BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ THỊ PHƯƠNG MỸ
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN
TIẾP VẬN QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam kết rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2015
Tác giả luận văn Đỗ Thị Phương Mỹ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập nghiên cứu và viết luận văn thạc sỹ, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều phòng, ban, ngành và cá nhân.
Trước hết cho phép tôi cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn đã dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khoá học thạc sỹ này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn GS.TS. Đỗ
Kim Chung, các thầy cô trong bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách,
Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình đóng góp ý kiến quý báu để
tôi hoàn thành luận văn Thạc sỹ.
2.1.2 Vai trò của dịch vụ logistics 7
2.1.3 Nội dung, nghiên cứu về giải pháp cung ứng dịch vụ logistics 12
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới giải pháp cung ứng dịch vụ logistics 17
2.2 Cơ sở thực tiễn về cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Interlogistics 21
2.2.1 Đặc điểm kinh tế kĩ thuật và quá trình phát triển của ngành dịch vụ
logistics ở Việt Nam (Nguồn: XNK Việt Nam) 21
2.2.2 Thực trạng phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay. 22
2.2.3 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ logistics 35
2.2.4 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ logistics tại một số nước ASEAN 43
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
3.1 Sự hình thành và phát triển của Công ty Interlogistics 51
3.1.1 Chức năng và nhiệm vụ của công ty 52
3.2 Phương pháp tiếp cận 57
3.2.1 Tiếp cận theo loại dịch vụ 57
3.2.2 Tiếp cận theo khu vực, thành phố 58
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
3.2.3 Phương pháp chọn mẫu 58
3.3 Phương pháp thu thập số liệu 58
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 59
3.5 Phương pháp phân tích số liệu 59
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 60
4.1 Thực trạng cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần Giao
Nhận Tiếp Vận Quốc Tế 60
4.1.1 Dịch vụ Hải Quan 60
4.1.2 Dịch vụ kho bãi 63
4.1.3 Dịch vụ vận tải nội địa 66
4.1.4 Dịch vụ gom hàng lẻ 69
4.1.5 Dịch vụ phát triển đại lý 75
CBM Cubic meter
3.CFS Container freight station
4.CIF Cost, insurance and freight
5.CNF/CFR Cost and freight
6.CY Container yard
7.D/O Delivery order
8.DDU Delivery duty unpaid
9.EXW EX Works
10.
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
18.PTDL Phát triển Đại lý
19.PTDN Phát triển Doanh nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
4.1 Bảng so sánh doanh thu hải quan 61
4.2 Bảng so sánh doanh thu kho bãi 65
4.3 Bảng so sánh doanh thu vận tải nội địa 67
4.4 Bảng so sánh số khối (CBM) tại Hà Nội 70
4.5 Bảng so sánh số khối (CBM) của HCM 71
4.6. Bảng so sánh doanh thu của Hà Nội 72
4.7 Bảng so sánh doanh thu của HCM 74
4.8 Bảng so sánh doanh thu phòng PTĐL 76
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
STT Tên hình, biểu đồ Trang
hệ thống, E-logistics.
Tại Việt Nam, ngành dịch vụ logistics đã trải qua hơn hai thập niên
phát triển và đã đạt được những thành công nhất định. Tuy nhiên, còn
nhiều hạn chế về mặt năng lực của các doanh nghiệp. Đó là vốn, cơ sở hạ
tầng, nguồn nhân lực, công nghệ quản trị hiện đại Bên cạnh đó, các yếu
tố pháp luật, thể chế về logistics cũng cần được bổ sung cho phù hợp với đà
phát triển của hệ thống logistics quốc gia.
Nằm trong chương trình phát triển chung của cả nước, đó là xây
dựng các trung tâm logistics tại ba miền Bắc – Trung – Nam. Công ty Cổ
phần giao nhận tiếp vận Quốc tế
Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động và những yếu tố ảnh
hưởng tới dịch vụ logistics tại ICD Tiên Sơn, học viên đã chọn đề tài “
Nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
giao nhận tiếp vận Quốc Tế” thực hiện với hi vọng sẽ tìm ra các giải
pháp khả thi để phát triển loại hình dịch vụ này, làm bài học kinh
nghiệm cho các Cảng nội địa của Việt Nam.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
` Nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần
giao nhận tiếp vận Quốc tế.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cung ứng dịch vụ logistics cho doanh nghiệp.
- Đánh giá thự trạng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần giao nhận
tiếp vận Quốc tế.
- Đề xuất giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần
giao nhận tiếp vận Quốc tế.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
thành phẩm xử lý các thông tin liên quan… từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ
cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng.
- Theo Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình
lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát
việc di chuyển, bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian
đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các
thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay
người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. (Đào Đình
Bình, 2011)
- Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá
trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của
dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các
thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa
mãn những yêu cầu của khách hàng.
- Trong lĩnh vực quân sự:logistics được định nghĩa là khoa học của
việc lập kế hoạch, tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua
lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài,
trang thiết bị.
- Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): “Dịch vụ
logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện
một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu
bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng
gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan
tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.”
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản
Hình 1.1 Dịch vụ logistics
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch
vụ logistics đều chỉ ra rằng:
- Logistics là quá trình mang tính hệ thống chặt chẽ và và liên tục từ
điểm đầu tiên của dây truyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
- Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các
hoạt động liên tục từ hoạch định quản lý thực hiện và kiểm tra dòng chảy
của hàng hóa, thông tin, vốn trong suốt quá trình từ đầu vào tới đầu ra
của sản phẩm. Người ta không tập trung vào một công đoạn nhất định mà
tiếp cận với cả một quá trình, chấp nhận chi phí cao ở công đoạn này nhưng
tổng chi phí có khuynh hướng giảm.
- Logistics không chỉ liên quan đến nguyên vật liệu mà còn liên quan
tới tất cả các nguồn tài nguyên, đầu vào cần thiết để tạo ra sản phẩm hay
dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Đó là vật tư, vốn, nhân
lực, công nghệ thông tin, chiến lược.
- Logistics là quá trình hoạch định và kiểm soát dòng chu chuyển và
lưu kho bãi của hàng hóa và dịch vụ từ điểm đầu tiên tới khách hàng và
Nguyên
vật liệu
thô
Nguyên
vật liệu
thô
Các nhà cung
c
ấ
p v
hàng
Khách
hàng
Khách
hàng
Quá trình quản lý nguyên vật liệu Quá trình phân phối
LOGISTICS
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Logistics bao gồm cả các chu chuyển đi
vào, đi ra, bên trong, bên ngoài của nguyên vật liệu thô và thành phẩm.
- Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức.
Cấp độ thứ nhất các vấn đề được đặt ra là: Vị trí- phải lấy nguyên vật
liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ ở đâu? khi nào? và vận
chuyển đi đâu?
Cấp độ thứ hai là quan tâm tới vận chuyển và lưu trữ: làm thế nào để
vận chuyển được các yếu tố trên từ điểm xuất phát tới điểm cuối cùng của
dây truyền cung ứng.
Toàn bộ quá trình vận động của nguyên vật liệu qua sản xuất, lưu
thông đáp ứng nhu cầu thị trường đều gắn liền với hoạt động giao nhận
vận tải. Vì thế người ta cho rằng, logsitics chính là sự phát triển cao,
hoàn thiện của vận tải giao nhận; là sự phát triển toàn diện và khéo léo
của vận tải đa phương thức.
Theo đó, logistics là quá trình tối ưu hóa luồng vận động của vật chất
và thông tin về vị trí, thời gian, chi phí, yêu cầu của khách hàng và hướng
tới tối ưu hóa lợi nhuận.
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của các dịch vụ logistics.
thời gian thực hiện kéo dài.
2.1.2 Vai trò của dịch vụ logistics
Logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế hiện
đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và
toàn cầu. Phần giá trị gia tăng do ngành logistics tạo ra ngày càng lớn.
Trên thực tế, vai trò của hoạt động logistics được đánh giá trên cả hai cấp
độ: vĩ mô và vi mô.
2.1.2.1 Dưới góc độ vĩ mô (nền kinh tế)
Logistics tuy là ngành công nghiệp ra đời khá muộn nhưng lại là một
trong những động lực phát triển kinh tế của nhiều quốc gia. Logistics có
ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
Thứ nhất, logistics phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của
một quốc gia, đóng góp nhiều cho ngân sách Nhà nước.
Theo nghiên cứu của Trường đại học Quốc gia Michigan (Hoa Kỳ)
Logistics đóng góp vào GDP của các nước lớn ở Châu Âu bắc Mỹ và một
số nền kinh tế ở Châu Á - Thái Bình Dương khoảng từ 10% đến 15%
(Trịnh Thị Thu Hương, 2007).
Logistics là công cụ tạo ra mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như
toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóatạo ra chuỗi giá
trị toàn cầu (GVC – Global Value Chain). Khi thị trường toàn cầu phát
triển với các tiến bộ về công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các
nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là
công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược
doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho
các hoạt động của doanh nghiệp. Sự phát triển logistics làm cho nền kinh tế
mỗi nước gắn với nền kinh tế khu vực và thế giới, tạo ra sự hội nhập.
Thứ hai, logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong
logistics hiện đại theo hướng bền vững có vai trò rất quan trọng trong việc
giải quyết ùn tắc và giảm tai nạn giao thông, nhất là ở các thành phố lớn
(Đoàn Thị Hồng Vân, 2006).
Thứ tư, logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu
chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế.Trong thực tế, một giao dịch
trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ. Các
dịch vụ logistics đơn lẻ, trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí
cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ vận tải đa phương
thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều
chi phí cho giấy tờ, thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ, cũng như
giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng
cao hiệu quả buôn bán quốc tế. Đặc biệt khi thương mại điện tử ra đời cùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
với việc xuất hiện Logistics 5PL thì các khoản chi phí kể trên cùng với chi
phí về mặt thời gian càng được tiết kiệm hơn.
Thứ năm, dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và
tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia.Theo nhiều kết quả nghiên cứu về
logistics ở các hãng sản xuất, trong cơ cấu giá bán sản phẩm, chi phí sản
xuất thường chiếm 48%, marketing chiếm 27%, logistics chiếm 21%, còn
lại là phần lợi nhuận 4%. Điều này cho thấy chi phí logistics là rất lớn. Do
đó, việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp
cũng như toàn bộ nền kinh tế giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm
cho qua trình sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả hơn, góp phần nâng cao sức
cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp trên thị trường (Trịnh Thị Thu
Hương, 2007).
Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (electronic
logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi
phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới
tải, giao nhận làm cho cả quá trình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng
hơn, làm gia tăng sự hài lòng và giá trị cung cấpcho khách hàng. Đây cũng
là một công cụ để đạt được lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Thứ ba, logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhà quản trị doanh nghiệp luôn phản giải
quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và
thời điểm để bổ sung hiệu quả nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành
trình vận tải, địa điểm, thời gian giao nhận và kho bãi chứa thành phẩm,
bán thành phẩm … Để giải quyết những vấn đề này một cách hiệu quả
không thể thiếu vai trò của logistics vì nó cho phép nhà quản lý kiểm soát
và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí
phát sinh, bảo đảm hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư: Logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của doanh
nghiệp thông qua việc thực hiện các dịch vụ lưu thông bổ sung (các dịch vụ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu phân phối, lưu thông). Logistics là loại
hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận
tải giao nhận thuần túy. Trước kia người kinh doanh dịch vụ vận tải giao
nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn
lẻ. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một
sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị
trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ các nhà phân
phối, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng, phong
phú. Người vận tải giao nhận ngày nay phải triển khai thực hiện nhiều dịch
vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế ngày càng tăng của khách hàng.
Thứ năm: Logistics hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt
là marketing hỗn hợp. Thể hiện ở sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng khi
hàng hóa được giao đúng thời gian, địa điểm, đúng sản phẩm yêu cầu với
quản lý của Hải quan.
Quy trình thực hiện hải quan
Bước 1: Doanh nghiệp thực hiện khai tờ khai hải quan điện tử, tờ
khai trị giá (nếu cần) theo đúng tiêu chí và khuôn dạng chuẩn và gửi tới hệ
thống của cơ quan hải quan.
Bước 2: Doanh nghiệp nhận thông tin phản hồi từ cơ quan hải
quan về số tờ khai hải quan, kết quả phân luồng và thực hiện một trong
các nội dung sau:
+ Luồng xanh: Miễn kiểm tra hồ sơ giấy và miễn kiểm tra thực tế
hàng hóa. Lô hàng được cơ quan hải quan chấp nhận thông quan thì chuyển
sang bước 4.
+ Luồng vàng: Kiểm tra hồ sơ hải quan. Nếu được yêu cầu sửa đổi,
bổ sung hồ sơ hải quan thì doanh nghiệp thực hiện theo yêu cầu và xuất
trình hồ sơ giấy để cơ qaun hải quan kiểm tra. Nếu lô hàng được chấp nhận
thông quan thì thực hiện tiếp bước 4, nếu cơ quan hải quan yêu cầu kiểm
tra htực tế hàng hóa thì chuyển sang bước 3.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
Bước 3: Luồng đỏ: Doanh nghiệp xuất trình hồ sơ giấy và hàng hóa
để cơ quan hải quan kiểm tra.
Bước 4: Doanh nghiệp in tờ khai trên hệ thống của mình để đi lấy hàng.
Bước 5: Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy
định của pháp luật.
2.1.3.2 Dịch vụ kho bãi
Dịch vụ kho bãi là một hệ thống của Logistics, là nơi lưu giữ
nguyên liệu và thành phẩm, Những nhà sản xuất tiến hành sản xuất hàng
hóa, sau đó cung cấp thông tin về tình trạng, điều kiện lưu giữ và vị trí các
hàng hóa được lưu kho (Đoàn Thị Hồng Vân, 2012).
Nhiệm vụ kho bãi
chính mình hoặc do thuê mướn, hay trên cơ sở một hợp đồng phụ mà họ
thay mặt cho chủ hàng ký kết với người vận chuyển.
2.1.3.4 Dịch vụ gom hàng lẻ
Khái niệm: Gom hàng (Consolidation) là việc biến các lô hàng lẻ
thành hàng nguyên gửi đi nhằm tiết kiệm chi phí vận tải, là một dịch vụ
không thể thiếu được trong vận tải container. Dịch vụ này cũng có thể do
người chuyên chở (hãng tàu) hoặc người giao nhận hoặc một người khác
đảm nhiệm, gọi là người gom hàng (Consolidator). (Đào Đình Bình, 2011).
Nhiệm vụ gom hàng lẻ
Thay mặt người ủy thá, phối hợp với cảng và các cơ quan liên quan
để thực hiện tốt nhiệm vụ: bốc xếp giao nhận hàng hóa xuấ nhập khẩu, đại
lya và các dịch vụ hàng hải khác, thu ngoại tệ về cho đất nước và bảo vệ
quyền lợi chính đâng cho người ủy thác.
Xây dựng phương án đóng góp vào sự phát triển chung của Đại lý
hàng hải Việt Nam, tham gia tốt vào các tổ chức quốc tế. Duy trì và mở
rộng các hoạt động vận tải truyền thống. Nghiên cứu và phát triển ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực hàng hải cũng như luật hàng hải. Phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
triển các dịch vụ tăng cao như đại lý vận tải, dịch vụ xuất hàng hóa đạt tiêu
chuẩn Quốc tế.
Quy trình gom hàng lẻ diễn ra như sau
Người gom hàng nhận hàng lẻ từ các chủ hàng và họ sẽ cấp cho
người gửi một chứng từ gọi là vận đơn gom hàng (House B/L).
Người gom hàng đóng các hàng lẻ vào container và gửi nguyên
container cho người chuyên chở thực (hãng tàu).
Hãng tàu nhận container và sẽ cấp cho người gom hàng một vận đơn
gọi là vận đơn chủ (Master B/L). Hãng tàu vận chuyển container đến cảng
đến, dỡ khỏi tàu và giao nguyên container cho đại lý của người gom hàng