TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
************************
VÕ THỊ PHƯỢNG HẰNG
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM LEPTOSPIRA
TRÊN CHUỘT Ở MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM
TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH THÚ Y
Cần Thơ, 2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
************************ Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2015 Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2015
Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn Nguyễn Thị Bé Mười
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2015
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
ii
LỜI CẢM ƠN
Qua 5 năm học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Cần Thơ. Các
thầy, cô là những người đã dành bao tâm huyết cho sự nghiệp trồng người, đã
trang bị những hành trang quý giá cho chúng tôi bước vào đời. Nhờ sự nhiệt
tình chỉ dạy của các thầy, các cô; cùng với sự cố gắng phấn đấu không ngừng
của bản thân, hôm nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến cha, mẹ, người đã nuôi
dạy tôi nên người. Và sự kính trọng sâu sắc nhất đến các thầy các cô, người đã
giúp tôi vững bước vào đời bằng những bài học quý giá.
Xin chân thành biết ơn:
Trường Đại học Cần Thơ đã tạo nhiều điều kiện học tập, rèn luyện bổ ích
cho tôi trong suốt 5 năm qua.
Thầy Lê Hoàng Sĩ đã làm cố vấn cho chúng tôi trong suốt khóa học và đã
tận tình chỉ dạy tôi rất nhiều.
Cô Nguyễn Thị Bé Mười, người đã hết lòng chỉ bảo, giúp đỡ, động viên
2.2.5 Cấu tạo kháng nguyên 8
2.2.6 Sức đề kháng 8
2.2.7 Một số nhóm Leptospira gây bệnh 9
2.3 Truyền nhiễm học 10
2.3.1 Loài mắc bệnh 10
2.3.2 Nguồn lây truyền và chất chứa mầm bệnh 11
2.3.3 Đường lây truyền 11
2.3.4 Cơ chế gây bệnh 12
2.4 Triệu chứng và bệnh tích 12
2.4.1 Triệu chứng 12
2.4.2 Bệnh tích 14
2.5 Chẩn đoán 14
iv
2.5.1 Chẩn đoán dịch tễ học 14
2.5.2 Chẩn đoán phân biệt 14
2.5.3 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 15
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 18
3.1 Nội dung 18
3.2 Phương tiện tiến hành thí nghiệm 18
3.2.1 Địa điểm và thời gian 18
3.2.2 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất 18
3.2.3 Nguyên liệu dùng trong thí nghiệm 19
3.3 Phương pháp tiến hành thí nghiệm 21
3.3.1 Phương pháp lấy mẫu 21
3.3.2 Thực hiện phản ứng định tính 21
3.3.3 Phản ứng định lượng 24
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Kết quả tỷ lệ nhiễm Leptospira trên chuột 25
4.2 Kết quả tỷ lệ dương tính với Leptospira theo loại chuột 26
Danh mục 24 serovar dùng trong phản ứng vi
ngưng kết
20
Bảng 2
Tỷ lệ dương tính với Leptospira theo loại
chuột
26
Bảng 3
Tỷ lệ nhiễm ghép giữa các chủng Leptospira
trên chuột
28
Bảng 4
Tỷ lệ nhiễm Leptospira trên chuột theo hiệu
giá ngưng kết
29
vii
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
Hình 1
Hình thái Leptospira dưới kính hiển vi điện tử
7
Hình 2
Sự truyền lây của Leptospirosis
12
Hình 3
Trường Đại học Cần Thơ và tại nhà các hộ dân trên địa bàn Thành phố Cần
Thơ, 51 mẫu huyết thanh chuột đồng ở các chợ xung quanh địa bàn thành phố
Cần Thơ. Qua kết quả xét nghiệm cho thấy tỷ lệ nhiễm Leptospira trên chuột
là 28,42% (27/95), chuột cống nhiễm với tỷ lệ 38,64% (17/44) và chuột đồng
là 19,61% (10/51). Trong tổng số 27 mẫu huyết thanh dương tính với
Leptospira có 10 mẫu chuột cống nhiễm ghép với 2, 3, 4, 6 chủng Leptospira
và 4 mẫu chuột đồng nhiễm ghép với 2 chủng Leptospira. Hiệu giá ngưng kết
ở mức 1/20 chiếm 74,07%, ở mức 1/40 chiếm 25,93%. Từ những kết quả trên
cho thấy chuột ở thành phố Cần Thơ mang mầm bệnh Leptospira chiếm tỷ lệ
khá cao.
1
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Xoắn khuẩn Leptospira là nguyên nhân gây bệnh không những ở chó,
mèo, động vật hoang dã mà còn lây truyền cho người ảnh hưởng đến sức khỏe
cộng đồng. Leptospirosis là bệnh chung giữa người và gia súc với các triệu
chứng như sốt cao, vàng da, tiểu ra huyết sắc tố, viêm gan, viêm thận, rối loạn
tiêu hóa, rối loạn sinh sản,… Bệnh có thể lây truyền trực tiếp từ vật bệnh sang
vật khỏe hoặc qua vật trung gian mang mầm bệnh. Trong số các vật trung gian
mang mầm bệnh, phải kể đến loài gặm nhấm, đặc biệt là chuột. Chúng mang
và bài thải trực tiếp mầm bệnh ra môi trường ngoài qua nước tiểu.
Chuột là loài gặm nhấm sinh sản rất nhanh, tồn tại ở mọi nơi trên thế giới
và rất khó để tiêu diệt chúng. Chúng sinh sống và đào hang xung quanh các
trại chăn nuôi, các lò mổ, khu dân cư,… nên dễ phát tán và truyền mầm bệnh
sang các loài khác kể cả con người. Chuột còn gây ô nhiễm môi trường và làm
thiệt hại mùa màng của con người. Cần Thơ là tỉnh nằm ở trung tâm của Đồng
bằng sông Cửu Long, giữa mạng lưới sông ngòi kênh rạch, có điều kiện thuận
lợi phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa. Vì thế, tỉnh Cần Thơ được coi
là trung tâm lúa gạo của miền Tây Nam bộ. Tuy nhiên, đó cũng là thuận lợi
cho chuột phát triển, mặc dù đã có nhiều biện pháp phòng trừ chuột nhưng số
và Hải Phòng 23,9%.
Năm 1978, Vũ Đình Hưng và Nguyễn Thị Diện điều tra tại một số trại
chăn nuôi ở các tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái, Lào Cai, Hà Bắc thấy tỷ lệ nhiễm
Leptospira trên bò 38%, trâu 0,1%, heo 22,9%, chó 26,47% và với công nhân
chăn nuôi tỷ lệ dương tính là 56%.
Năm 1984, Vũ Đình Hưng và ctv đã nghiên cứu một số ổ dịch Leptospira
điển hình ở người và tìm hiểu sự liên quan với gia súc ở địa phương quanh một
trại khai hoang thuộc Hoàng Liên Sơn cho thấy cường độ nhiễm bệnh cao, tốc
độ lây lan nhanh, chỉ trong vòng 5 ngày phát hoang, 75 người mắc bệnh với
triệu chứng điển hình. Bằng phản ứng huyết thanh học đã phát hiện 63,1% số
người có kháng thể chống Leptospira với các chủng là L. gryppotyphosa,
L. autumnalis. Các tác giả đã phân lập được hai chủng Leptospira từ người
bệnh và việc gây nhiễm bệnh cho chuột cũng cho kết quả cao. Đồng thời còn
phát hiện 42,7% ở người, 50% ở heo, 70% ở bò và 10% ở chuột bị nhiễm bệnh
ở khu vực xung quanh xảy ra ổ dịch. Các chủng được phát hiện là L. canicola,
L. autumnalis, L. gryppotyphosa, L. hebdomadis, L. mitis, L. bataviae.
3
Lê Thanh Hải và ctv (1988, 1989) nghiên cứu về tình hình nhiễm
Leptospira ở đàn chó nghiệp vụ trong các trại giam đã công bố: trại V
21
có
73,3% chó nhiễm bệnh, trại T
24
có 66,2% chó nhiễm bệnh. Chó ở cơ sở của
công an Hải Phòng nhiễm 27%, chủ yếu là chó đực trên 1 tuổi. Chó nuôi tại
các cơ sở Nam Bộ nhiễm 88% so với toàn cầu.
Năm 2001, Hoàng Mạnh Lâm và ctv nghiên cứu xác định một số serovar
Leptospira trên bò và heo tại ĐakLak, kết quả kiểm tra 257 mẫu huyết thanh
bò và 537 mẫu huyết thanh heo cho thấy ở bò là 3,8%, heo là 3,53% với 14
Năm 2012, Võ Thành Thìn và ctv bằng phản ứng vi ngưng kết trên phiến
kính (MAT) đã xác định được tỷ lệ nhiễm Leptospira trên đàn lợn nái tại
Khánh Hòa là 17,7%. Tỷ lệ này phụ thuộc vào điều kiện chăn nuôi và mùa vụ
tại địa phương. Có sự lưu hành của 10 serovar Leptospira trên đàn lợn, trong
đó, các serovar chiếm ưu thế là L. pomona (51,2%), L. panama (19,5%),
L. icterohaemorrhagiae (14,6%), L. autumnalis (12,2%).
Lý Thị Liên Khai (2012), điều tra về tình hình nhiễm khuẩn Leptospira
trên đàn bò sữa, chó và chuột tại công ty cổ phần thủy sản sông Hậu, kết quả
cho thấy tỷ lệ nhiễm Leptospira ở trại cao nhất tìm thấy trên chuột (55,55%),
kế đến là chó (40,46%) và đàn bò sữa (22,61%).
Nguyễn Thị Bé Mười (2013), nghiên cứu bệnh do Leptospira trên chó tại
thành phố Cần Thơ, kết quả kiểm tra 300 mẫu huyết thanh chó với 12 chủng
kháng nguyên sống đã cho thấy tỷ lệ chó bị nhiễm Leptospira interrogans là
21,33% (64/300).
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Năm 1800, bệnh được ghi nhận đầu tiên ở thung lũng sông Nill, dựa vào
triệu chứng hoàng đản, xuất huyết. Năm 1886, Mathieu và Weil cùng một lúc
mô tả một bệnh với các triệu chứng hoàng đản, sốt lập lại nhiều ngày.
Năm 1916, Martin và Petit đã phân lập được chủng gây bệnh đầu tiên ở
Pháp và sau đó một năm đặt ra nguyên tắc phản ứng vi ngưng kết để chẩn
đoán bệnh về mặt huyết thanh học.
Y.I. Do và R. Inada đã phân lập được Leptospira gây bệnh cho người ở
Nhật Bản năm 1916. Đến năm 1917, Noguchi đã tìm thấy xoắn khuẩn trong
thận và nước tiểu ở chuột, sau đó ông đã đề nghị đặt tên cho căn bệnh
Leptospira vào năm 1918. Cùng năm, Tarrasor đã phân lập được loài
L. gryppotyphosa ở bệnh nhân có triệu chứng viêm màng não ở Liên Xô,
Utlenhut và Frome (1918) phát hiện loài L. icterohaemorrhagiae.
Nikonxki, Dexiatop và Mactrenko (1936) đã phân lập được mầm bệnh ở
trâu bò và sau đó tìm thấy ở nhiều loài động vật khác. Năm 1950, bệnh được
phát hiện trên chó tại Stuttgart (Đức) gọi là bệnh thương hàn chó, về sau gọi là
Mus) là 20% (37/185).
Romero - Vivas et al., (2013) thực hiện một nghiên cứu cắt ngang thu
thập từ 128 các mẫu huyết thanh của con người, 83 con chó, 49 con chuột
trong một khu phố thuộc thành phố cảng biển của Colombia, nơi mà có người
bị bệnh do Leptospira đã được báo cáo để tìm sự hiện diện của xoắn khuẩn
Leptospira. Trong đó có 12,5% (16/128) mẫu huyết thanh con người, 22,9%
(19/83) mẫu huyết thanh chó, 20,4% (10/49) mẫu huyết thanh chuột đều
dương tính với Leptospira.
Calderón et al., (2014) điều tra về tình hình nhiễm Leptospira ở lợn,
chó, con người và môi trường nước ở Cordoba - một khu vực của vùng nhiệt
đới Colombia, kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm ở lợn là 55,9%, ở chó là 35,2%,
ở người là 75,8%.
6
2.2 Căn bệnh học
Bệnh xoắn khuẩn Leptospira hay Leptospirosis là một bệnh truyền
nhiễm của nhiều loại gia súc kể cả người, hiện nay người ta đã phát hiện trên
200 serovar gây bệnh (Hồ Thị Việt Thu, 2012).
2.2.1 Phân loại
Leptospira thuộc:
Lớp Schizomycetes
Bộ Spirochaetales
Họ Leptospiraceae
Giống Leptospira được phân chia thành hai loài:
- Leptospira interrogans là loài gây bệnh cho người và gia súc.
- Leptospira biflexa thường sống hoại sinh trong nước và không gây
bệnh (Watch, Binger và Noguchi, 1918).
2.2.2 Đặc điểm hình thái
Hiện nay, người ta đã phát hiện được 23 nhóm huyết thanh với 260
serovar Leptospira gây bệnh. Các chủng xoắn khuẩn này có hình thái tương tự
o
C, không
mọc ở 13
o
C, pH thích hợp 7,2 - 7,4, mọc chậm trong các môi trường nuôi cấy
vì vậy việc nuôi cấy có thể kéo dài hàng tháng (Trần Thanh Phong, 1998).
Khi nuôi cấy trên môi trường thạch máu hoặc các môi trường thông
thường, nếu không bổ sung 5 - 10% huyết thanh thỏ, xoắn khuẩn không mọc
được. Ngoài ra, giống như các loài vi khuẩn khác, xoắn khuẩn cũng cần sắt để
phát triển. Người ta dùng nhiều môi trường giàu dưỡng chất để nuôi cấy như
môi trường Tween - Albumine hay EMJH, môi trường Stuart.
Leptospira có thể mọc được ở những môi trường nhân tạo thông thường
như môi trường Terkish, EMJH. Môi trường EMJH gồm hai thanh phần: môi
trường cơ sở và môi trường làm giàu bằng albumine bò hoặc huyết thanh thỏ
(Srivastava and Harbola, 1989).
Ngoài ra, có thể cấy Leptospira vào màng niệu đệm phôi gà 10 ngày tuổi,
sau khi cấy 7 ngày phôi gà bị chết, bệnh tích không điển hình (Prydie, 1968).
8
2.2.5 Cấu tạo kháng nguyên
Năm 1956, Rothotein và Riatto chia cấu trúc kháng nguyên ra làm hai
phần chính:
Kháng nguyên P thuộc phần vỏ có cấu trúc là Lipopolysacharide giúp
phân biệt các nhóm Leptospira, là cơ sở phân loại xoắn khuẩn.
Kháng nguyên S thuộc tế bào chất, thành phần cấu tạo là
Lipopolysacharide có tính chuyên biệt, dùng để nhận biết các Leptospira, đặc
trưng cho giống.
Do sự khác nhau về cấu trúc kháng nguyên, người ta chia Leptospira
thành nhiều nhóm huyết thanh (Serogroup), mỗi nhóm huyết thanh có nhiều
chủng huyết thanh (Serotype). Ngày nay, người ta chia mỗi nhóm huyết thanh
Kháng sinh penicillin có tác dụng rất tốt đối với Leptospira (Nguyễn Tiết
Liên và Nguyễn Thanh Bình, 1991).
2.2.7 Một số nhóm Leptospira gây bệnh
Nhóm L. icterohaemorrhagiae
L. icterohaemorrhagiae được Do. Y. I và Inada R phân lập từ chuột năm
1915. Nhóm L. icterohaemorrhagiae gồm: L. copenhageni, L. lai, L. 017, L.
mankarso, L. nadambari, L. wijinberg, L. shiromizu và L. shibaura (Krover et
al. 1988). Bằng phản ứng vi ngưng kết, L. icterohaemorrhagiae còn được tìm
thấy trên nhiều loài gia súc như trâu, bò, heo, chó, dê, cừu (Hathaway, 1981).
Động vật mang mầm bệnh là chuột cống Rattus norvegicus.
Nhóm L. canicola
L. canicola lần đầu tiên phân lập được từ bò ở Israel vào năm 1955, sau
đó vào năm 1956 phân lập được mầm bệnh từ heo và chó ở Czechoslovakia,
Mỹ và Chi Lê (Chenukha, 1981). Nhóm L. canicola gồm các serovar đại diện
là L. canicola, L. bafani, L. benjamin, L. broomi, L. schueffneri và L.
kamituga.
L. canicola có thời gian tồn lưu ở heo ít nhất là 90 ngày và có thể sống
trong nước tiểu là 6 ngày (Michna, 1962). Điều kiện thuận lợi này giúp mầm
bệnh khuếch tán và lây truyền dễ dàng giữa các loài gia súc.
Nhóm L. pomona
L. pomona lần đầu tiên phân lập từ heo ở Australia năm 1939, sau đó
phân lập từ bò, ngựa, dê. Nhóm này bao gồm các serovar là L. kennewicki, L.
mozdok, L. proechimys, L. salinem và L. tropica. Động vật mang trùng là loài
gặm nhấm (Sebek et al., 1983). L. pomona thường khu trú, sinh sản ở thận và
theo nước tiểu ra ngoài môi trường, góp phần phát tán mầm bệnh.
Nhóm L. grippotyphosa
Nhóm L. grippotyphosa gây bệnh ở bò, dê, cừu, ngựa, kể cả người. Gồm
các serovar là L. valbuzzi, L. muelleri, L. moskva và L. canalzonae (Sebek and
Vlcek, 1990).
sàng nhưng có thể truyền mầm bệnh cho các loài vật khác, kể cả người. Chuột
được coi là ổ chứa thường xuyên, luôn mang và thải mầm bệnh; chuột không
chỉ là nhân tố trung gian truyền bệnh mà còn được coi là nguồn bệnh.
Người mắc bệnh do chủng L. Icterohaemorrhagiae và L. grippotyphosa, mang
tính chất nghề nghiệp rõ: công nhân làm vệ sinh cống rãnh, công nhân chăn
nuôi, cán bộ địa chất, lâm nghiệp hay mắc bệnh. Theo nghiên cứu của Nguyễn
Thị Ngân và ctv (2004), tại Việt Nam, trong số các ca bệnh có biểu hiện của
hội chứng gan - thận thì có tới 66,83% cho phản ứng dương tính với Leptospira.
11
2.3.2 Nguồn lây truyền và chất chứa mầm bệnh
Các loài gia súc bệnh như chó, heo, bò, đặc biệt loài gặm nhấm là
nguồn bài thải xoắn khuẩn trong tự nhiên. Ở nước ta, Rattus norvegicus có tới
27% mang Leptospira mà chủ yếu là L. bataviae, chuột nhà (Rattus
flavipectus), chuột nhắt (Mus musclus). Chuột có thể mang khuẩn suốt đời.
Thời gian mang khuẩn và mức độ bài thải xoắn khuẩn qua nước tiểu thay đổi
tùy theo loài mang khuẩn và serovar Leptospira. Thời gian mang khuẩn ở cáo
là 514 ngày, đại gia súc 120 ngày, heo 200 ngày và chó 700 ngày (Nguyễn Thị
Ngân, 2000). Gia súc mang trùng không mang mầm bệnh suốt đời như loài
gặm nhấm nên mầm bệnh thải ra ngoài lúc có lúc không. Gia súc mang xoắn
khuẩn sau khi lành bệnh ở thể ẩn, thời gian mang trùng và mức độ bài thải qua
nước tiểu thay đổi tùy theo loài mang xoắn khuẩn và chủng gây bệnh.
Khi ra ngoài môi trường, xoắn khuẩn có mặt ở những khu vực nhiễm
nước tiểu loài mang trùng, các ao, hồ, đầm lầy, đất bùn, đây là những nguồn
lây truyền bệnh trong tự nhiên.
Ở động vật khi mới nhiễm bệnh, trong máu có xoắn khuẩn nhưng khi
bệnh kéo dài trên 15 ngày thì mầm bệnh khu trú ở bể thận, bàng quang, nước
tiểu, gan, lách, hạch lâm ba,
2.3.3 Đường lây truyền
Ở động vật, bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa do thức ăn và thức
2.4.1.1 Ở trâu bò
Thời gian nung bệnh từ 2 - 10 ngày.
Thể quá cấp tính: Ít gặp thường xảy ra ở con cái mang thai. Con vật sốt
cao, giảm cho sữa, mệt mỏi, con cái mang thai bị sẩy thai, niêm mạc và da có
13
màu vàng, nước tiểu vàng có huyết sắc tố, giai đoạn cuối urê trong máu tăng
cao. Bê con mắc bệnh chết sau 3 - 7 ngày.
Thể cấp tính: Thường gặp ở bê với triệu chứng sốt 40,5
o
C - 41
o
C, bỏ ăn,
nước tiểu từ màu vàng nhạt chuyển sang màu vàng sẫm hoặc màu đỏ do có
huyết sắc tố, khó thở, niêm mạc vàng hay nhợt nhạt.
Thể mạn tính: Bệnh thường kéo dài với các triệu chứng nhẹ, con vật
tiêu chảy thường xuyên, nước tiểu vàng sẫm hoặc hơi hồng. Gia súc mắc bệnh
ở thể mạn tính thường bị sẩy thai (tuần thai thứ 6 - 12 hoặc thời kỳ chửa cuối)
hoặc đẻ non.
Bệnh thể mạn tính thường không có triệu chứng rõ ràng, cần thực hiện
các phản ứng huyết thanh học để xác định bệnh.
2.4.1.2 Ở chó
Thể xuất huyết: thường gặp ở chó già, bệnh xảy ra rất đột ngột, hai chân
sau, bỏ ăn hoàn toàn, thân nhiệt 40,5 - 41,5
o
C, sau đó thân nhiệt giảm xuống
chỉ còn 37 - 38
o
C.
Một số trường hợp có hiện tượng xung huyết kết mạc, khó thở, khát
Hoàng Văn Năm, 2012).
Người bệnh thường có biểu hiện theo hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: sốt đột ngột >39
o
C, kéo dài trong vài ba ngày; sau đó có các
triệu chứng giống như bị cúm. Người bệnh mệt mỏi, đau đầu (>90% trường
hợp), mắt có màu đỏ, đau cơ (đặc biệt cơ vùng lưng và bắp chân), buồn nôn,
da mẩn đỏ (30% trường hợp).
Bệnh kéo dài trong 3 - 5 ngày, người bệnh dần dần hồi phục. Trong giai
đoạn này xoắn khuẩn nhân lên trong máu nên có thể sử dụng các xét nghiệm
để phát hiện. Trường hợp đang mang thai sẽ bị sẩy thai ở tháng thứ 2 hoặc 3.
Giai đoạn 2: giai đoạn này không có biểu hiện triệu chứng hoặc triệu
chứng kéo dài trong một thời gian ngắn rồi ngưng, bệnh cũng có thể tiến triển
rất nhanh trong một số trường hợp nặng.
2.4.2 Bệnh tích
Niêm mạc, da, các mô bào có màu vàng; gan sưng, mềm, hoại tử. Thận
nhạt màu có những điểm hoại tử. Đôi khi lách sưng, hoại tử. Trong bàng
quang đôi khi có nước tiểu màu đỏ hoặc nâu, túi mật sưng, bao tim tích nước.
2.5 Chẩn đoán
2.5.1 Chẩn đoán dịch tễ học
Bệnh mang tính chất nguồn dịch thiên nhiên, bệnh thường xảy ra vào
mùa mưa hoặc lúc giao mùa, bệnh thường phát rộ lên vào mùa mưa lũ tập
trung từ tháng 7 đến tháng 10 vì vào mùa này chuột sinh sản nhiều.
2.5.2 Chẩn đoán phân biệt
Chẩn đoán phân biệt với các bệnh có triệu chứng hoàng đản:
- Hoàng đản do ngộ độc hóa chất, ngộ độc aflatoxin.
- Hoàng đản do ký sinh trùng đường máu, ký sinh trùng trên gan.
- Hoàng đản do bệnh ở gan như viêm gan, xơ gan,
- Hoàng đản do thừa caroten.
Chẩn đoán phân biệt với các bệnh có biểu hiện triệu chứng thần kinh
Tiêm truyền động vật thí nghiệm
Động vật dùng trong thí nghiệm là chuột nhảy, chuột Hamster hoặc
chuột lang non. Tiêm vào xoang bụng 0,5 - 1 ml nước tiểu đã trung hòa hoặc
máu đã được chống đông hoặc huyễn dịch bệnh phẩm 1/10 pha trong EMJH
hoặc BSA 1%. Nếu trong bệnh phẩm có Leptospira, con vật sẽ chết trong
vòng 5 - 10 ngày sau khi tiêm truyền. Trường hợp động vật dùng trong thí