NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

VŨ HUY HOÀNG DƯƠNG
NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN
PHẨM XI MĂNG HƯƠNG SƠN CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN XI MĂNG BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60.34.05
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. NGUYỄN THỊ TÂM
HÀ NỘI - 2012
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, nghiêm túc, chưa
được công bố và sử dụng bảo vệ một học vị nào.
Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Bắc Giang, ngày tháng năm 2012
Tác giả

Vũ Huy Hoàng Dương
i
LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường, nghiên cứu viết luận văn bản thân
tôi đã nhận đựoc rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và
các cá nhân.
Trước hết cho phép bản thân tôi đựoc cám ơn các thày cô giáo trong
khoa Kế toán & Quản trị kinh doanh của Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội
trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài của mình.
Cám ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Ngưyễn Thị Tâm đã giúp

Công ty XM Thăng Long 86
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
LỜI CAM ĐOAN i
Bắc Giang, ngày tháng năm 2012 i
TÁC GIẢ ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ iv
1. MỞ ĐẦU 1
iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ
LỜI CAM ĐOAN i
Bắc Giang, ngày tháng năm 2012 i
TÁC GIẢ ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ iv
1. MỞ ĐẦU 1
iv
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Mở rộng thị phần, cạnh tranh sản phẩm luôn là mục tiêu hàng đầu,
quyết định sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường
doanh nghiệp muốn tồn tại phải làm ăn “có lãi”, nhất là những doanh nghiệp
đã tiến hành cổ phần hoá (CPH) bước vào hoạt động với tư cách là công ty cổ
phần, vận hành theo cơ chế thị trường tự chịu trách nhiệm với công việc sản
xuất kinh doanh của mình. Nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của công
ty trên thị trường là nhiệm vụ chủ đạo của mỗi doanh nghiệp.

Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm xi măng tại
Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang. Từ đó, đề xuất những giải pháp nâng
cao năng lực cạnh tranh SP xi măng của Công ty trong những năm tiếp theo.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ một số vấn đề về lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm, các
nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm của Công ty cổ
phần xi măng Bắc Giang trong thời gian qua, rút ra những hạn chế yếu kém
và nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản
phẩm tại Công ty cổ phần xi măng Bắc Giang.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các chỉ tiêu, nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm xi
măng của công ty
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
2
- Phạm vi về nội dung:
+ Năng lực cạnh tranh và các vấn đề có liên quan đến năng lực cạnh
tranh sản phẩm.
+ Do hạn chế về thời gian và các nguồn lực cần thiết cho việc triển khai
nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trên thị trường tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại Công ty cổ phần xi
măng Bắc Giang và thị trường tiêu thụ xi măng tại tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 4/2011 đến
tháng 10/2012. Các thông tin, số liệu, dữ liệu cung cấp trong luận văn được
thu thập thực tế trong 3 năm.
3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

một loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với đối
thủ cạnh tranh.
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
- Cạnh tranh là một đặc tính cơ bản của thị trường, sẽ không có kinh tế
thị trường nếu không có cạnh tranh. Theo kinh tế học thì cạnh tranh
(competion) là sự tranh giành thị trường (khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm
giữa các doanh nghiệp. “Như vậy đã là kinh tế thị trường thì đương nhiên có
cạnh tranh và cạnh tranh theo nghĩa là tranh giành khách hàng (thị phần) thì
chỉ có trong khuôn khổ của kinh tế thị trường”. [20]
Vì cạnh tranh là hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế thị trường và để
đạt được mục tiêu lợi nhuận những doanh nghiệp tham gia thị trường phải
thông qua sự cạnh tranh lẫn nhau nên từ lâu vấn đề cạnh tranh đã là một trong
những nội dung quan trọng của các môn khoa học về kinh tế và là một đối
tượng điều chỉnh của luật pháp. Thế kỷ XIII Adam Smith, nhà kinh tế học cổ
điển vĩ đại Anh trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc" (1776) đã thuyết
minh vai trò quan trọng của cạnh tranh tự do trong bối cảnh nền kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa (TBCN) đang ở giai đoạn hình thành, bị rất nhiều
ràng buộc bởi những thiết chế phi tự do của nhà nước phong kiến. Theo ông
"Mỗi cá nhân (doanh nghiệp) đều sử dụng vốn của mình sao cho có được sản
phẩm, có giá trị cao nhất. Thông thường cá nhân này không có chủ định củng
cố lợi ích công cộng, mà cũng chẳng biết mình đang củng cố lợi ích này ở
mức độ nào. Cá nhân (doanh nghiệp) này chỉ có mục đích bảo vệ sự an toàn
5
và thành quả của riêng mình. Trong quá trình này một bàn tay vô hình đã
buộc anh ta phải theo đuổi một mục đích không nằm trong dự định. Trong khi
theo đuổi lợi ích của mình anh ta đã thường bảo vệ luôn lợi ích của xã hội một
cách biểu hiện hơn cả khi anh ta có ý định làm việc này. Với Adam Smith,
trật tự thị trường theo nguyên lý "bàn tay vô hình" sẽ điều hoà các hoạt động
kinh tế một cách có hiệu quả. "Độc quyền là kẻ thù lớn đối với quản lý tốt, mà
việc quản lý tốt không thể có được trừ khi có sự cạnh tranh tự do và rộng

loại bỏ những máy móc đã cũ kỹ và lạc hậu và điều quan trọng là phải có
phương pháp tổ chức quản lý có hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyên
môn, tay nghề cho người lao động. Cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năng
suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng
hóa, nâng cáo chất lường sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm cho sản xuất
ngày càng gắn liền vố tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội được tốt hơn. Bên
cạnh những mặt tích cực cạnh tranh còn để lại nhiêu hạn chế và tiêu cực, đó là
sự phân hoá sản xuất hàng hoá, làm phá sản những doanh nghiệp kinh doanh
gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ
thấp và có thể làm cho doanh nghiệp phá sản khi doanh nghiệp gặp phải
những rủi ro khách quan mang lại như thiên tai, hoả hoạn hoặc bị rơi vào
những hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi. [2] [3]
Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất
đó là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường
với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự
thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận.
2.1.1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm
7
Cạnh tranh ở đây là nói đến hành vi của chủ thể, vì vậy có hành vi của
doanh nghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế,
không có hành vi của hàng hóa. Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với
nhau, để giành lợi thế về phía minh, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều
biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của minh trên thị trường. Các biện
pháp này thể hiện một sức mạnh, một khả năng hoặc một năng lực nào đó của
chủ thể, được gọi là sức cạnh tranh của chủ thể đó hoặc khả năng cạnh tranh
của chủ thể đó. Khi muốn chỉ một sức mạnh, một khả năng duy trì được vị trí
của một sản phẩm hàng hoá nào đó trên thị trường (hàng hoá này là của một
doanh nghiệp nào đó, một quốc gia nào đó) thì ta cũng dùng thuật ngữ “khả
năng cạnh tranh của sản phẩm” hoặc sức cạnh tranh của sản phẩm cũng thể
hiện mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó đối với khách hàng. [1]

hoạt động, kể cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này thuộc
về Nhà nước. Vì vậy, vô hình Nhà nước đã tạo ra một lối mòn trong kinh
doanh, một thói quen trì trệ và ỉ lại, doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm
khách hàng mà chỉ có khách hàng tự tìm tới đến doanh nghiệp. Chính điều đó
đã không tạo được động lực cho doanh nghiệp phát triển. Sau khi kết thúc đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạn
mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh tế thị trường được hình thành thì vấn đề
cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanh
nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng cũng như nền KTQD nói chung.
Đối với nền kinh tế quốc dân.
Đối với nền kinh tế, cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực
thúc đẩy sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng năng suất
lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, cạnh
9
tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp. Bên
cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất
hiện của nhữnh sản phẩm mới. Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngày
càng được nâng cao về chính trị, kinh tế và văn hoá. Cạnh tranh bảo đảm thúc
đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày
càng phát triển sâu và rộng. Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có
quyền lựa chọn những sản phẩm mà họ đánh giá là tốt nhất. Nếu một sản
phẩm không đáp ứng được đòi hỏi của người tiêu dùng lập tức sẽ bị đào thải.
Vì vậy, cạnh tranh kích thích các nhà sản xuất phải ngày càng hoàn thiện sản
phẩm của mình hơn, thoả mãn những yêu cầu của thị trường.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó
vẫn còn mang lại những mặt hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh tạo sự
phân hoá giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dấn tới có những mốt
làn ăm vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, làm hàng giả, buôn bán trái
phép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm.
Đối với doanh nghiệp.

một ngành vai trò lớn trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cạnh tranh
sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế và
điểm mạnh của ngành đó là thu hút được một nguồn lao động, tài nguyên dồi
dào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó.
Như vậy, trong bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô
hoạt động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở tầm vĩ
mô hay vi mô thì không thể thiếu vắng sự có mặt của hoạt động cạnh tranh.
Đối với sản phẩm.
11
Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao
về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ. Giúp cho lợi ích
của người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn.
Ngày nay, các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong
nước mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài. Qua những ý nghĩa trên ta
thấy rằng cạnh tranh không thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực nào của nền
kinh tế. Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra những doanh nghiệp lớn và
đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển đảm bảo công bằng xã
hội. Bởi vậy, cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của Nhà
nước để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh
tranh không lành mạnh dẫn tới độc quyền và gây lũng loạn thị trường.
2.1.1.4. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. ở đâu có
nền kinh tế thị trường thì ở đó có cạnh tranh. Bất kỳ một doanh nghiệp nào
cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp
mình tồn tại và đứng vững thì phải cạnh tranh. Trong giai đoạn hiện nay do
tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày
càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao
hơn rất nhiều. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không
ngừng điều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanh
nghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong

định cho doanh nghiệp có tồn tại hay không. Họ không phải tìm đến doanh
nghiệp như trước đây nữa và họ cũng không phải mất thời gian chờ đợi để
mua hàng hoá dịch vụ, mà đối ngược lại trong nền kinh tế thị trường khách
hàng được coi là thượng đế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì
13
phải tìm đến khách hàng và khai thác nhu cầu nơi họ. Điều này đòi hỏi doanh
nghiệp phải có những chương trình giới thiệu truyền bá và quảng cáo sản
phẩm của mình để người tiêu dùng biết đến, để họ có sự xem xét, đánh giá và
quyết định có nên tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp hay không? Ngày
nay việc chào mời để khách hàng tiêu thụ sản phẩm của mình đã là vấn đề
khó khăn nhưng việc giữ lại được khách hàng còn khó khăn hơn rất nhiều.
Bởi vậy mà doanh nghiệp nên có những dịch vụ trước khi bán, trong khi bán
và dịch vụ sau khi bán hàng hoá cho khách hàng, để những khách hàng đó là
những khách hàng truyền thống của doanh nghiệp, chính họ là những nhân tố
quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
2.1.2. Các hình thức cạnh tranh [13] [11]
Cạnh tranh được phân loại theo các hình thức sau:
2.1.2.1. Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh: Chia làm 3 loại
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn
ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của
mình. Người bán muốn bán với giá cao nhất có thể, còn người mua muốn mua
với giá rẻ nhất những chất lượng vẫn không thay đổi. Tuy vậy, mức giá vẫn là
sự thoả thuận mang lại lợi ích của cả 2 bên.
- Cạnh tranh giữa người mua và người mua: là cuộc cạnh tranh trên cơ
sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu. Lúc này
hàng hoá trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua có để đạt được nhu cầu
mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức
độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cả
hàng hoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi
những người mua bị thiệt thòi cả về giá và chất lượng, nhưng trong trường

15
+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số
ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất. Lúc này cạnh tranh sẽ
xẩy ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp. Do vậy, mọi doanh
nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ
thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ khác
trên thị trường.
2.1.2.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế.
- Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm.
Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp
dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao
năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm thu lợi nhuận,
siêu ngạch. Kết quả của cạnh tranh là kỹ thuật sản xuất phát triển, điều kiện
sản xuất trong một ngành thay đổi, giá trị xã hội của hàng hoá được xác định
lại, tỷ xuất lợi nhuận giảm xuống. Đồng thời các doanh nghiệp chiến thắng sẽ
mở rộng phạm vi hoạt động tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trường,
những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí còn bị
phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế
khác nhau nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất, là ngành cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp cùng một ngành với ngành khác.
Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn bị hấp dẫn bởi các ngành
có lợi nhuận cao, nên đã có sự chuyển dịch vốn từ các ngành có lợi nhuận
thấp sang các ngành có mức lợi nhuận cao hơn. Sự di chuyển này sau một
thời gian nhất định, vô hình chung đã hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý
giữa các ngành sản xuất để rồi kết quả cuối cùng là: Các chủ doanh nghiệp
16
đầu tư ở các ngành khác nhau với cùng một số vốn chỉ thu được lợi nhuận
như nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành.

trì tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Làm tăng lòng tin cà sự trung thành
cẩu khách hàng đối với doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với doanh
nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi họ phải đương đầu với các
đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam. Một khi chất lượng hàng hoá
dich vụ không được đảm bảo thì có nghĩa là khách hàng đến với doanh nghiệp
ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy
yếu trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết định
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng
tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ
sống của sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của
doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Do
vậy, cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần
thiết mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đều phải sử dụng nó.
Thực tế cho thấy, tất cả các doanh nghiệp thành đạt trong kinh doanh,
đều là các doanh nghiệp có thái độ tích cực như nhau trong quản lý chất lượng
sản phẩm. Nguyên tắc chung của họ là đảm bảo chất lượng sản phẩm tuyệt
đối với độ tin cậy cao khi sử dụng và lòng trung thực trong quan hệ mua bán.
Đặc biệt là các doanh nghiệp phải luôn coi việc nâng cao chất lượng sản phẩm
là một chiến lược cạnh tranh trên thị trường có phạm vi rộng lớn, chất lượng
sản phẩm là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp.
2.1.3.2 Cạnh tranh bằng giá cả sản phẩm
18
Giá cả được hiểu là toàn bộ số tiền mà người mua trả cho người bán về
việc cung ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó. Thực chất giá cả là sự biểu
hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu.
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách
hàng được tôn vinh là “ Thượng đế ” họ có quyền lựa chọn những gì học cho
là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status