đánh giá tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo nghị quyết số 30a2008nqcp của chính phủ trên địa bàn huyện mù cang chải, tỉnh yên bái - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



BÙI VĂN KHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO THEO NGHỊ QUYẾT SỐ
30A/2008/NQ-CP CỦA CHÍNH PHỦ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.04.10

Việt Nam. Có được bản luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
và sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn -
Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Mậu Dũng đã trực
tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong
suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thiện Đề tài: “Đánh giá tình hình
thực hiện Chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP
của Chính phủ trên địa bàn huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái”.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, bạn
bè cùng lớp, người đã đem lại cho tác giả những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích
trong suốt khóa học vừa qua.
Xin gửi tới Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Yên Bái, Ủy ban
nhân dân huyện Mù Cang Chải và các cơ quan liên quan trên địa bàn tỉnh Yên
Bái lời cảm ơn sâu sắc đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu
điều tra cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan để thực hiện Đề
tài.
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã
luôn bên cạnh tác giả, động viên và khuyến khích tác giả trong suốt quá trình
thực hiện Đề tài nghiên cứu của mình.
Đề tài thực hiện còn rất nhiều thiếu xót, tác giả rất mong nhận được sự
đóng góp, phê bình của quý thầy cô, các nhà khoa học, độc giả và các bạn đồng
nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vii

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 28
3.2. Phương pháp nghiên cứu 35
3.2.1. Chọn điểm nghiên cứu 35
3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu 36
3.2.3. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 39
3.2.4. Phương pháp chuyên gia 40
3.2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1. Khái quát chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo Nghị quyết số
30a/2008/NQ-CP của Chính phủ trên địa bàn huyện Mù Cang Chải 42
4.1.1. Tổng quan về nghèo đói trên địa bàn huyện Mù Cang Chải 42
4.1.2. Khái quát mục tiêu, nội dung chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP trên địa bàn huyện Mù Cang Chải 44
4.2. Đánh giá tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP trên địa bàn huyện Mù Cang Chải 55
4.2.1. Quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ giảm
nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP trên địa bàn huyện 55
4.2.2. Tổ chức bộ máy thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP trên địa bàn huyện Mù Cang Chải 57
4.2.3. Tình hình phổ biến thông tin về chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP trên địa bàn huyện Mù Cang Chải 59
4.2.4. Công tác huy động kinh phí thực hiện chương trình hỗ trợ giảm
nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP trên địa bàn huyện Mù
Cang Chải 62
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi


NHCS Ngân hàng chính sách
NHTM Ngân hàng thương mại
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development
Assistance)
OXFAM Ủy ban Oxford về cứu đói (Oxford Committee for
Famine Relief)
UN Liên Hiệp Quốc (United Nations)
UNDP Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (United
Nations Development Programme)
VNAH Hỗ trợ tàn tật Việt Nam (Vietnam Assistance for the
Handicapped)
WB Ngân hàng Thế giới (World Bank)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số bảng

Tên bảng Trang

3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Mù Cang Chải giai đoạn 2011 -
2013 29
3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Mù Cang Chải giai đoạn
2012 - 2014 32
3.3 Kết quả một số chỉ tiêu kinh tế huyện Mù Cang Chải giai đoạn
2012 - 2014 34
4.1 Tổng hợp hộ nghèo giai đoạn 2009 - 2014 huyện Mù Cang Chải 42
4.2 Thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2009 - 2014 43
4.3 Tổng hợp hộ tái nghèo và phát sinh nghèo giai đoạn 2009 - 2014 43
4.4 Tổng hợp nhu cầu và nguồn vốn đầu tư thực hiện Đề án giảm

tỉnh, huyện về xã 82
4.23 Kết quả đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cấp huyện 84
4.24 Kết quả đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cấp xã 84
4.25 Nhận định về mức độ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương
trình hỗ trợ giảm nghèo đối với yếu tố bản thân người nghèo 88
4.26 Nhận định về mức độ ảnh hưởng của đội ngũ cán bộ đến kết quả
thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo 89
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã thu được
những thành tựu hết sức to lớn và quan trọng: Đất nước đã thoát khỏi khủng
hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh; Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực
theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, gắn sản xuất với thị trường; Thực
hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy
ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế; Thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản
ổn định; Thực hiện được tiến bộ và công bằng xã hội, đời sống của đại bộ phận
dân cư được cải thiện rõ rệt. Trong số những thành tựu đó, không thể không kể
đến thành tựu về xóa đói giảm nghèo. Công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã
đạt được kết quả ngoài sức mong đợi. Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã
giảm từ 30% năm 1992 xuống còn khoảng 9,5% năm 2010 (Chu Tiến Quang,
2014). Còn theo chuẩn do Ngân hàng thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục

tỉnh Yên Bái, toàn huyện có 13 xã và 01 thị trấn, thì đều là các xã đặc biệt khó
khăn, trong những năm qua kinh tế - xã hội của huyện đã có những bước khởi sắc
cả về chất và lượng song mức tăng không đáng kể và chưa bền vững; Tỷ lệ hộ
nghèo tuy đã giảm song vẫn ở mức rất cao, tỷ lệ hộ thoát nghèo chưa bền vững, tỷ
lệ tái nghèo còn cao; Hạ tầng cơ sở của huyện còn kém, trình độ dân trí thấp đã
ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Hoạt động sản xuất
còn chậm đổi mới, lạc hậu, chưa hình thành được các mô hình sản xuất tiên tiến để
nhân rộng; Qua 6 năm thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo Nghị
quyết số 30a/2008/NQ-CP, tuy đã đạt được những thành tựu nhất định, song còn
phải quan tâm, tích cực hơn nữa trong triển khai chương trình. Để đánh giá những
kết quả đã đạt được của chương trình hỗ trợ giảm nghèo, làm cơ sở đề xuất một số
giải pháp thực hiện có hiệu quả chương trình trong thời gian tới, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện Chương trình hỗ trợ giảm
nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ trên địa bàn huyện
Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo Nghị
quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ trên địa bàn huyện Mù Cang Chải, tỉnh
Yên Bái, từ đó đề xuất một số giải pháp triển khai có hiệu quả chương trình trong
giai đoạn tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về đánh giá tình hình thực hiện chương
trình hỗ trợ giảm nghèo.
- Đánh giá tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo Nghị
quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ trên địa bàn huyện Mù Cang Chải, tỉnh
Yên Bái.

- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 4/2014 đến tháng 4/2015.
- Thời gian thu thập số liệu: Số liệu được dùng cho việc nghiên cứu được
lấy từ năm 2009 đến hết năm 2014.
* Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Mù
Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH
THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO

2.1. Cơ sở lý luận về đánh giá tình hình thực hiện chương trình hỗ trợ
giảm nghèo
2.1.1. Cơ sở lý luận về nghèo đói và hỗ trợ giảm nghèo
2.1.1.1. Khái niệm nghèo và một số vấn đề về nghèo đói
a) Khái niệm nghèo
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu. Nó
không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà nó còn tồn tại
ngay ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện
tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính
chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia là khác nhau (Ngô Thắng Lợi, 2012).
Phần lớn các nước đang phát triển hiện nay đều hướng tới chiến lược tăng
trưởng nhanh, để phấn đấu thoát khỏi danh sách các nước nghèo, trước hết là đạt
được mục tiêu đặt ra trong chương trình phát triển thiên niên kỷ của UNDP: giảm
một nửa tỷ lệ người dân có mức thu nhập dưới 1 USD/ ngày trong giai đoạn 1990
- 2015. Mặc dù vậy, theo số liệu của Báo cáo phát triển thế giới (năm 2010) thì
vẫn còn tới 50/177 nước nằm ở danh sách các nước chậm phát triển có mức thu
nhập thấp (LDC) với thu nhập bình quân chỉ đạt 580 USD/ người, trong khi đó
mức thu nhập bình quân của các nước LIC theo tiêu chuẩn của WB là 935 USD/

những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết
định, có cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng.” (Ngô Thắng
Lợi, 2012).
Theo nghĩa rộng: “Nghèo đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa
chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc có thể chấp nhận được.” (Ngô
Thắng Lợi, 2012).
Tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Thái Lan
đã đưa ra khái niệm về nghèo đói: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư
không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán
của các địa phương.” (Ngô Thắng Lợi, 2012).
b) Nguyên nhân của nghèo đói
Việc tìm hiểu các nguyên nhân nghèo đói giúp cho các nước đang phát
triển có được chìa khóa để mở ra con đường tấn công vào đói nghèo. Trong các
báo cáo về nghèo đói, Liên Hợp Quốc tìm ra được các nguyên nhân dẫn đến tình
trạng nghèo đói ở các nước đang phát triển (Ngô Thắng Lợi, 2012).
- Một là, Hiện tượng bế quan tỏa cảng. Đây chính là hiện tượng đóng cửa
nền kinh tế - xã hội với thế giới bên ngoài, an phận sống trong vòng luẩn quẩn
của sự nghèo đói, đây là điểm mấu chốt của sự nghèo đói ở các nước nghèo,
vùng nghèo và cả người nghèo, thậm chí nó chi phối cả đến những nguyên nhân
sau. Lý do của hiện tượng này khá đa chiều: có thể do điều kiện chia cắt về vị trí
địa lý, hạn chế trong điều kiện giao thông như đường xá, phương tiện đi lại.
Vùng Châu Phi, sa mạc Sahara hay các nước khu vực Nam Á chính là hình mẫu
nghèo đói do sự hạn chế về vị trí địa lý. Cũng có thể do sự bất đồng về ngôn ngữ;
yếu kém về trình độ, nhận thức xã hội; thiếu thốn các phương tiện thông tin liên
lạc. Những hiện tượng trên đã làm cho các nước nghèo, vùng nghèo, người
nghèo thường gặp khó khăn trong giao tiếp, giao lưu mở cửa, hội nhập nền kinh

so với các làng có giao thông cơ giới; ở 2.325 xã thuộc 49 huyện của 7 tỉnh là đối
tượng của chương trình 135 chỉ có khoảng 74% cán bộ xã chỉ học hết tiểu học,
khoảng 65% cán bộ xã chưa qua một lớp bồi dưỡng chuyên môn nào (Ngô Thắng
Lợi, 2012).
- Bốn là, Sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức quốc tế hạn chế và còn
nhiều bất cập. Thực tế, Chính phủ các nước thông qua khả năng tài chính của
mình, kết hợp với nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đã cung cấp một
nguồn hỗ trợ cho người nghèo dưới các dạng thức linh hoạt như: quỹ hỗ trợ phát
triển, ngân hàng người nghèo, chương trình xóa đói giảm nghèo hay các dự án tài
chính vi mô cho xóa đói giảm nghèo. Tuy vậy, các nguồn vốn đầu tư cho các
chương trình xóa đói giảm nghèo của nhà nước vẫn còn hạn hẹp, vì vậy số người
được tiếp cận dịch vụ không nhiều và lượng tiền được vay cho mỗi đơn vị người
nghèo không đủ để bảo đảm thay đổi cuộc sống của họ; Sự hạn chế của thị
trường tín dụng đối với người nghèo, một mặt, vì người nghèo thiếu các khoản
thế chấp cho các khoản vay, sự bất lực của người nghèo khi không có vật thế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

chấp đã đẩy họ ra khỏi thị trường tín dụng chính thức, mặt khác nhiều hộ nghèo
chưa được tiếp cận với hệ thống tín dụng nhà nước do các điều kiện vay quá khắt
khe mà người nghèo không thể đáp ứng được (Ngô Thắng Lợi, 2012).
- Năm là, Sự tham gia không đầy đủ của người nghèo đến hoạt động
hoạch định phát triển, kể cả hoạch định những vấn đề liên quan đến chính người
nghèo. Sự tham gia không đầy đủ này: một mặt, có thể do chính người nghèo,
xuất phát từ sự mặc cảm, tự ti hoặc cũng có thể do trình độ, năng lực thấp đã tự
mình đứng ngoài sự tham gia vào các chương trình hoạch định có liên quan đến
người nghèo. Mặt khác, còn do cơ chế dân chủ, cơ chế bảo đảm thu hút sự tham
gia của người dân nói chung và người nghèo nói riêng trong hoạch định chương
trình phát triển còn hạn chế hoặc mang tính hình thức. Điều đó dẫn đến các chính
sách của Chính phủ đặt ra có thể không phù hợp với người nghèo, không có tác

hoạt) của hộ gia đình để xác định hộ chắc chắn không nghèo, cận nghèo theo
mẫu phiếu in sẵn:
(a) Cho điểm hộ gia đình theo số lượng tài sản và các mức điểm cho từng
loại tài sản theo mẫu phiếu in sẵn.
(b) Nếu hộ gia đình có số điểm lớn hơn hoặc bằng số điểm quy định thì
xác định hộ này thuộc diện hộ không nghèo, không cần điều tra tiếp.
(c) Nếu hộ gia đình có số điểm nhỏ hơn số điểm quy định thì đưa hộ gia
đình này vào danh sách hộ có khả năng rơi xuống cận nghèo hoặc nghèo.
Kết quả: Xác định và lập được danh sách sơ bộ các hộ có khả năng rơi
xuống nghèo và cận nghèo.
+ Xác định các hộ có khả năng thoát nghèo, cận nghèo: Điều tra viên
hướng dẫn hộ gia đình đánh giá về khả năng thoát nghèo, cận nghèo căn cứ vào
các yếu tố có nguy cơ nghèo theo mẫu phiếu in sẵn.
Trường hợp hộ gia đình có số yếu tố lớn hơn hoặc bằng số yếu tố quy định
là hộ chắc chắn chưa thoát nghèo, không cần điều tra tiếp.
Trường hợp hộ có số yếu tố nhỏ hơn số yếu tố quy định thì đưa vào danh
sách hộ có khả năng thoát nghèo và cận nghèo.
Kết quả: Xác định, lập được danh sách sơ bộ các hộ có khả năng thoát
nghèo, cận nghèo.
+ Tổng hợp toàn bộ danh sách hộ có khả năng thoát nghèo, cận nghèo và
danh sách hộ có khả năng rơi xuống nghèo, cận nghèo thành danh sách hộ thuộc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

diện điều tra, rà soát thu nhập trên địa bàn (Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội, 2012).
- Tổ chức điều tra thu nhập hộ gia đình theo mẫu phiếu in sẵn:
+ Những điểm cần lưu ý:
Chỉ tính thu nhập của hộ gia đình trong vòng 12 tháng qua.
Không tính khoản trợ cấp an sinh xã hội từ ngân sách Nhà nước vào thu

+ Việc bình xét theo nguyên tắc dân chủ, công khai, khách quan và phải
lấy ý kiến biểu quyết đối với từng hộ; kết quả biểu quyết phải có trên 50% số
người tham dự đồng ý mới đưa vào danh sách đề nghị: hộ thoát nghèo, cận
nghèo; hộ nghèo, cận nghèo mới.
+ Kết quả bình xét được ghi vào biên bản; biên bản và danh sách hộ
nghèo, cận nghèo qua bình xét được lập thành 02 bản, có chữ ký của người chủ
trì, thư ký cuộc họp: 01 bản lưu ở thôn/bản; 01 bản gửi Ban chỉ đạo cấp xã.
- Tổ chức thu thập đặc điểm hộ nghèo, hộ cận nghèo.
- Phân loại hộ nghèo thuộc đối tượng chính sách xã hội và hộ nghèo có
thành viên là đối tượng bảo trợ xã hội.
2.1.1.2. Các hình thức hỗ trợ giảm nghèo
a) Hỗ trợ về vốn để phát triển sản xuất, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người
nghèo
Người nghèo thường thiếu nhiều điều kiện cần thiết cho việc tự vươn lên
làm kinh tế để xóa đói giảm nghèo. Vì vậy sự hỗ trợ của nhà nước về vốn để phát
triển sản xuất, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người nghèo là điều cần thiết. Ở
các nước đang phát triển, cần có các tổ chức tín dụng cho người nghèo, ví dụ:
Ngân hàng người nghèo, Quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng chính sách, Trong
quá trình thực hiện sự hỗ trợ, các tổ chức này cần nghiên cứu để nới lỏng các
điều kiện cho người nghèo có thể được tiếp cận và vay vốn, quan trọng hơn là
việc đưa ra các điều kiện vay, đồng thời hướng dẫn họ cách sử dụng và quản lý
vốn tức là giúp người nghèo vừa có vốn lại vừa biết cách làm ăn. Phương thức
tiếp cận vốn vay của người nghèo cũng cần được cải tiến thường xuyên và liên
tục phù hợp với từng thời kỳ nhất định. Có thể áp dụng kiểu cho vay hiện vật,
như: cho vay cây con giống, mở rộng mô hình “cho vay bò mẹ trả bò con”. Bên
cạnh đó, các tổ chức tín dụng cũng cần đa dạng hóa các kênh thu hút vốn tín
dụng: ngoài nguồn vốn từ khu vực nhà nước thông qua ngân hàng nông nghiệp,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

hành động vì thị trường không thể giải quyết chúng. Trong trường hợp này cần
phải giải quyết bằng cách chuyển giao thu nhập. Sự chuyển giao này có thể qua
trợ cấp tiền mặt, hoặc như ở các nước đang phát triển, thường sử dụng các công
cụ như định giá lương thực hoặc các chương trình phân phối lương thực. Kinh
nghiệp thực hiện ở nhiều nước cho thấy: điều quan trọng trong chương trình này
là làm thế nào để chúng có hiệu quả về chi phí và đưa các chương trình này đến
với đối tượng mục tiêu mà không làm thất thoát sang các nhóm có thu nhập cao
(Ngô Thắng Lợi và Phan Thị Nhiệm, 2008).
Mạng lưới an sinh xã hội cũng tương tự như chuyển giao thu nhập nhưng
được sử dụng chủ yếu trong các trường hợp người rơi vào tình trạng nghèo tạm
thời. Số liệu điều tra về các hộ và cá nhân qua thời gian đã phát hiện thấy số hộ
luôn nghèo ít hơn số hộ chỉ nghèo trong một khoảng thời gian nhất định. Điều
này đúng với cả các nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình cũng như các
nước có thu nhập cao. Tính chất tạm thời của đói nghèo không làm giảm thiểu
những khó khăn mà các hộ gia đình phải đương đầu, cũng không có nghĩa rằng
những người sống chỉ ngay trên ngưỡng nghèo quốc gia một chút đáp ứng được
nhu cầu vật chất của họ. Nhưng nó giúp đề xuất cách thiết kế chính sách đối với
các cá nhân và hộ gia đình, không phải vĩnh viễn mà là khi thu nhập và tiêu dùng
giảm đi (Ngô Thắng Lợi và Phan Thị Nhiệm, 2008).
d) Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho xã nghèo, huyện nghèo
Việc thiếu cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa hay các quốc gia có địa
hình khó khăn, nằm sâu trong lục địa, có thể nói là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
tỷ lệ nghèo đói cao của các khu vực này. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
được coi là khâu trọng tâm cần giải quyết và là biện pháp hỗ trợ trực tiếp cho
người nghèo, hộ nghèo, các địa phương và quốc gia nghèo. Những vấn đề đột
phá của chính sách này, bao gồm: Đầu tư cơ sở hạ tầng, trong đó thiết yếu nhất là
xây dựng đường giao thông đi lại đến khu trung tâm, đến vùng động lực hay đến

giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay (Ngô Thắng Lợi, 2012).
Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở nền
kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đó là con đường để cho mọi
người vượt qua đói nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về kinh tế, chủ động
xoá đói giảm nghèo. Đây là sự thể hiện tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: “Giúp đỡ người vươn lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu thì vươn lên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16

giàu thêm”. Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉ
đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông
dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông
thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế
bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Hơn thế nữa nó còn có ý
nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội. Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ
dân trí, chăm sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong
cuộc sống, sớm hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan
hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với
người nghèo, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào
đường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đồng thời hạn chế và xóa bỏ
được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái (Ngô Thắng Lợi, 2012).
Ngoài ra còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ và
yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xu hướng gia
tăng phân hóa giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hóa giai cấp với hậu quả là sự
bần cùng hóa và do vậy sẽ đe dọa tình hình ổn định chính trị và xã hội làm chệch
hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế - xã hội. Không giải quyết thành
công các chương ttrình xóa đói giảm nghèo thì sẽ không thể thực hiện được công
bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Như thế mục tiêu phát triển và
phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được. Không tập trung nỗ lực, khả
năng và điều kiện để xóa đói giảm nghèo sẽ không thể tạo được tiền đề để khai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status