo các loại, với giá trị 2,464 tỉ USD.
Những năm gần đây nước ta luôn đứng vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu
gạo sau Thái Lan.
Trong những năm gần đây, sản xuất lúa gạo đạt được mức tăng trưởng
tăng đáng kể. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ, vấn đề an
ninh lương thực vẫn đang là một bài toán đang cần tìm lời giải. Theo dự báo
của FAO (Food and Agricuture Organization) thế giới đang có nguy cơ
thiếu hụt lương thực do dân số tăng nhanh, sức mua lương thực, thực
phẩm tại nhiều nước tăng, biến đổi khí hậu toàn cầu gây hiểm họa khô hạn,
bão lụt, quá trình đô thị hoá làm giảm đất trồng lúa… những vấn đề trên đã và
đang khiến thế giới rơi vào nguy cơ thiếu hụt lương thực trầm trọng. Theo
FAO để đảm bảo mức tiêu dùng lương thực ổn định, mức tăng sản lượng
lương thực hàng năm phải gấp 2 lần so với mức tăng dân số. Đến năm 2030,
toàn thế giới phải sản xuất lúa gạo nhiều hơn khoảng 60% so với những năm
gần đây để đáp ứng nhu cầu tăng dân số.
Bên cạnh đó, ở Việt Nam quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
2.1. Mục đích
Tìm hiểu tình hình phát sinh, phát triển của nấm Sclerotium oryzae tại
Hải Dương và biện pháp phòng trừ.
2.2. Yêu cầu
- Thu thập mẫu lúa bị bệnh và phân lập nấm Sclerotium oryzae từ các
mẫu lúa bị bệnh đã thu thập được.
- Mô tả đặc điểm hình thái của nấm Sclerotium oryzae
- Tìm hiểu một số đặc điểm nuôi cấy nấm Sclerotium oryzae
- Lây bệnh nhân tạo để xác định khả năng kháng, nhiễm bệnh thối
thân do nấm Sclerotium oryzae đốivới một số giống lúa đang được gieo cấy
phổ biến trong sản xuất.
- Nghiên cứu hiệu lực của một số thuốc đối với nấm Sclerotium
oryzae trên môi trường nhân tạo và đối với bệnh thối thân lúa trong nhà
lưới và trên ruộng sản xuất. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu về nấm Sclerotium oryzae gây bệnh thối thân lúa trên
thế giới
Bệnh thối thân lúa do nấm Sclerotium oryzae là một trong những bệnh
hại quan trọng ở các nước trồng lúa trên thế giới đã được nhiều tác giả nghiên
cứu. Bệnh đã gây thiệt hại năng suất đáng kể ở các nước trồng lúa trên thế giới.
Thối thân lúa ( Oryza sativa L.) , do Sclerotium oryzae Catt . , Từ lâu đã
được biết là gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người trồng lúa cả ở Mỹ và ở
nước ngoài. Lần đầu tiên được phát hiện ở Ý vào năm 1876 bởi Cattaneo.
Metcalf (1907) báo cáo rằng nó đã được tìm thấy bệnh thối thân lúa ở
quả thể hay bào tử. Sclerotium bao gồm hơn 40 loài thực vật gây bệnh (Farr et
all 2008). Nhiều loài Sclerotium hiếm khi sinh sản hữu tính (Punja 1988,
Punja và Rahe 2001, Kohn 2004). Tên Sclerotium lần đầu tiên được giới thiệu
bởi Tode (1790).
1.1.2. Một số đặc điểm bệnh thối thân lúa do nấm Sclerotium oryzae
Triệu chứng: Thường quan sát thấy ở giai đoạn đẻ nhánh. Ban đầu bệnh
thối thân xuất hiện là các vết bệnh nhỏ, màu đen không đều trên bẹ lá bên
ngoài gần mực nước. Khi bệnh tiến triển, bẹ lá bị nhiễm chết và bung ra. Cuối
cùng bệnh có thể xâm nhập vào thân ống rạ. Khi thân ống rạ bị nhiễm bệnh
dẫn đến cây lúa yếu, dễ đổ, bông lép, trường hợp nghiêm trọng có thể cây sẽ
bị chết. Khi mở bẹ lá hoặc thân bị bệnh có thể tìm thấy vô số hạch nấm màu
đen được gắn trên các mô bẹ lá bị bệnh, hạch nấm và sợi nấm là nguồn bệnh
chủ yếu. Hạch nấm được tìm thấy trong các mô thối của bẹ lá và các thân ống
rạ lúa bị bệnh, cây lúa bị bệnh thường bị đổ. Nguồn bệnh bảo tồn thường tìm
thấy trong rơm rạ sau khi thu hoạch lúa. Sự xuất hiện của hạch nấm thường là
cách dễ dáng nhất để chuẩn đoán bệnh do nấm Sclerotium oryzae gây hại.
Tác nhân gây bệnh: Bệnh do nấm Sclerotium oryzae. Có sợi nấm màu
trắng xám, hạch nấm hình cầu màu đen sáng bóng có thể nhìn thấy bằng mắt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
thường như một khối đen.
Điều kiện thuận lợi bệnh phát triển: Lúa bị nhiễm rầy, sâu đục thân,
bón quá nhiều phân đạm.
Bảo tồn: Các hạch nấm tồn tại trong rơm rạ, lan truyền nhờ nước tưới.
Hạch nấm tồn tại ở tầng trên của đất thời gian dài. Thời gian phân hủy của
hạch nấm là khoảng 2 năm, hạch khả thi có thể tồn tại 6 năm. Bệnh thối thân
lan truyền nhờ dòng nước, các hạch nấm nổi trên bề mặt theo dòng nước đi
tới vùng khác tiếp tục quá trình nảy mầm và lây nhiễm sang cây kí chủ khác.
Quản lý: Bằng cách cày sâu, bừa kỹ. Trong mùa hè thì đốt rơm rạ để
nấm của Sclerotium oryzae gây bệnh thối thân lúa (Usmani và Ghaffar, 1982).
Kết quả sơ bộ đã được công bố (Hussain và Ghaffar, 1987)
Thí nghiệm được thực hiện tại ba địa điểm khác nhau với các khu vực
có cấu trúc đất khác nhau. Mùa hè năm 1984 làm thí nghiệm với 3 loại đất
khác nhau, đất Karachi (thịt pha cát), đất Sakrand (đất sét pha cát) và đất
Lahore ( đất sét). Hạch ba tháng tuổi Sclerotium oryzae với 100% khả năng
sống được sử dụng để nhiễm nhân tạo trong đất. Túi nilon có chứa 10g đất bị
nhiễm khuẩn nhân tạo với 10 hạch nấm/g đất, chôn vùi vào trong đất tại các
khu vực có cấu trúc đất khác nhau tại các độ sâu tương ứng khác nhau 5cm và
15cm, 20cm sau đó phủ tấm nilon trong suốt lên trên, đất được tưới nước
trước khi phủ. Có bốn lần lặp lại cho mỗi thí nghiệm và các ô được chọn ngẫu
nhiên. Nhiệt độ đất đo bằng cách chèn nhiệt kế ở độ sâu 5cm và 20cm đã
được ghi lại cứ hai giờ một lần giữa 8 giờ đến 16 giờ. Trong một túi nilon thử
nghiệm riêng biệt với độ sâu 20cm được đưa trở lại mức độ sâu 5cm. Túi đã
được gỡ bỏ sau ba ngày phơi ải và hạch nấm được phân cách bằng sàng và kỹ
thuật nổi trên mặt nước (Usmani và Ghaf-xa, 1974). Khả năng sống của các
hạch đã được thử nghiệm bằng cách cấy chúng trên môi trường Water- Agar.
Kỹ thuật pha loãng dung dịch đất (Waksman và Fred, 1922) đã được sử dụng
để nghiên cứu số lượng vi sinh vật trong đất trên môi trường thạch với mức
pH 5,3 bổ sung thêm các chất kháng sinh penicillin và streptomycin 100 ppm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
sử dụng để phân lập nấm. Xạ khuẩn và vi khuẩn được phân lập trên cùng một
môi trường không có thêm các chất kháng sinh ở mức pH 7,2. Vi sinh vật
hoạt động đối kháng trong ống nghiệm được thử nghiệm khi cấy, phân lập
ngẫu nhiên của các xạ khuẩn và vi khuẩn gần rìa của đĩa petri.
pH của đất được xác định trong hỗn hợp của đất và nước cất. Phốt pho
có sẵn được chiết xuất với NaHCO
3
Page 9
Trong nghiên cứu này cho thấy đất được phơi ải làm tăng số lượng vi
sinh vật có ích trong đất, gia tăng trong hoạt động đối kháng chống lại nấm
Sclerotium oryzae. Có báo cáo rằng sau khi phơi ải đất một năm sau, các vi
khuẩn gram dương vẫn làm giảm tối đa sự phát triển của nấm. Tuy nhiên loại
trực khuẩn bacillus spp., phát triển mạnh mẽ trong đất phơi ải (Stapleton và
Devay, 1982, 1984).
Bảng phân tích hóa học đất sau khi phơi ải tại các địa điểm có cấu trúc
đất khác nhau trong suốt mùa hè năm 1984
Cấu trúc đất
Chất hữu cơ
(%)
pH
Nitrogen
ppm
Postassium
ppm
Phosphorus
Ppm
M NM M NM
M NM M NM M NM
Karachi
( thịt pha cát)
0.89*
0.76 8.18 8.08
1350*
ở mức 5%
Hầu hết các nhóm vi sinh vật thường được sử dụng trong kiểm soát
sinh học hoặc để kích thích tăng trưởng thực vật (Baker và Cook, 1974).
Tương tự như vậy, sử dụng lớp phủ bằng nilon đất thường có dinh dưỡng
khoáng hòa tan cao hơn đất không được xử lý (Baker và Cook, 1974; Jones và
cộng sự, 1977; Chen và Katan, 1980; Stapleton và cộng sự, 1985). Đất được
phơi ải cũng cho thấy sự gia tăng pH, chất hữu cơ, kali làm giảm nitơ và phốt
pho trong đất. Gia tăng sản lượng gạo 23% khi đất được phơi ải (Usmani et
al.,1985)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Trên thực tế sử dụng lớp phủ bằng nilon để hạn chế sự phát triển của
bệnh thối thân lúa và tăng năng xuất, lớp phủ nilon có thể sử dụng được 3 – 4
lần nhưng cũng cần có sự tính toán chi phí hợp lý để có lợi ích cao nhất.
Ngoài ra cũng cần phát triển sử dụng lớp phủ bằng nilon trên diện tích lớn
trồng lúa.
Năm 1998, đại hội quốc tế về bệnh học thực vật họp lần thứ 7 (1998)
Cother - Tính nhạy cảm của giống lúa Úc đối với nấm bệnh thối thân
Sclerotium oryzae
Các vùng trồng lúa của Úc nằm ở phía tây nam New South Wales giữa
sông Murray và Murrumbidgee. Bởi vì đây là khu vực bị cô lập, nó không bị
mắc những bệnh nghiêm trọng ảnh hưởng đến các quốc gia sản xuất lúa gạo
khác. Bệnh thối do Sclerotium oryzae lần đầu tiên quan sát thấy ở New South
Wales vào năm 1995. Ở nước ngoài đó, là một căn bệnh nghiêm trọng tấn
công thân của cây lúa nhờ dòng nước và tiến vào các bẹ lá bên trong, gây thiệt
hại lớn đến năng suất. Vì bệnh này mới với khu vực trồng lúa của Úc. Ba thí
nghiệm đã được tiến hành để xếp hạng các giống lúa theo sự mẫn cảm đối với
nấm Sclerotium oryzae gây bệnh thối thân. Mười ba giống lúa Amaroo,
Bogan, Doongara, Goolarah, Illabong, Jarrah, Kyeema, Langi, millin, Pelde,
mỗi phần thân mang hạch nấm cho tất cả các cây trong một ruộng. Các giống
không đồng nhất về tính kháng để ngăn chặn sự nhiễm bệnh. Giống Amaroo,
Kyeema, Millin và YRL38 bị giảm năng suất đáng kể khi lây nhiễm bệnh
nhân tạo với năng suất giảm gần 30%, trong đó giống Kyeema và YRL38
giảm 9,5%. Chiều dài vết bệnh không phản ánh năng suất. Giống Lange và
giống Pelde đều nhiễm hạch nấm nhưng năng suất của giống không bị ảnh
hưởng đáng kể bởi bệnh thối thân. Giống Amaroo có bẹ lá nhiễm ít hơn 45%
so với giống Lange nhưng lại giảm sản lượng 27%. Sự nhiễm bệnh của cây
lúa bị ảnh hưởng trực tiếp bằng phương pháp áp miếng thạch có hạch nấm rõ
hơn phương pháp rắc hạch nấm trên đất xung quanh cây, mặc dù rắc hạch
nấm trên đất là thực tế hơn. Có thể thấy rằng áp lực của bệnh thối thân do
nấm Sclerotium oryzae thể hiện ở New South Wales là không nghiêm trọng
như các loại khác và do đó trong điều kiện hiện nay chỉ đặt ra một mối đe dọa
cho một số giống.
Năm 2001, N. A. Cintas and R. K. Webster đã tìm ra sự ảnh hưởng của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
việc quản lý rơm rạ trên đồng ruộng đối với sự phát triển của nấm Slerotium
oryzae ở California. Trong các vụ lúa, người ta liên tục đốt cháy rơm rạ để
giải quyết giảm thiểu lượng tác nhân gây bệnh Sclerotium oryzae, là nguyên
nhân chính gây ra bệnh thối thân lúa. Năm 1993, một thử nghiệm liên tục
được tiến hành trong năm ở Colusa Country để đánh giá tác động của chiến
lược quản lý rơm rạ để loại bỏ hạch nấm tồn tại ở rơm rạ gây nên bệnh thối
thân cây lúa, ảnh hưởng đến năng suất. Phương pháp sử dụng được bố trí thiết
kế trên hai mảnh đất cùng 1 vùng : mảnh 1 được bố trí đốt rơm rạ, mảnh 2
không đốt rơm rạ. Kết quả sau 5, 6 năm đạt được là khác biệt rõ rệt. Tại các
mảnh ruộng đốt rơm rạ , nấm Sclerotium oryzae gây bệnh thối thân lúa có tỷ
lệ bệnh luôn thấp hơn sơ với các mảnh ruộng không đốt rơm rạ.
Năm 2010, Elliot T. Maschmann, Nathan A. Slaton, Richard D.
chống lại nấm Sclerotium oryzae
Scleortium oryzae gây bệnh thối thân lúa là một bệnh quan trọng trên
lúa. Trong một nghiên cứu để kiểm soát căn bệnh này đã phát triển biện pháp
sinh học thân thiện với môi trường, phân lập sàng lọc chủng Trichoderma
harzianum và Trichoderma virens. Biến đổi trong tất cả 15 chủng
Trichoderma spp. đã được thử nghiệm chống lại Sclerotium oryzae. Tất cả
các chủng Trichoderma spp. và các hợp chất dễ bay hơi được sản xuất, ức chế
tối đa sự phát triển sợi nấm của Sclerotium oryzae 28,88%. Khi sử dụng
Trichoderma spp. ở nồng độ 50% ức chế sự tăng trưởng của sợi nấm
Sclerotium oryzae 94,44 %. Ở nồng độ 25% ức chế tối đa sự phát triển của sợi
nấm 94,44 % . Thí nghiệm 1 và 2 ở nhà kính cho thấy rằng tất cả các chủng
Trichoderma phân lập được thử nghiệm là rất hiệu quả trong việc kiểm soát
dịch bệnh và thúc đẩy tăng trưởng thực vật.
Thối thân do Sclerotium oryzae Catt. là một trong những bệnh nghiêm
trọng trên lúa làm giảm đáng kể năng xuất. Quản lý bệnh thối thân lúa là một
vấn đề cần phải được quan tâm, vì trong thực tế chưa tìm ra giống kháng đối
với bệnh này. Có một số hóa chất hay thuốc diệt nấm sử dụng rất hiệu quả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
nhưng việc sử dụng chúng để lại dư lượng trên gạo, ô nhiễm môi trường. Đòi
hỏi sự ra đời của tác nhân sinh học chống lại tác nhân gây bệnh thối thân. Tuy
nhiên, đến nay vẫn chưa có hệ thống nghiên cứu được thực hiện để tìm ra
những tác nhân sinh học chống lại tác nhân gây bệnh thối thân. Trichoderma
harzianum đã được sử dụng như một tác nhân kiểm soát sinh học có hiệu quả
làm giảm khả năng nhiễm bệnh trên lạc do Sclerotium rolfsii và Rhizoctonia
solani (Chet et al, 1979; Elad et al, 1980). Cuộc điều tra được tiến hành phân
lập trên những chủng khác nhau của Trichoderma spp. Nhằm tìm ra chủng
hiệu quả nhất chống lại nấm Sclerotium oryzae gây bệnh thối thân lúa.
1.2. Những nghiên cứu ở trong nước.