TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN MINH LUÂN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH THÚ Y KHẢO SÁT SỰ HIỆN DIỆN CỦA ESCHERICHIA COLI
SINH MEN ß-LACTAMASE PHỔ RỘNG TRÊN
GÀ KHỎE TẠI HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG
Cần Thơ, 2015
i
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài “Khảo sát sự hiện diện của Escherichia coli sinh men β–lactamase phổ
rộng trên gà khỏe tại huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng” do sinh viên Nguyễn
Minh Luân thực hiện tại Bộ môn Thú Y, khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng
Dụng, trường Đại Học Cần Thơ từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014. Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2015 Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2015
Duyệt Bộ Môn Giảng viên hướng dẫn ThS. Bùi Thị Lê Minh Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2015
Duyệt Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
iv
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát sự hiện diện của Escherichia coli sinh men β–lactamase phổ
rộng trên gà khỏe tại huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng” được thực hiện từ tháng 08
đến tháng 12 năm 2014 trên 24 mẫu phân gà ở trạng thái khỏe, trong đó gồm có 6
mẫu gà thịt một tuần tuổi, 6 mẫu gà thịt một tháng tuổi và 12 mẫu phân gà đẻ. Sau
khi lấy mẫu về chúng tôi xác định vi khuẩn E.coli sinh men ß-lactamase bằng
phương pháp đĩa kết hợp (CLSI, 2014) và kiểm tra độ nhạy của các chủng E. coli
ESBL phân lập được đối với kháng sinh. Kết quả phân tích cho thấy tỉ lệ E.coli
ESBL dương tính trên phân gà là 45,8%, trong đó tỉ lệ trên gà thịt là 75% và trên
gà đẻ là 16,7%. Kết quả kháng sinh đồ thu được cho biết vi khuẩn E. coli ESBL
nhạy cảm với các kháng sinh amikacin (100%), tetracycline (75,9%), doxycycline
(69%), fosfomycin (69%). Đề kháng mạnh với các kháng sinh như ampicillin
(100%), streptomycin (100%), trimethoprim/sulfamethoxazole (100%) gentamycin
(96,6%), cefalor (89,7%), cefuroxime và kanamycin (86%), cefotaxime và
norfloxacin (82,8%). Xét về tính đa kháng kháng sinh thì một số vi khuẩn có thể đề
kháng cùng lúc từ 7 đến 13 loại kháng sinh khác nhau, trong đó số vi khuẩn đề
kháng cùng lúc 11 loại kháng sinh chiếm đến 31,04%, tiếp theo là 10 loại kháng
sinh chiếm 24,13%, 8 loại kháng sinh là 17,24%, 12 loại kháng sinh chiếm
10,34%, 7 hoặc 9 loại kháng sinh là 6,9%, và 13 loại kháng sinh chiếm 3,45%.
2.2.4 Phương pháp phát hiện sự hiện diện E.coli ESBL 10
2.3 Kỹ thuật kháng sinh đồ Kirby- Bauer 11
2.3 Sơ lược một số kháng sinh nghiên cứu trong đề tài 11
2.3.1 Kháng sinh nhóm β -lactam 11
2.3.2 Kháng sinh nhóm aminoglycoside 13
2.3.3 Kháng sinh nhóm tetracyclline 14
2.3.4 Kháng sinh nhóm quinolone 14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Phương tiện nghiên cứu 15
vi
3.1.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 15
3.1.2 Dụng cụ và hóa chất 15
3.2 Phương pháp nghiên cứu 16
3.2.1 Phương pháp thu thập mẫu 16
3.2.2 Phương pháp nuôi cấy phân lập vi khuẩn E. coli ESBL 16
3.2.3 Phương pháp lập kháng sinh đồ 18
3.2.4 Phương pháp phân tích thống kê 19
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Kết quả Tỉ lệ E. coli ESBL dương tính trên gà thịt 20
4.2 So sánh tỉ lệ dương tính E. coli ESBL trên gà thịt và gà đẻ 21
4.3 Kết quả kiểm tra độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh 22
4.4 Tính đa kháng của vi khuẩn E.coli ESBL đối với các loại kháng sinh 25
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 27
5.1 Kết luận 27
5.2 Đề nghị 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
PHỤ CHƯƠNG 31
viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Vi khuẩn E. coli dưới kính hiển vi quang học ……………… 3
Hình 2.2: Thể viêm ruột …………………………………… ………… 6
Hình 2.3: Túi lòng đỏ không tiêu……………………………… ……… 6
Hình 2.4: Thể viêm rốn…………………………………………… …… 6
Hình 2.5: Viêm màng bao tim…………… ……………………………… 6
Hình 2.6: Viêm ống dẫn trứng, viêm buồng trứng…………………… … 7
Hình 2.7: Thể viêm mắt………………………………………………… 7
Hình 2.8: Sơ đồ cấu trúc dạng vòng của kháng sinh nhóm ß-lactam…… 12
Hình 2.9: Sơ đồ sự tấn công của ß-lactamase vào vòng ß-lactam trong cấu trúc
kháng sinh nhóm ß-lactam…………………………………… 13
Hình 3.1: Qui trình phân lập vi khuẩn E. coli ESBL……… 18
Hình 4.1: Kết quả kháng sinh đồ của các mẫu E. coli ESBL phân lập……… 24
Hình 4.2: Kết quả kháng sinh đồ…………………………………………… 24
Hình 1: Khuẩn lạc E. coli trên môi trường MC……………………… 32
Hình 2: Sinh hóa khẳng định vi khuẩn E. coli 32
Hình 3: Đĩa kết hợp khẳng định E. coli ESBL……………………… 32
1
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở nước ta, chăn nuôi gia cầm là nghề truyền thống lâu đời của người chăn nuôi, nó
đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đáp ứng nguồn thực phẩm dinh
dưỡng cho con người và đem lại lợi nhuận khá cao so với một số ngành chăn nuôi
khác. Hàng năm ngành chăn nuôi gà đã sản xuất một lượng thịt hơi chiếm khoảng 14-
15 % trong tổng lượng thịt hơi các loại, theo thống kê chăn nuôi Việt Nam năm 2013
số lượng thịt gà là 230,9 ngàn tấn và số lượng trứng là 4,3 tỷ quả
(http://channuoivietnam.com). Vì vậy, trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi
gia cầm đang trên đà phát triển mạnh và đặc biệt là chăn nuôi gà theo mô hình công
nghiệp với quy mô lớn. Tuy nhiên, việc phát triển nhanh cũng đồng nghĩa sẽ kéo theo
nhiều dịch bênh xảy ra, do đó đòi hỏi người chăn nuôi phải sử dụng nhiều kháng sinh
để phòng và trị bệnh.
Kháng sinh nhóm ß-lactam là kháng sinh được biết đến sớm nhất trong lịch sử kháng
sinh và có vai trò đặc biệt trong điều trị nhiễm khuẩn. Hiện nay nhóm kháng sinh này
có số lượng lớn và được sử dụng phổ biến nhất trong phòng và trị bệnh cho gia cầm.
khi các điều kiện nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém, sức chống đỡ
bệnh tật của con vật yếu thì E. coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh (Đào
Trọng Đạt và ctv., 1999).
E. coli là vi khuẩn hiếu khí chủ yếu trong hệ tiêu hóa của hầu hết các loài động vật,
thường có 10
7
– 10
9
vi khuẩn này trên một gram phân. Hệ thống tiêu hóa của con vật
mới sinh sẽ nhanh chóng nhiễm vi khuẩn trong đó có E. coli tạo nên hệ vi sinh vật
đường ruột. Nồng độ vi khuẩn E. coli thường thấp ở ruột non, tăng dần và có nồng độ
cao nhất ở ruột già. Hầu hết E. coli là sinh vật sống cộng sinh, chúng sống trong
đường ruột nhưng không có hại cho vật chủ. Chỉ một phần nhỏ số chủng có thể sản
xuất yếu tố độc lực và gây hại con vật (Gyles and Fairbrother, 2010).
2.1.1 Đặc điểm hình thái
Theo Hồ Thị Việt Thu (2012), E. coli là một loại trực khuẩn hình gậy ngắn, kích
thước 2-3 μm x 0,6 μm. Trong cơ thể trực khuẩn có hình cầu đứng riêng lẻ đôi khi xếp
thành chuỗi ngắn. Có khi trong môi trường nuôi cấy còn thấy những trực khuẩn dài 4-
8 μm, những loại này thường gặp trong canh khuẩn già. Phần lớn E. coli di động do có
lông ở xung quanh thân nhưng một số không thấy di động. Vi khuẩn không sinh nha
bào, bắt màu Gram âm, có thể bắt màu toàn thân hoặc sẫm ở hai đầu khoảng giữa nhạt
hơn, có thể hình thành giáp mô khi gặp môi trường dinh dưỡng tốt, nhưng soi tươi có
thể không thấy được. Nếu cố định bằng axit osmic rồi quan sát dưới kính hiển vi thấy
tế bào E. coli có nhân, đó là một khối tối nằm trong nguyên sinh chất màu sáng.
3
Hình 2.1: Vi khuẩn E. coli dưới kính hiển vi quang học (X=100)
http://biology.clc.uc.edu/fankhauser/labs/microbiology/gram_stain/Gram_stain_image
s/index_gram_stain_images.html
E.coli lên men sinh hơi các loại đường glucoz, mantoz, galactoz, levuloz, lactoz,
fructoz…không sinh H
2
S, hoàn nguyên nitrat thành nitrit, không sử dụng urea, không
sử dụng citrat làm nguồn cung cấp carbon. Tất cả E.coli đều lên men đường lactoz
nhanh và sinh hơi, đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt E. coli và Salmonella
(Nguyễn Như Thanh, 1997).
Theo Nguyễn Ngọc Hải (2012), có thể dùng các phản ứng IMViC như: Indol (Trypton
Agar), MR (Methyl Red), VP (Voges – Proskauer), Simmons Citrate, để phân biệt
E.coli với các vi khuẩn đường ruột khác.
Phản ứng Indol: Nhiều loài vi sinh vật có enzyme tryptophanase có khả năng phân
giải tryptophan trong môi trường tạo thành indol. Indol khi kết hợp với
paradimethylamino-benzaldehyd có trong thuốc thử kovacs sẽ tạo thành hợp chất
rosindol có màu đỏ.
Phản ứng MR (Methyl Red): Các nhóm vi khuẩn đường ruột có khả năng oxy hóa
đường glucose thành acid pyruvic, acid pyruvic lại tiếp tục chuyển hóa thành nhiều
loại acid hữu cơ khác như: acid acetic, acid lactic, acid succinic, làm cho pH của môi
trường nuôi cấy vi khuẩn hạ xuống dưới 4,5. Ở độ pH này chất chỉ thị màu methyl red
khi được nhỏ vào sẽ vẫn giữ màu đỏ. Như vậy dựa vào màu của methyl red người ta
có thể xác đinh được phản ứng dương tính (màu đỏ) hay âm tính (màu vàng).
Phản ứng VP (Voges - Proskauer): khác với phản ứng MR, một số vi khuẩn có khả
năng oxy hóa đường glucose tạo thành acid pyruvic, nhưng lại không chuyển hóa acid
pyryvic thành acid hữu cơ mà thành hợp chất acetyl methyl carbinol (acetoine).
Acetione trong môi trường kiềm cao sẽ bị oxy hóa thành diacetyl. Diacetyl sinh ra sẽ
kết hợp với nhóm guanin của arginin có trong pepton tạo thành phức chất có màu đỏ
với thuốc thử α-naphtol. Đây là cơ sở của việc đánh giá kết quả của phản ứng VP.
Phản ứng Simmons Citrate: Trong môi trường có chứa hợp chất sodium citrat
(Na
3
C
E. coli có 2 loại độc tố là ngoại độc tố và nội độc tố:
- Ngoại độc tố là một chất không chịu được nhiệt dể bị phá hủy ở 56
o
C trong
vòng 10-30 phút. Dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải
độc tố. Ngoại độc tố có tính hướng thần kinh và gây hoại tử, khả năng tạo độc tố sẻ
mất khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyền nhiều lần trên môi trường dinh
dưỡng.
- Nội độc tố là yếu tố gây ngộ độc chủ yếu của vi khuẩn đường ruột, chúng có
trong tế bào vi trùng và gắn vào trong tế bào vi trùng để gây bệnh. Nội độc tố có thể
chiết xuất bằng nhiều phương pháp: phá vỏ tế bào bằng cơ học, chiết xuất bằng
phenol hay dưới tác động cua enzyme.
E. coli cũng như các loại vi khuẩn không sinh nha bào khác đề kháng yếu với nhiệt
độ, ở 55
0
C sẽ bị diệt trong 1 giờ, 60
0
C trong 30 phút, và chết ngay khi đun sôi 100
0
C.
Các chất tiêu độc bình thường như phenol, formol, vôi…ở nồng độ thông thường
cũng làm E. coli chết rất nhanh. Tuy nhiên, ở môi trường bên ngoài, các chủng E. coli
độc có thể tồn tại đến 4 tháng (Nguyễn Như Thanh, 1997).
E. coli có sẵn trong ruột của động vật nhưng chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của con
vật suy giảm. Bệnh do trực khuẩn E. coli có thể xảy ra như một bệnh truyền nhiễm kế
phát trên cơ sở thiếu vitamin và các bệnh vius, kí sinh trùng. Theo Trần Cẩm Vân
(2001), trong đường tiêu hóa E. coli chiếm tỉ lệ cao nhất trong số vi khuẩn hiếu khí
(khoảng 80%).
6
(Nguyễn Thanh Hiền, 2013)
Hình 2.3: Túi lòng đỏ không tiêu
(http://www.thepoutryside.com
Hình 2.4: Thể viêm rốn
(http://www.thepoultrysite.com)
Hình 2.5: Viêm màng bao tim
(Nguyên Thanh Hiền, 2013)
7
Theo Nguyễn văn Hiệp (2000), khảo sát sự hiện diện của vi khuẩn E. coli trong môi
trường chăn nuôi gà công nghiệp và sản phẩm chăn nuôi trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh cho biết có 131/366 mẫu khảo sát có sự hiện diện của E. coli chiếm 35,79%,
trong đó phân nhiễm 46,87%.
Theo kết quả nghiên cứu của Duru Carissa et al. (2013) có 45/159 mẫu swab phân lập
trên gà tại Nigeria nhiễm E. coli chiếm tỉ lệ 28,3%.
Theo Maryvonne (1999), trong 1 gram phân của gia cầm bình thường có khoảng 10
4
-
penicillin, ampicillin và cephalosporins thế hệ 1 trong một thời gian dài sau đó tại
châu Á và nhiều nơi trên thế giới.
Cho đến năm 1974 chủng K. pneumoniae có gen mã hóa men ß-lactamase trên
plasmide được phát hiện, enzyme có nhiều thay đổi về amino acid so với TEM-1 và
TEM-2 nên được đặt tên là SHV-1 (Sulphyryl Variable), như vậy vi khuẩn đã có
TEM-1, TEM-2 và SHV-1 nên các penicillin, cephalosporin thế hệ 1 đã bị kháng lại
rất nhiều.
Đầu những năm 1980 các kháng sinh ß-lactam phổ rộng như cephalosporin thế hệ 2,
thế hệ 3 được đưa vào điều trị các vi khuẩn kháng thuốc. Sự ra đời các kháng sinh ß-
lactam này đặt biệt là cephalosporin thế hệ 3, đã là một thành công lới của khoa học
trong công cuộc chiến đấu lâu dài với vi khuẩn gây bệnh có TEM-1, TEM-2 và SHV-
1. Nhưng rồi một loại men ß-lactamase có khả năng phân hủy các cephalosporin thế
hệ thứ 2, thế hệ 3 có nguồn gốc do TEM-1, TEM-2 và SHV-1 thay đổi một số
amino acid gọi được là ESBL xuất hiện.
Năm 1983 ở Đức phát hiện chủng K. ozaenae sinh men ß-lactamase phân hủy
cefotaxime được đặt tên là SHV-2, đây là trường hợp sinh ESBL đầu tiên được ghi
nhận. Năm 1984 đến 1987 tại Pháp đã phát hiện chủng K. pneumoniae có gen mã hóa
ESBL trên plasmide kháng cefotaxime đặt tên là CTX-1. Cũng vào những năm 1986
ở Nhật Bản và năm 1989 ở Đức phát hiện được E. coli sinh ESBL kháng cefotaxime
không phải TEM và SHV nên được đạt tên là CTX-M-1. Đáng ngại là CTX-M-1 có
khả năng phân hủy cephalosporin thế hệ 3 và 4.
Như vậy, với việc sử dụng các kháng sinh nhóm ß-lactam ngày càng nhiều đặc biệt là
các cephalosprin thế hệ 3 và có nhiều ESBL được mã hóa qua plasmide nên ngày
càng làm tăng nhiều chủng loại ESBL, điều này cảnh báo nguy cơ gia tăng vi khuẩn
đề kháng kháng sinh và việc hết kháng sinh điều trị trong tương lai gần. Ở một số
nước phát triển có nền chăn nuôi hiện đại, việc nghiên cứu vấn đề vi khuẩn sinh
ESBL đã được quan tâm và thực hiện nhiều, tuy nhiên ở Việt Nam việc nghiên cứu
vẫn còn hạn chế. Hiện nay ESBL thường gặp trong các chủng vi khuẩn đường ruột
9
ofloxacin (70%). Tỉ lệ đề kháng của kháng sinh đối với E. coli ESBL cao nhất là
ticarcillin (100%), ceftazidime (100%), amoxicillin-clavulanic acid (90%), nalidixic
acid (100%), cefotaxime (100%), ceftriaxone (90%), cefepime (90%).
10
Hiên nay, tại Việt Nam việc nghiên cứu về vi khuẩn E. coli ESBL vẫn còn hạn chế,
chủ yếu là những nghiên cứu sâu và rộng trên người. Việc nghiên cứu trên động vật
và gia cầm chưa được quan tâm nhiều và hiện vẫn chưa có số liệu nào cụ thể. Nghiên
cứu trên người về trực khuẩn đường ruột tiết β-lactamase phổ rộng (ESBL) gây nhiễm
khuẩn phân lập tại bệnh viện Chợ Rẩy. Cho thấy tỉ lệ nhiễm E. coli ESBL trên phân
bệnh nhân được phân lập là 53,7% (Võ Thị Chi Mai, 2010).
2.2.3 Phương pháp phát hiện sự hiện diện E. coli ESBL
Việc phát hiện các vi khuẩn gram âm sinh ESBL nhanh, chính xác của phòng xét
nghiệm vi sinh là việc làm hết sức cần thiết, phát hiện được sớm các vi khuẩn sinh
men ß-lactam để có biện pháp xử lí kịp thời, góp phần quan trọng trong việc sử dụng
kháng sinh để phòng và trị bệnh gia súc gia cầm trên thực tế được hiệu quả nhất.
Nhiều phương pháp phát hiện ESBL được đề nghi dựa trên nguyên tắt khuyếch tán
của Kirby-Bauer. Hiện nay các phương pháp được sử dụng rộng rãi như: phương pháp
đĩa đôi, phương pháp đĩa kết hợp, phương pháp ChromID ESBL agar, Băng giấy E-
test ESBL. Trong đề tài này, chúng tôi xác định việc sinh ESBL bằng phương pháp
đĩa kết hợp của Jacoby và Hans (1999), đây là phương pháp phổ biến và được sử dụng
nhiều nhất hiện nay.
Phương pháp đĩa kết hợp: phương pháp này được Jacoby và Hans mô tả lần đầu tiên
năm 1999. Bằng cách sử dụng hai loại đĩa kháng sinh là cephalosporin và
cephalosporin tương ứng phối hợp với clavulanic acid. Vi khuẩn tiết ESBL khi hiệu
số đường kính vòng vô khuẩn của đĩa cephalosporin phối hợp với clavulanic acid so
với đĩa cephalosporin ≥ 5mm. Các loại đĩa kháng sinh được sử dụng là cefotaxime (30
μg), cefotaxime clavulanic acid (30/10μg), ceftazidime (30μg), ceftazidime clavulanic
acid (30/10μg).
Kháng sinh nhóm ß-lactam được biết đến sớm nhất trong lịch sử kháng sinh và có vai
trò đặc biệt quan trọng trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Hiện nay nhóm ß-lactam
có số lượng kháng sinh lớn và được sử dụng phổ biến trên thị trường.
Kháng sinh nhóm ß-lactam được chia thành 2 phân nhóm penicillin và
cephalosporins.
- Phân nhóm penicillin: ampicillin, amoxicillin, sodium hoặc potassium penicillin G,
penicillin V, procaine penicillin G, Benzathyl penicillin, methicillin, oxacillin,
cloxacillin, dicloxacillin.
- Phân nhóm cephalosporin gồm có: Cephalosporin thế hệ 1, thế hệ 2, thế hệ 3 và thế
hệ 4.
+ Cephalosporin 1: Cefalotin, cefazolin, cefalexin, efradin, cefadroxil, cephalophin,
cephapirin…
12
+ Cephalosporin 2: Cefaclor, cefuroxim, cetotetan, cefonicid, caforanid, cefamandol,
cefprozil, cefoxitin, cefmetazol…
+ Cephalosporin 3: Cefotaxim, cefixim, cefoperazon, ceftazidim, ceftizoxim,
ceftriaxon, ceftiofur…
+ Cephalosporin 4: Cefepim, cefpirom, cefquinome…
Một số kháng sinh về mặt lý thuyết và thử nghiệm trên invitro không bị phân hủy bởi
ESBL gọi là cephamycin như: cefoxitin, cefotetan và cefmetazole.
Cấu trúc kháng sinh nhóm ß-lactam: Tất cả các kháng sinh nhóm ß-lactam đều có
vòng ß-lactam trong cấu trúc phân tử. Vòng ß-lactam có cấu trúc không gian hoá học
4 cạnh gồm 3 nguyên tử C và một nguyên tử N. Cấu trúc cơ bản là vòng thiazolidine
nối với vòng ß-lactam, vòng này lại được gắn với đuôi R. Sự thay đổi R tạo ra các
kháng sinh trong nhóm.
có chức năng (Võ Thị Trà An, 2010).
Theo Võ Thị Trà An (2010), Hiện có 3 cơ chế liên quan đến đề kháng kháng sinh
nhóm aminoglycoside:
- Vô hoạt kháng sinh bởi các enzyme.
- Sửa đổi ribosome do đột biến ở protein S12 của tiểu đơn vị 30S.
- Giảm sự thẩm thấu kháng sinh vào tế bào.
2.4.3 Kháng sinh nhóm tetracyclline
Đây là nhóm kháng sinh được sử dụng phổ biến từ lâu do phổ kháng khuẩn rộng và
những ưu điểm về dược động học.
14
Gồm các kháng sinh như sau: tetracycline, oxytetracycline, chlotetracycline,
doxycycline.
Cấu trúc kháng sinh nhóm tetracycline: Kháng sinh nhóm này có cấu trúc 4 vòng 6
cạnh (sườn naphthacen, tetracene).
Cơ chế tác dụng của kháng sinh nhóm tetracycline: Các tetracycline có tác động tĩnh
khuẩn bằng cách ức chế tổng hợp protein của tế bào vi khuẩn. Sau khi khuyếch tán
qua màng ngoài vi khuẩn, một hệ thống vận chuyển tích cực sẽ đưa thuốc vào bên
trong nguyên sinh chất. Tại đây, các tetracycline gắn kết với tiểu đơn vị 30S của
ribosome, sau đó chúng cản chở RNA vận chuyển mang aminoacyl (aminoacyl-
transfer RNA) gắn với điểm tiếp nhận trên phức hợp ribosome-RNA thông tin (Võ
Thị Trà An, 2010).
Theo Võ Thị Trà An (2010), có 2 cơ chế chính dẫn đến đề kháng kháng sinh nhóm
tetracycline ở vi khuẩn:
- Qua hệ thống bơm thoát dòng, nghĩa là đẩy kháng sinh từ trong ra ngoài, làm giảm
nồng độ kháng sinh bên trong tế bào chất của vi khuẩn.
- Thông qua các protein có khả năng bảo vệ ribosome, từ đó kháng sinh không gắn kết
được với ribosome.
2.4.4 Kháng sinh nhóm quinolone
Là nhóm kháng sinh tổng hợp có nguồn gốc từ acid carboxylic.
bình tam giác, cốc thủy tinh, bình định mức, cân điện tử, kéo, kẹp, tâm bông vô trùng,
đũa thủy tinh, thước đo vòng vô khuẩn, thùng trữ lạnh, túi nylon, khẩu trang, găng tay
và một số dụng cụ khác.
Hóa chất sử dụng: cồn 70
o
, 90
o
, nước cất, Natri clorua, thuốc thử VP1, VP2, Methyl
red, Kovacs. Các môi trường sử dụng: Mac Conkey Agar (MC), Nutrient Agar (NA),
Nutrient Broth (NB), Simmons Citrate Agar, Voges Proskauer (VP), Methyl Red
(MR), Trypton Water (Indol), Glycerol, MHA (Muller- Hilton).
- Thuốc thử Kovacs: gồm p-Dimethylaminobenzaldehyde (p-DMABA) 10g/l, isoamyl
alcohol 150ml/l, HCl đậm đặc 50ml/l. Hòa tan p-DMABA trong dung môi, bổ sung và
khuấy từng phần nhỏ HCl cho đến khi đủ lượng, thuốc thử được chứa trong chai màu
tối tránh ánh sáng ở 4
o
C. Có thể thay thế isoamyl alcohol bằng amyl alcohol hoặc
butanol.
- Thuốc thử Methyl red: Methyl red 0,1g, ethanol 95% 300ml, nước cất vừa đủ
500ml. Hòa tan Methyl red vào 300 ml ethanol, thêm nước cất vừa đủ thể tích 500ml.
- Thuốc thử Voges – Proskauer (VP1): gồm α-naphtol 5g hòa tan với cồn tuyệt đối
100ml.
- Thuốc thử NaOH 40% (VP2): gồm NaOH 40g thêm nước cất vừa đủ thể tích
100ml.