BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
––––––––––
––––––––––
NGUYỄN TÙNG LÂM HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TRỪ RẦY VÀ SỰ MẪN
CẢM MỘT SỐ LOẠI THUỐC CỦA RẦY LƯNG TRẮNG
Sogatella furcifera (Horvath) TẠI HƯNG NGUYÊN, NGHỆ AN
VỤ MÙA NĂM 2014 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ : 60.62.01.12 NGƯỜI HƯỚNG DẪN : PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM OANH
HÀ NỘI, 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả
nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả. Các số liệu
trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc
Hà Nội, Ngày Tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Hà Nội, Ngày Tháng năm 2015
Tác giả luận văn Nguyễn Tùng Lâm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
3 Cơ sở khoa học của đề tài 3
4 Mục tiêu của đề tài 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Phân loại, phân bố, ký chủ của rầy lưng trắng Sogatella furcifera
(Horvath) 5
1.2 Triệu chứng gây hại và thiệt hại do rầy lưng trắng gây ra 6
2.2.2 Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu
22
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy tại các vùng trồng lúa
trọng điểm
24
2.4.2 Đánh giá tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của quần
thể rầy lưng trắng Nghệ An
26
3.4.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của rầy lưng rắng
Nghệ An trước và sau thử thuốc.
31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên lúa tại huyện Hưng
Nguyên, Tỉnh Nghệ An. 33
3.1.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV đối với nông dân tại
huyện Hưng nguyên, tỉnh Nghệ An.
33
3.1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trừ rầy tại các địa điểm nghiên
cứu của huyện Hưng Nguyên.
37
3.1.3 Số lần phun thuốc trừ rầy trong một vụ lúa tại Huyện Hưng
Nguyên, tỉnh Nghệ An (2003– 2013)
40
3.1.4 Nhận thức của Nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại
Huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
43
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BVTV Bảo vệ thực vật
STT Số thứ tự
SD Sai số
Ri Chỉ số tính kháng
TB Trung bình
TTC Trưởng thành cái
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy tại huyện Hưng Nguyên,
tỉnh Nghệ An năm 2013 34
3.2 Thành phần các loài sâu rầy quan trọng nhất trong các năm 2008
và 2013 tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 35
3.3 Chủng loại hoạt chất trừ sâu được sử dụng để phòng trừ rầy trên
lúa từ 2003 đến nay tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. 37
3.4 Số loại thuốc trừ rầy được dùng nhiều nhất từ 2003 đến năm
2013 tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 40
3.18 Tỷ lệ sống sót của các pha trước trưởng thành của rầy lưng trắng
Nghệ An (S. furcifera) trong phòng thí nghiệm 63
3.19 Ảnh hưởng của các hoạt chất thuốc trừ sâu đến một số đặc điểm
sinh học của quần thể rầy lưng trắng Nghệ An 64
3.20 Ảnh hưởng của các hoạt chất thuốc trừ sâu đến tỷ lệ giới tính và
sự hình thành cánh của quần thể rầy lưng trắng Nghệ An 64Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Tên bảng Trang
2.1 Lồng lưới nhân nuôi nguồn rầy 23
2.2 Bình khí CO
2
gây mê rầy 23
2.3 Dụng cụ micropipettes 10µl 23
2.4 Khu vực nhà lưới 24
2.5 Lồng mica nhân nuôi rầy lưng trắng 27
2.6 Thu bắt rầy trong lồng mica 27
2.7 Quan sát rầy dưới kính lúp soi nổi 27
3.1 Chủng loại hoạt chất trừ sâu được sử dụng phòng trừ sâu hại trên
lúa từ năm 2003 đến nay tại 2 xã Hưng Trung và Hưng Đạo,
huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. 38
3.2 Đồ thị biểu diễn hiệu lực phòng trừ rầy lưng Trắng của hoạt chất
nhờ vậy chỉ trong vòng 30 năm đã biến nhiều vùng đất khó khăn trở thành
những vùng đất trồng lúa trù phú cho đất nước. Ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng,
Nhà nước cũng đã quan tâm đầu tư về khoa học công nghệ và khuyến nông
đối với cây lúa và các chính sách hỗ trợ nông dân. Nhìn lại 20 năm qua, sản
xuất lúa ở Việt Nam đã có những tựu đặc biệt ấn tượng, mà dấu mốc lịch sử là
năm 1989, khi Việt Nam, một nước thiếu lương thực lần đầu xuất hiện là
nước xuất khẩu gạo với số lượng lến đến 1 triệu tấn và sau đó, từ 1990 đến
2010 sản lượng lúa từ 19 triệu tấn tăng lên 40 triệu tấn, xuất khẩu gạo từ 1,6
triệu tấn tăng lên 6,7 triệu tấn, trong bối cảnh diện tích đất lúa năm 2010 đã
giảm 380.000 ha nếu so với năm 2000. Năng suất lúa bình quân toàn quốc đã
tăng từ 3,18 tấn/ha năm 1990 lên 5,3 tấn/ha năm 2010. Từ năm 2002 đến nay,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
năng suất lúa bình quân của Việt Nam luôn dẫn đầu các nước ASEAN và ít
nhất trên nửa triệu ha năng suất lúa Việt Nam đạt trên 7 tấn/ha trong vụ Đông
Xuân là mức năng suất lúa tiên tiến của thế giới hiện nay. Bên cạnh những
thành tựu đã đạt được trong sản xuất lúa vẫn còn tồn tại những vấn đề thách
thức lớn ngay từ khâu sản xuất. Quy trình sản xuất thâm canh trồng lúa trong
thời gian dài đã làm mất cân bằng dinh dưỡng trong đất, đất mất đi kết cấu,
nghèo dinh dưỡng và nhiều côn trùng gây hại đã phát sinh gây hại nặng hơn
trên cây lúa. Loài côn trùng mới nổi và gây hại quan trọng hơn trên lúa phải
kể đến các loài rầy hại thân lúa trong đó phải kể đến loài rầy lưng trắng
Sogatella furcifera (Horvath). Rầy lưng trắng là loài côn trùng có kiểu miệng
chích hút, có kích thước cơ thể nhỏ bé, cả rầy trưởng thành và rầy non đều
tập trung ở phần thân cây lúa phần sát mặt nước để hút nhựa, nếu mật độ cao
có thể gây hại nghiêm trọng tới năng suất. Bên cạnh rầy nâu truyền bệnh virus
vàng lùn lùn xoăn lá thì rầy lưng trắng còn là môi giới truyền bệnh lùn sọc
– Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng Nghệ An
trước và sau khi thử thuốc.
2.3. Cơ sở khoa học của đề tài
Trong bảo vệ thực vật tại Việt Nam, thuốc trừ sâu hóa học vẫn còn
chiếm tỷ lệ lớn trong các loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng, mặc dù đã
có nhiều công trình công bố về ảnh hưởng tiêu cực của thuốc trừ sâu hóa học
đến các hệ sinh thái. Đặc biệt, việc sử dụng thường xuyên và lâu dài thuốc
hóa học đã làm mất cân bằng cho các hệ sinh thái, trong đó làm thúc đẩy
nhanh quá trình hình thành những quần thể sâu hại có khả năng kháng được
thuốc trừ sâu.
2.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Ý nghĩa khoa học:
Đề tài đã đánh giá được mức độ mẫn cảm của quần thể rầy lưng trắng
Nghệ An với hai nhóm hoạt chất Imidacloprid và Emamectin Benzoate và so
sánh đặc điểm sinh rầy lưng trắng Nghệ An trước và sau thử thuốc. Các kết
quả này là tư liệu khoa học mới để sử dụng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
+ Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho nông dân sản xuất lúa tại Nghệ
An có phương pháp sử dụng thuốc trừ rầy một cách có hiệu quả hơn và làm
chậm quá trình hình thành tính kháng thuốc của rầy lưng trắng.
furcifera vào năm 1899 trên cơ sở mẫu thu thập tại Nhật Bản, và sau đó được
đổi là Sogatella furcifera. Rầy lưng trắng Sogatela fucifera (Horvarth) thuộc
Lớp: Insecta. Bộ: Homoptera. Bộ phụ: Auchenorrhyncha. Tổng họ:
Fulgoroidae. Họ: Delphacidae. Giống: Sogatella furcifera. Ngoài ra loài rầy
này còn có các tên đồng danh như: 1899 – Delphax furcifera Horvath, 1905 –
Liburnica albolineosa Fowler, 1912 – Sogata distinctant Distant, 1917 –
Megamelut furcifera Muir,…1963 – Sogatella furcifera Horvath. Về phân bố,
rầy lưng trắng phân bố rộng rãi ở hầu hết các nước trồng lúa vùng nhiệt đới và
cận nhiệt đới châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc,
Malaysia, Philippines, Ấn Độ, Việt Nam…và một số nước ở châu Mỹ và một
số nước ở châu Úc và đảo Thái Bình Dương.
So với rầy nâu thì khả năng gây thành dịch và mức độ phổ biến của rầy
lưng trắng ít hơn. Ký chủ chính của rầy lưng trắng là lúa, qua thí nghiệm cho
thấy rầy có thể đẻ trứng trên 37 loại cây khác nhau. Catindig (1993) nhận định
ngoài cây lúa rầy lưng trắng còn có thể hoàn thành pha phát dục của mình trên
ngô (Zea mays), cỏ lồng vực cạn (Echinochloa cololum), lồng vực nước
(Echinochloa glabrescens), cỏ đuôi phượng(Leptochloa chinensis). Theo Tao
và Ngo,(1986) ký chủ chính của rầy lưng trắng là lúa Oryza sativa L., ngoài
lúa ra rầy lưng trắng còn hoàn thành pha phát dục của mình trên các kí chủ đa
dạng khác. Rầy lưng trắng có đặc điểm đẻ trứng ở phần mô bẹ lá hoặc gân lá
chính của lá, đẻ thành từng ổ, trứng có hình dạng và kích thước tương tự như
nhưng mũi trứng dài hơn, mỗi con cái có thể đẻ khoảng 300 – 500 trứng, đẻ
tập trung trong 3– 6 ngày và kéo dài khoảng 10 – 15 ngày. (Ammar et al.,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
1980). Trưởng thành rầy lưng trắng có hai dạng cánh ngắn và cánh dài, tất
cả con đực đều có cánh dài, con cái có hai dạng cánh ngắn và cánh dài.
đen phương nam.Trong đó vào các năm 1978– 1979, 1982– 1983 và 1987–
1988 thiệt hại do rầy lưng trắng lên tới 1 triệu tấn lúa/năm, đặc biệt vào
những năm 1991 diện tích bị rầy nâu và rầy lưng trắng gây hại năng lên tới
25 triệu ha (Cheng, 2009)
Một số thiệt hại do rầy lưng trắng gây ra ở một số nước Châu Á được
Catindig et al (2009) tổng kết như sau:
Ở Trung Quốc, hàng triệu hecta lúa đã bị rầy lưng trắng gây hại liên
tục ra trong vòng 10 năm từ năm 1998 đến năm 2006. Với nghiên cứu ở 5
vùng tại Trung Quốc đã chỉ ra rằng thiệt hại thấp nhất là 5,1 triệu ha năm
2002 và thiệt hại cao nhất là 8,5 triệu ha năm 2006. Trong năm 2007, 1,5 triệu
ha bị thiệt hại bao phủ chỉ trong một tỉnh. Nhìn chung diện tích bị rầy lưng
trắng gây hại có xu hướng tăng lên.
Ở Malaysia, diện tích bị thiệt hại thấp nhất là 541 ha trong năm 2001,
diện tích cao nhất là 1256 ha trong năm 1999. Không có dữ liệu về thiệt hại từ
năm 2003 đến năm 2007.
Ở Thái Lan thiệt hại do rầy lưng trắng rất hạn chế: 14905 ha trong năm
1999 và 1 ha được ghi nhận trong năm 2001.
Theo Trần Quý Hùng (2003), diện tích lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng
trắng gây ra trong cả nước là 263.129 ha (miền Bắc là 141.066 ha, miền Nam
122.063 ha) trong đó diện tích bị hại nặng là 12.317 ha. Nhìn chung, diện tích
lúa bị nhiễm rầy đến nhiễm nặng đều giảm so với cùng kỳ năm 2001 khoảng
22 – 33%. Như vậy diện tích lúa bị hại và bị hại nặng do rầy nâu và rầy lưng
trắng gây ra xếp thứ 4 trong 5 loài dịch hại chủ yếu sâu cuốn lá, sâu đục thân,
bệnh đạo ôn, rầy thân, bệnh khô vằn.
Theo Phạm Văn Lầm (2000), năm 2000, tại tỉnh Thái Bình, rầy hại
thân lúa phát sinh sớm ngay từ đầu vụ với mật độ cao, diện phân bố rộng hơn
so với năm 1999. Diện tích phải phòng trừ khá lớn với tổng số là 58.349 ha
trong vụ xuân và 225 ha trong vụ mùa, trong vụ xuân có diên tích phải phun 2
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
o
C và khoảng 21 ngày ở nhiệt độ 13 – 22
o
C. Tỷ lệ
nở của trứng trung bình là 64,3 – 88,9% (Ammar et al., 1980).
Thời gian trứng ở nhiệt độ 25,3
0
C – 32,7
0
C và ẩm độ từ 83 – 85 % có
thời gian phát dục từ 5 – 8 ngày (Catindig, 1993).
Theo Tao and Ngo (1968) trứng được đẻ vào các mô của bẹ lá với số
lượng lớn, và mỗi ổ gồm 5 đến 20 trứng sắp xếp cạnh nhau. Trứng mới đẻ có
màu trắng đục, gần nở có màu vàng nhạt; Một phần của các mô xung quanh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
những quả trứng bị tổn thương do sự đẻ trứng và biến màu thành nâu sẫm. Trứng
phát triển từ 5,2 – 10,5 ngày là pha đầu tiên, dài nhất và không khác biệt đáng kể
Rầy non:
Thời gian phát dục pha ấu trùng rầy lưng trắng khoảng 14 – 16 ngày và
trải qua 5 tuổi, ở tuổi 1 chúng đã bắt đầu gây hại cây lúa bằng cách chích hút
nhựa cây, song từ tuổi 3 chúng có khả năng di chuyển, phát tán sang những cây
lúa xung quanh (Catindig, 1993).
Khi mới nở chúng có màu trắng sữa, sau chuyển dần sang màu xám sẫm
hoặc màu đen và trắng xen kẽ, kích thước của chúng từ 0,8 mm – 2,1mm tùy
tuổi.Ấu trùng mới nở ăn chất màu xám trên vỏ trứng của nó từ 3 đến 5 phút,
rầy non phát triển sớm và bắt đầu hút nhựa cây lúa ngay khi mới nở. Thời
nhiệt độ từ 30 – 31
0
C và ẩm độ 73,4 – 86,7% thời gian phát dục trứng là 5.49
± 0,93 ngày. Vòng đời của rầy lưng trắng từ 25 – 26 ngày khi nuôi trong điều
kiện nhiệt độ từ 25 – 26,6
0
C và ẩm độ từ 73,4 – 86,7% (Hồ Thị Thu Giang,
2011). Còn theo Nguyễn Đức Khiêm (1995), rầy lưng trắng trong điều kiện
nhiệt độ 25 – 28,6
0
C thì vòng đời rầy là 22 ngày
1.4. Biện pháp phòng trừ rầy lưng trắng
1.4.1. Biện pháp canh tác
Biện pháp canh tác được khuyến cáo để hạn chế rầy lưng trắng như:
không trồng quá hai vụ mỗi năm và sử dụng giống trỗ chín sớm. Rầy lưng
trắng không hoàn thành giai đoạn sinh trưởng trên các giống lúa trỗ chín sớm.
Ngoài ra, việc sử dụng phân bón bằng các chia lượng đạm hợp lý cũng làm
giảm khả năng bùng phát của rầy lưng trắng. Phương thức canh tác lúa đồng
bộ bao gồm cả các vùng lân cận trong vòng ba tuần duy trì không có lúa trên
ruộng có thể có hiệu quả tuy nhiên biện pháp này vẫn còn tranh luận. Các
ruộng có thể thoát nước trong 3 – 4 ngày khi ruộng bị nhiễm nặng. Tại Trung
Quốc, việc tiêu thoát nươc trên ruộng khi cây ở giai đoan 8 – 9 lá trong vụ
đầu tiên và ở giai đoan 12 – 13 lá trong vụ thứ hai giúp lúa phát triển cũng
như tăng quần thể kẻ thù tự nhiên góp phần làm hạn chế sự phát triển của
quần thể rầy lưng trắng. (Ammar, E. D và ctv 1980).
Ký chủ của rầy lưng trắng rất đa dang và phổ biến vậy nên chế độ canh
tác có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại, phát sinh phát triển của rầy lưng
trắng: thời vụ, bón phân, chế độ nước
1.4.2. Biện pháp giống chống chịu
Theo Finbarr Horgan (2009), biện pháp dùng giống chống chịu là một
nhau để làm cơ sở cho việc sản xuất đại trà các giống lúa đó tại Thừa Thiên
Huế. (Trần Thị Hoàng Đông và cs 2014)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
1.4.3. Biện pháp sinh học
Quần thể rầy lưng trắng được duy trì ở mức cần bằng tự nhiên nhờ có
các tác nhân kiểm soát sinh học, các loài ký sinh có thể tồn tại trong các điều
kiện ngoài ruộng lúa, nhờ đó các loài này có thể bảo tồn qua các mùa vụ. Tuy
nhiên, những loài ký sinh thiên địch đòi hỏi có 1 – 2 thế hệ để biến đổi thích
ứng với ký chủ. Trong quá trình di cư, rầy lưng trắng đã mang theo loài bắt
mồi ăn thịt: bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis và nấm ký sinh Erynia
delphacis đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát rầy lưng trắng. Tại Nhật
Bản, tỷ lệ chết của trứng rầy bị ăn và ký sinh khiến trứng không thể nở là từ
30 – 70%, tại Malaysia năm 1989, tỷ lệ chết của trứng rầy trên ruộng lúa gieo
sạ là từ 11 – 90% mà trong đó nhóm ong ký sinh rầy chiếm 69% tổng số trứng
(Zhang. W và ctv, 2012).
Ở Việt Nam rầy lưng trắng cũng có những loài thiên địch trong tự
nhiên. Vùng Hà Nội đã ghi nhận có 18 loại thiên địch của rầy lưng trắng trong
đó nhóm bắt mồi gồm 5 loại nhện, 3 bọ rùa, 2 loại bọ xít, 1 loại bọ 3 khoang
và 1 bọ cánh ngắn, nhóm ký sinh gồm 4 loài kí sinh trứng và 1 loài ký sinh
rầy non, 1 loại bọ cánh cuốn (P.V.Lầm, 1989).
1.4.4. Biện pháp vật lý cơ giới
Biện pháp cơ giới vật lý diễn ra theo nguyên tắc vật lý. Biện pháp này
liên quan tới vận động cơ bắp và các tác động như đặt bẫy côn trùng, bắt côn
trùng bằng tay, các công cụ hoặc máy móc, các biện pháp cơ giới vật lý,canh
tác thường được sử dụng đồng thời để bổ khuyết cho nhau: cầy và bừa đất
trồng lúa là biện pháp canh tác và côn trùng bị chết do tổn thương do va chạm
Giai đoạn từ đòng già – ngậm sữa, chắc xanh: Chỉ dùng các loại thuốc
tiếp xúc có hoạt chất Fenobucarb (Bassa 50EC, Azora 350EC, Bascide 50EC,
Nibas 50ND ) và nhóm Chlorpyrifos Ethyl (Victory 585EC, Medophos
750EC, Dragon 585EC ). Phải rẽ lúa 4 hàng/băng; nếu lúa tốt, mật độ rầy
cao, rẽ 3 hàng/băng và phun trực tiếp vào nơi cư trú của rầy.
Sau phun 3 ngày đối với rầy lưng trắng; 1 ngày với rầy nâu cần kiểm
tra ruộng, nếu mật độ rầy còn trên ngưỡng phòng trừ phải phun lại.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Muốn phòng trừ rầy có hiệu quả cần phải phối hợp tiến hành kết hợp
các biện pháp khác nhau (biện pháp tổng hợp) như sử dụng giống kháng, gieo
trồng không quá 2 vụ trong một năm, phòng trừ sinh học
Về kết quả dùng thuốc hóa học trừ rầy lưng trắng tại Thừa Thiên năm
1960 tại 3 điểm, mỗi điểm xử lý thuốc khoảng 1/10 ha: thuốc dùng ở điểm thứ
nhất là 5% Malathion bột; 10% DDT bột, ở địa điểm thứ hai là 5% Malathion
bột; 10% DDT bột, 0,02% Edrin sữa; 0,005% Malathion sữa, ở điểm thứ ba là
0,004% Edrin sữa; 0,01% Diedrin bột thấm nước; 0,1% Aldrin bột thấm
nước, thuốc bột dùng 30kg/ha, thuốc nước dùng 800lít/ha. Ở điểm 1 và 2
phun thuốc được hai lần, điểm 3 phun được một lần do mật độ rầy quá thấp.
Kết quả ở điểm 1 và 2 thuốc có hiệu quả với rầy còn ở điểm 3 không đánh giá
được vì mật độ rầy quá thấp.
Theo Trần Thị Me và Cs (2011) biện pháp hóa học được áp dụng ngăn
chặn rầy lưng trắng trong thời gian cây lúa non cấn sử lý hạt giống bằng thuốc
Cruiser Plus 312.5FS và Enaldo 40FS. Trong giai đoạn cây lúa từ đẻ nhánh
đến trước trỗ nên dùng thuốc lưu dẫn và tiếp xúc như Elsin 10EC, Oshin
20WG cùng với thuốc bám dính để tăng hiệu quả
Hiện nay biện pháp hóa học cùng với biện pháp dùng giống kháng là 2