BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐOÀN THỊ THU HÀ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM
ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH SAMSUNG
ELECTRONICS TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS BÙI BẰNG ĐOÀN
HÀ NỘI, 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i
LỜI CAM ĐOAN
nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh với
đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của
Công ty TNHH Samsung Electronics trên thị trường Việt Nam”.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kế
Toán - Quản trị Kinh doanh – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt
cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khoá
luận này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS. Bùi Bằng
Đoàn đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo tận tình cho tôi
hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này.
Qua đây tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể cán bộ công nhân viên Công
ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam và các đơn vị trực thuộc đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu, dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự
thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy cô và các đồng chí học viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2015
Học viên Đoàn Thị Thu Hà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
L
2.2 Cơ sở thực tiễn 35
2.2.1 Bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm 35
2.2.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan 43
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 46
3.1 Khái quát về Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam 46
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty 46
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và chế độ phúc lợi của Công ty 50
3.1.3 Các sản phẩm sản xuất chủ yếu của Công ty 55
3.1.4 Kết quả SXKD của Công ty SEV 57
3.2 Phương pháp nghiên cứu 59
3.2.1 Khung phân tích 59
3.2.2 hương pháp thu thập và xử lý số liệu 60
3.2.3 hương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 61
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu năng lực cạnh tranh của sản phẩm
ĐTDĐ của Công ty SEV 64
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 65
4.1 Tình hình sản xuất sản phẩm điện thoại đi động của Công ty 65
4.1.1 Tình hình đầu tư thiết bị và công nghệ sản xuất 65
4.1.2 Kết quả sản xuất sản phẩm điện thoại di động của Công ty 71
4.1.3 Tình hình tiêu thụ ĐTDĐ của SEV trên thị trường Việt Nam 74
4.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm ĐTDĐ của SEV trên thị
trường Việt Nam 76
4.2.1 Cơ cấu chủng loại, mẫu mã bao bì của sản phẩm 76
4.2.2 Chất lượng của sản phẩm 80
4.2.3 Giá bán của sản phẩm. 81
4.2.4 Kênh phân phối ĐTDĐ Samsung trên thị trường Việt Nam. 83
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
BP.
Chú giải
Bộ phận
CC Cơ cấu
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐT/ ĐTDĐ Điện thoại/ Điện thoại di động
ĐVT Đơn vị tính
FDI
KCN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khu công nghiệp
TB Trung bình
TGĐ
Tp.
Tổng giám đốc
Thành phố
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
SEV Samsung Electronics Vietnam
SWOT Strengths-Weaknesses- Opportunities- Threats
SXKD Sản xuất kinh doanh Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ
STT Tên sơ đồ Trang3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của SEV 51
3.2 Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của SEV qua 4 năm. 57
3.3 Khung phân tích năng lực cạnh tranh của các sản phẩm ĐTDĐ của
SEV 60
4.1 Quy trình sản xuất điện thoại di động tại Samsung 66
4.2 Kênh phân phối sản phẩm của Samsung 83
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page x
DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang
4.1 Cơ cấu sản phẩm điện thoại di động tại SEV 73
4.2 Tỉ lệ người dùng điện thoại ở Việt Nam 74
4.3 Số lượng sản phẩm ĐTDĐ tiêu thụ trên thị trường Việt Nam 75
nhân dân và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp
CNH, HĐH. Một trong những công cụ, phương tiện kết nối của thời đại kỹ
thuật số đó chính là sản phẩm điện thoại di động. Nó cho phép chúng ta dễ
dàng liên lạc, chia sẻ thông tin, hình ảnh và hành động trên cơ sở những thông
tin này theo phương thức hoàn toàn mới, kéo theo hàng loạt sự thay đổi về các
thói quen truyền thống, phong cách và thậm chí cả cách nhìn các giá trị trong
cuộc sống.
Cùng với xu hướng phát triển mạnh mẽ đó, thị trường điện thoại di
động đã không ngừng phát triển để đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong cuộc
sống. Không chỉ các thương hiệu nhỏ, mà ngay cả các thương hiệu nổi tiếng
trên thế giới cũng ồ ạt xuất hiện tại thị trường Việt Nam và tung ra hàng loạt
mẫu điện thoại có ưu thế về công nghệ cao, giá bán, chất lượng, dịch vụ đã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành. Hiện nay, thị trường điện thoại di
động đang diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt từ các hãng sản xuất, nhà phân
phối đến các chi nhánh, cửa hàng bán lẻ. Các nhà sản xuất điện thoại di động
bị ảnh hưởng trực tiếp và đã gặp không ít khó khăn về năng lực cạnh tranh so
với các đối thủ khác trên thị trường. Bởi lý do đó, việc nghiên cứu và áp dụng
các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di
động là một việc làm cần thiết mà công ty TNHH Samsung Electronics phải
quan tâm chú trọng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di
động của Công ty TNHH Samsung Electronics trên thị trường Việt Nam”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm điện thoại di
động, đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
điện thoại di động của công ty TNHH Samsung Electronics trên thị trường
+ Số liệu thông tin thứ cấp được thu thập qua 4 năm, từ năm 2011 đến
năm 2014, số liệu sơ cấp được thu thập, điều tra vào năm 2014.
+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 05/2014 đến tháng 05/2015.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh
2.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, thuật ngữ cạnh tranh, năng lực
cạnh tranh được đề cập nhiều trong nghiên cứu, nhất là từ khi Việt Nam bắt
đầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Do vậy, có nhiều cách hiểu khác
nhau về thuật ngữ cạnh tranh và các cấp độ áp dụng, có thể ở cấp độ quốc gia,
cấp độ ngành, doanh nghiệp hoặc sản phẩm.
Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin (2003), “Cạnh tranh là sự
ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh
doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh
doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn
tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”.
Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) định nghĩa “Cạnh tranh là hoạt
động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, các thương nhân, các
nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung –
cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.
Vũ Trọng Lân (2006) cho rằng “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó
các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế
cuộc ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trường và chịu tác động của
quan hệ cung cầu sản phẩm.
Như vậy về bản chất, cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người
trong việc giải quyết lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở
mục đích lợi nhuận và chi phối thị trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
đạo đức kinh doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong mối
quan hệ với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh cho doanh
nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác.
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó
chịu nhiều chi phối của quan hệ sản xuất giữ vị trí thống trị trong xã hội, nó
có quan hệ hữu cơ với các quy luật kinh tế khác như quy luật giá trị, quy luật
lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu…đây là một đặc trưng gắn với bản chất
của cạnh tranh. Quy luật cạnh tranh chỉ ra cách thức làm cho giá trị cá biệt
thấp hơn giá trị xã hội, do đó nó làm giảm giá cả thị trường, nó tạo ra sức ép
làm gia tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất, nó chỉ ra ai là người sản
xuất kinh doanh thành công nhất.
2.1.1.2. Vai trò của cạnh tranh
Từ thế kỷ 18, Adam Smith, nhà kinh tế học cổ điển vĩ đại của Anh đã chỉ
ra vai trò quan trọng của cạnh tranh tự do trong tác phẩm “Của cải của các dân
tộc” (1776), Ông cho rằng sức ép cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm
công việc của mình một cách chính xác và do đó nó tạo ra sự cố gắng lớn nhất.
Kết quả của sự cố gắng đó là lòng hăng say lao động, sự phân phối các yếu tố
sản xuất một cách hợp lý và tăng của cải cho xã hội. Cho tới nay, cạnh tranh
được coi là phương thức hoạt động để tồn tại và phát triển của mỗi doanh
nghiệp, không có cạnh tranh thì không thể có sự tăng trưởng kinh tế.
Vai trò của cạnh tranh được thể hiện ở hai mặt tích cực và hạn chế
sau đây:
Như vậy, cùng với tác động của các quy luật kinh tế khách quan khác,
cạnh tranh đã giúp các doanh nghiệp trả lời các câu hỏi: sản xuất cái gì, sản
xuất cho ai và sản xuất như thế nào một cách thỏa đáng nhất. Vận dụng quy
luật cạnh tranh, Nhà nước và doanh nghiệp có điều kiện hoạch định các chiến
lược phát triển một cách khoa học mà vẫn đảm bảo tính thực tiễn, chủ động
hơn trong đối phó với mọi biến động của thị trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
b. Về hạn chế
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cạnh tranh cũng có một số hạn
chế. Do chạy theo lợi nhuận nên cạnh tranh có tác dụng không hoàn hảo, vừa
là động lực tăng trưởng kinh tế vừa bao hàm sức mạnh tàn phá mù quáng. Sự
đào thải không khoan nhượng những doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu
quả của cạnh tranh mặc dù phù hợp quy luật kinh tế khách quan nhưng lại gây
ra những hậu quả kinh tế xã hội như thất nghiệp gia tăng, mất ổn định xã hội.
Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà các chủ thể sử dụng mọi biện pháp
trong đó có cả những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành chiến
thắng trên thương trường như gian lận, quảng cáo lừa gạt khách hàng, tình
trạng cá lớn nuốt cá bé, lũng đoạn thị trường. Cuối cùng cạnh tranh có xu
hướng dẫn đến độc quyền làm cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng
không tốt.
Tuy nhiên do cạnh tranh đã, đang và sẽ luôn là phương thức hoạt động
của kinh tế thị trường nên chúng ta cần nhận thức được các vai trò tích cực và
hạn chế của cạnh tranh để vận dụng quy luật này sao cho hiệu quả nhất.
2.1.1.3. Phân loại cạnh tranh
a. Căn cứ tính chất cạnh tranh trên thị trường
- Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất
nhiều người bán và người mua, mỗi người bán chỉ cung ứng một lượng hàng
rất nhỏ trong tổng cung của thị trường. Họ luôn bán hết số hàng mà họ muốn
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua với đặc trưng nổi bật là người
mua luôn muốn mua rẻ và người bán luôn muốn bán đắt. Hai lực lượng này
hình thành hai phía cung cầu trên thị trường. Kết quả sự cạnh tranh trên là hình
thành giá cân bằng thị trường, đó là giá mà cả hai phía đều chấp nhận được.
- Cạnh tranh giữa những người mua là sự cạnh tranh do ảnh hưởng của quy
luật cung cầu. Khi lượng cung một hàng hóa quá thấp so với lượng cầu làm cho
người mua phải cạnh tranh nhau để mua được hàng hóa mà mình cần dẫn tới giá
cả tăng vọt. Kết quả là người bán thu được lợi nhuận cao hơn còn người mua phải
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
mất thêm một số tiền. Như vậy sự cạnh tranh này làm cho người bán được lợi và
người mua bị thiệt.
- Cạnh tranh giữa những người bán là sự cạnh tranh nhằm tăng sản lượng
bán trên thị trường. Do sản xuất ngày càng phát triển, thị trường mở cửa, lượng
cung tăng nhanh trong khi lượng cầu tăng chậm dẫn tới người bán (các doanh
nghiệp) phải cạnh tranh khốc liệt để giành thị trường và khách hàng. Kết quả là
giá cả không ngừng giảm xuống và người mua được lợi. Doanh nghiệp nào
thắng trong cuộc cạnh tranh này mới có thể tồn tại và phát triển.
c. Căn cứ cấp độ cạnh tranh
Đây là sự cạnh tranh diễn ra trong lĩnh vực sản xuất.
- Cạnh tranh giữa các sản phẩm là sự cạnh tranh về mẫu mã, kiểu dáng,
chất lượng, giá cả, phương thức bán hàng…Sản phẩm nào phù hợp nhất với yêu
cầu của khách hàng thì sản phẩm đó sẽ đảm bảo được khả năng tiêu thụ, kéo dài
chu kỳ sống của sản phẩm và tạo cơ hội thu thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành (cạnh tranh nội bộ
ngành) là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hàng
hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch. Trong nền kinh tế thị trường, theo quy
luật, doanh nghiệp nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động
xã hội cần thiết sẽ thu lợi nhuận siêu ngạch. Các doanh nghiệp sẽ áp dụng các
nghiệp sẽ tồn tại và phát triển hơn nữa. Nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà
nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao
động xã hội. Đó cũng là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia
trên con đường phát triển.
2.1.1.4. Các công cụ cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
Trong hoạt động cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp có thể sử
dụng các công cụ cạnh tranh khác nhau để chiếm lĩnh thị trường, tăng tốc độ
tiêu thụ sản phẩm, tăng thị phần. Các công cụ thường được các doanh nghiệp
sử dụng:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
Một là, chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù khá rộng và phức tạp phản ánh tổng
hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Về phía khách hàng hoặc người
tiêu dùng chất lượng sản phẩm được định nghĩa là sự phù hợp và thỏa mãn
nhu cầu hoặc mục đích sử dụng của họ. Về phía doanh nghiệp hoặc nhà sản
xuất thì chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo và phù hợp của sản phẩm với
một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn quy cách đã xác định trước. Nếu chỉ
xét từ một loại sản phẩm thì chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các
thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó. Những thuộc tính đó phản ánh công
dụng hoặc giá trị sử dụng của sản phẩm và biểu hiện ở những chỉ tiêu chất
lượng cụ thể. Nếu xét trên góc độ giá trị, chất lượng sản phẩm được hiểu là
đại lượng đo bằng tỷ số giữa lợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi
phí phải bỏ ra để có được lợi ích đó. Dựa trên nghiên cứu các định nghĩa trên,
tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) đã đưa ra định nghĩa về chất lượng
sản phẩm trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 như sau: “Chất lượng sản phẩm là
một tập hợp các thuộc tính của sản phẩm, tạo cho sản phẩm đó khả năng thỏa
mãn yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”. Định nghĩa trên cho thấy sự thống nhất
giữa các thuộc tính nội tại của sản phẩm, các nhu cầu của khách hàng, giữa
lý chất lượng sản phẩm. Quản lý chất lượng sản phẩm bao gồm toàn bộ các
hoạt động từ việc xây dựng các quy trình đảm bảo chất lượng, thiết lập các
văn bản xác định trình tự và tương tác các quy trình, đảm bảo nguồn lực và
thông tin cần thiết, theo dõi kiểm tra và phân tích các quá trình nhằm đảm bảo
mục tiêu chất lượng đã đề ra. Đây là một hoạt động không thể thiếu đối với
mỗi doanh nghiệp để phát huy được lợi thế cạnh tranh đích thực từ sản phẩm.
Trên cơ sở nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của chất lượng sản phẩm và
quản lý chất lượng, các doanh nghiệp cần xây dựng và tổ chức triển khai các
hoạt động đẩy nhanh quá trình cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, tận
dụng tốt nhất công cụ này cho nâng cao năng lực cạnh tranh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Hai là giá cả sản phẩm
Giá cả là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triển cùng
với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa. Giá cả không chỉ là sự biểu
hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nó còn biểu hiện tổng hợp các quan hệ
kinh tế như cung cầu hàng hóa, tích lũy, tiêu dùng… Vì vậy giá cả hình thành
thông qua quan hệ cung cầu hàng hóa, thông qua sự thỏa thuận giữa người
mua và người bán, giá được chấp nhận là giá mà cả hai bên đều đồng ý và có
lợi. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì giá bán sản phẩm là một trong
những công cụ quan trọng thường được sử dụng. Bởi giá bán sản phẩm có ảnh
hưởng trực tiếp đến sự hấp dẫn của sản phẩm và sản lượng tiêu thụ. Hai hàng
hóa có cùng công dụng chất lượng như nhau, khách hàng sẽ mua hàng hóa
nào có giá thấp hơn. Có nhiều chính sách giá khác nhau được doanh nghiệp
sử dụng phù hợp với sản phẩm, mục tiêu, tình hình thị trường và khả năng
thanh toán của khách hàng. Trong quá trình hình thành và xác định giá bán,
doanh nghiệp có thể tham khảo một số chính sách giá sau:
- Chính sách giá thấp: Là chính sách doanh nghiệp đưa ra mức giá thấp