BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LÊ THANH ĐỨC
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI THU
HỒI ĐẤT DỰ ÁN KHU CÔNG NGHIỆP THĂNG LONG II
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực, không sao chép bất
kỳ một công trình nào khác.
Tất cả các sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn; các
thông tin trích dẫn, dẫn chiếu trong Luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hưng Yên, ngày tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn Lê Thanh Đức
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hộp ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1. Mục tiêu chung 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1. Cơ sở lý luận 5
2.1.1. Cơ sở lý luận về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất 5
2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất 9
2.2. Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1. Chính sách về bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất ở Việt Nam và một
số nước, tổ chức quốc tế 16
2.2.2. Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam 33
2.3. Một số nghiên cứu trước đây có liên quan về bồi thường, hỗ trợ
khi Nhà nước thu hồi đất 40
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 42
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 42
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 43
4.3.5. Việc thực hiện các bước của công tác bồi thường, hỗ trợ, GPMB
thực hiện dự án KCN Thăng Long II 73
4.3.6. Mức bồi thường, hỗ trợ cụ thể đối với dự án mở rộng KCN Thăng
Long II, tỉnh Hưng Yên 78
4.3.7. Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi thực hiện thu hồi đất dự
án KCN Thăng Long II tỉnh Hưng Yên 84
4.3.8. Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ khi thực hiện thu
hồi đất dự án KCN Thăng Long II tỉnh Hưng Yên 91
4.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi
đất phục vụ dự án KCN Thăng Long II, tỉnh Hưng Yên 92
4.4.1. Các yếu tố khách quan 92
4.4.2. Các yếu tố chủ quan 94
4.5. Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn tỉnh Hưng Yên 95
4.5.1. Định hướng 95
4.5.2. Giải pháp 96
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
5.1. Kết luận 101
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
5.2. Kiến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC………………………………………………………………………106
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
4.4 Ý kiến của người bị thu hồi đất về việc tiếp nhận thông tin về
quyết định thu hồi đất; việc tham dự các cuộc họp để kê khai về
nhân khẩu, diện tích, tài sản trên đất bị thu hồi niêm yết công khai
về phương án bồi thường, hỗ trợ 76
4.5 Kết quả giải quyết những vướng mắc trong quá trình thu hồi đất 76
4.6 Kết quả họp dân lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ thu
hồi đất 77
4.7 Đơn giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 79
4.8 Ý kiến của người dân về việc nhận tiền bồi thường, hỗ trợ 83
4.9 ác khoản bồi thường, hỗ trợ đối với 100% người dân có đất bị thu
hồi 84
4.10 Khó khăn, vướng mắc trong quá trình bồi thường, hỗ trợ 87
4.11 Mức độ thay đổi mức sống sau thu hồi đất 88
4.12 Tình hình việc làm của người dân sau thu hồi đất 89
4.13 Những thay đổi ở địa phương sau thu hồi đất 90
4.14 Đề xuất của người dân bị thu hồi đất 96 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix
DANH MỤC HỘP
Số hộp Tên bảng Trang
4.1 Ý kiến của đại diện cơ quan thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ
trợ, thu hồi đất về trình tự thực hiện dự án 72
4.2 Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi đất về việc tổ chức 76
4.3 Ý kiến của lãnh đạo và cán bộ UBND xã về kết quả thực hiện bồi
thường, hỗ trợ thu hồi đất 87
USD, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh mới đáp ứng 1/3 so với yêu cầu, cơ cấu
kinh tế nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ: 60%-15% - 25%. So sánh với các
tỉnh lân cận, Hưng Yên là tỉnh có diện tích nhỏ, dân số đông, nhiều chỉ tiêu kinh
tế thấp hơn mức bình quân của các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Để rút ngắn khoảng
cách về các chỉ tiêu kinh tế so với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Hưng Yên đã nỗ lực
đề ra các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những giải pháp
tỉnh đã quan tâm lãnh đạo chỉ đạo thực hiện là phát triển các thành phần kinh tế, đa
dạng hóa hình thức đầu tư, giải quyết đồng bộ vấn đề tài chính, đất đai, kết cấu hạ
tầng, thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư trực tiếp bên ngoài
(Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tập, 2009).
Tỉnh đã ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về đẩy mạnh hợp tác đầu
tư như Nghị quyết số 03 – NQ/TU, ngày 20/6/1998 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
Hưng Yên về việc đẩy mạnh hợp tác đầu tư trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; Quyết
định số 1088/1999/QĐ-UB hướng dẫn việc thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép
đầu tư, Quyết định số 1089/1999/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên
về quy định quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉnh ngoài trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên. Những nghị quyết, quyết định kịp thời này đã góp phần khơi
thông dòng vốn đầu tư, thực sự làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tính đến tháng 7 năm 2014, tỉnh Hưng Yên đã có 13 khu công nghiệp
(KCN), với tổng diện tích 3.660 ha đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận và
đưa vào Quy hoạch tổng thể phát triển các KCN trong nước; đã tiếp nhận được
hơn 1.150 dự án đầu tư, trong đó, có gần 300 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 2,7 tỷ USD. Các dự đầu tư vào các KCN
tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng đã tạo ra giá trị doanh thu năm 2013
hơn 2 tỷ USD; giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho hàng chục nghìn lao
động (Ban quản lý các KCN tỉnh Hưng Yên, 2004).
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện tốt công tác bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ các dự án trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các chính sách của Đảng và Nhà nước về quá trình thực thi chính sách
thu hồi đất nông nghiệp.
- Các hộ nông dân có đất bị thu hồi phục vụ dự án KCN Thăng Long II
trên địa bàn 2 xã Dị Sử, Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Hội đồng bồi thường, GPMB huyện Mỹ Hào, Trung tâm phát triển Quỹ
đất thuộc Sở TN&MT tỉnh Hưng Yên; UBND xã Phùng Chí Kiên, UBND xã Dị
Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Những vấn đề về công tác bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất và các nguyên
nhân ảnh hưởng tới công tác thu hồi đất ở KCN Thăng Long II, trên địa bàn 2 xã
Dị Sử, Phùng Chí Kiên của huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Tập trung tìm hiểu công tác bồi thường, hỗ trợ thu
hồi đất ở KCN Thăng Long II, tỉnh Hưng Yên (thuộc giai đoạn hai trong quá
trình xây dựng mở rộng của KCN Thăng Long II).
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn 2 xã Dị Sử,
Phùng Chí Kiên của huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Phạm vi về thời gian: Các dữ liệu phục vụ đánh giá công tác bồi thường,
hỗ trợ thu hồi đất trong trên địa bàn 2 xã Dị Sử, Phùng Chí Kiên của huyện Mỹ
Hào, tỉnh Hưng Yên trong hai năm 2012, 2013. Thời gian nghiên cứu từ tháng
6/2014 đến tháng 3/2015.
đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất ủa người sử
dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (Luật Đất đai, 2013).
Từ quy định của Luật, có thể hiểu: Thu hồi đất là quyết định hành chính
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất. Từ đó tuân thủ
đúng thẩm quyền. Nhà nước thu hồi đất phải xuất phát từ nhu cầu của xã hội và
phát triển kinh tế hoặc chế tài xử lý các vi phạm Luật Đất đai của người sử dụng
đất. Việc thu hồi đất phải đặt trong mối quan hệ về lợi ích của 3 chủ thể: Nhà
nước – Nhà đầu tư – người có đất bị thu hồi.
2.1.1.2. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất
- Bồi thường về đất: là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối
với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất (Luật Đất đai, 2013). Bồi thường
thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất thực chất là việc giải quyết mối quan hệ kinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
tế giữa Nhà nước, người được giao đất, thuê đất và người bị thu hồi đất. Bồi
thường thiệt hại về đất phải được thực hiện theo quy định của Nhà nước. Việc
bồi thường thiệt hại về đất không giống với việc trao đổi, mua bán tài sản, hàng
hoá trên thị trường mà nó phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước,
người bị thu hồi đất và người nhận quyền sử dụng đất thu hồi, có nghĩa là phải
giải quyết một cách hài hoà giữa các đối tượng tham gia.
- Bồi thường GPMB: là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan
đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên phần đất nhất định
được quy định cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới trên
đó. Công tác GPMB mang tính quyết định đến tiến độ của dự án là khâu đầu tiên
để thực hiện dự án, trong đó đền bù thiệt hại là khâu quan trọng quyết định tiến độ
GPMB. Bồi thường, hỗ trợ GPMB có nghĩa là hoàn trả lại toàn bộ giá trị tài sản
và hỗ trợ thêm một phần giá trị hoặc công lao động và một số hỗ trợ xã hội khác
cho người có đất bị thu hồi.
Nhà nước điều tiết một phần lợi ích từ việc thu hồi, chuyển mục đích sử
dụng đất để thực hiện các khoản hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi quy định tại
Điều 17 Nghị định 69/2009/NĐ-CP.
Tóm lại, Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện
được bồi thường theo quy định thì được bồi thường. Việc bồi thường được thực
hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không
có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại
đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (thành phố) quyết định tại thời điểm
quyết định thu hồi đất. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm
dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp
luật.
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc
Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát
triển (Luật Đất đai, 2013).
2.1.1.3 . Chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB
Là một quá trình thực hiện các công việc liên quan đến bồi hoàn giá trị về
đất, tài sản trên đất bằng tiền hoặc bằng tài sản tương ứng cùng một số chính
sách hỗ trợ xã hội. Tổ chức việc di dời tài sản, hoa màu trên đất để GPMB. Bàn
giao phần diện tích mặt bằng đó cho chủ thể mới để cải tạo, xây dựng công trình
mới có giá trị, lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội lớn hơn (Đặng Thái Sơn, 2002).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
Nội dung của các khoản tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp
gồm:
- Tiền bồi thường đất: Là khoản tiền bồi thường cho hộ do bị mất tư liệu
sản xuất, cụ thể ở đây là đất nông nghiệp
- Tiền bồi thường thiệt hại hoa mầu trên đất: Là khoản tiền bồi thường do
việc thu hồi đất làm thiệt hại đến hoa mầu chưa được thu hoạch trên diện tích thu
hệ về lợi ích giữa ba chủ thể này. Ở đây cần phải có những quan điểm đúng đắn để
xử lý mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể, đó là phải trên quan điểm quốc gia, quan
điểm phát triển, bảo đảm công bằng, bình đẳng và hài hòa về quyền và lợi ích của
các chủ thể liên quan; không thể quá nặng về lợi ích quốc gia, ích lợi chung của xã
hội mà để thiệt hại lớn đến lợi ích của người bị thu hồi đất (trừ trường hợp tự nguyện
hiến); ngược lại cũng không thể thiên lệch lợi ích của Nhà nước và xã hội; lại càng
không thể thiên lệch vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, lợi ích tiêu cực cho người được
giao đất để làm thiệt hại đến lợi ích của người bị thu hồi đất và xã hội. Thực tế trong
nhiều năm qua, có những chính sách không hợp lý đã không đảm bảo lợi ích thỏa
đáng và chính đáng cho người bị thu hồi đất, dẫn đến nhiều khiếu nại, tố cáo (như
thu hồi đất nông nghiệp của nông dân đền bù với giá rất thấp để cấp cho các doanh
nghiệp kinh doanh nhà ở. Chỉ cần được cấp phép là giá đất đó đã tăng lên hàng trăm
lần, doanh nghiệp chỉ cần “chia lô bán nền”, vốn phải bỏ ra rất ít, chủ yếu để “chạy”
được dự án; rất nhiều tiêu cực nảy sinh từ đây). Rõ ràng giải quyết hài hòa, thỏa
đáng và công bằng lợi ích là khâu then chốt nhất của việc thực hiện quyền thu hồi
đất và trao quyền sử dụng đất của Nhà nước (Trần Quốc Toản, 2013).
2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất
2.1.2.1. Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập, quản lý hồ sơ địa chính và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Các nước trên thế giới đều coi đất đai là một loại tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu, quyền sử dụng.
Ở Việt Nam, theo quy định của hệ thống pháp luật về đất đai, người sử
dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để
được xét duyệt, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ). Hệ thống hồ sơ địa chính và GCNQSDĐ có liên quan mật thiết
với công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; là một trong những yếu tố quyết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
Ở nước ta, từ khi Luật Đất đai 1988 được ban hành đến nay, để đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, Quốc hội đã 5 lần sửa đổi bổ sung
hoặc thay thế các quy định của Luật Đất đai vào các năm (1993; 1998; 2001;
2003; 2013). Trải qua các thời kỳ, Luật Đất đai luôn là công cụ pháp lý quan
trọng để Nhà nước quản lý, điều tiết các mối quan hệ về đất đai. Cùng với hệ
thống pháp luật về đất đai, Chính phủ cũng ban hành các Nghị định, các bộ, ban,
ngành Trung ương ban hành các Thông tư, Thông tư Liên tịch hướng dẫn thi
hành Luật Đất đai qua các thời kỳ, trong đó có những nội dung quan trọng, then
chốt là công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Trong những năm qua, các văn bản pháp luật về đất đai, nhất là Luật Đất
đai năm 2003 đã góp phần đưa công tác bồi thường GPMB đạt được những kết
quả nhất định, góp phần cải thiện môi trường đầu tư và khai thác có hiệu quả
nguồn lực từ đất đai cho đầu tư phát triển. Thực tiễn cho thấy công tác bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất còn gặp khá nhiều khó
khăn cản trở, mà một trong những nguyên nhân đáng kể đó là hệ thống pháp luật
đất đai của chúng ta chưa ổn định, tính thống nhất và sự phù hợp với đời sống xã
hội chưa cao. Căn cứ báo cáo kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai của Bộ
TN&MT năm 2005 do 13 đoàn công tác của Bộ thực hiện tại các địa phương cho
thấy: một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân, kể cả cán bộ làm
công tác quản lý đất đai trong nhận thức và thực hiện chính sách pháp luật về đất
đai còn hạn chế và bộc lộ nhiều yếu kém. Nguyên nhân chủ yếu là do các địa
phương chưa làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai; có nơi
thực hiện còn chưa đúng, chưa đủ, thiếu dân chủ, không công khai minh bạch,
không công bằng; cá biệt có nơi còn hiện tượng lợi dụng chính sách để tham
nhũng, bao chiếm đất đai đã làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng
tin trong nhân dân, nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp đến công tác bồi thường,
điều kiện được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư nhằm
lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án. Một trong những điểm
mới quan trọng của Luật Đất đai 2013 là những quy định về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Luật quy
định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư đảm bảo
một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi nhằm khắc
phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu
trong xã hội.
Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, luật quy định: "Nhà nước
thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các
trường hợp: thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ
trương đầu tư; thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết
định đầu tư; thực hiện các dự án do HĐND cấp tỉnh chấp thuận…”.
Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định chế tài mạnh để xử lý đối
với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm
đưa đất vào sử dụng; quy định đầy đủ, rõ ràng về những trường hợp thật cần thiết
mà Nhà nước phải thu hồi; quy định giá đất bồi thường không áp dụng theo bảng
giá đất mà áp dụng giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời
điểm quyết định thu hồi đất.
2.1.2.4. Giá đất và định giá đất
- Giá đất: Theo khoản 19, 20, Điều 3 Luật Đất đai 2013: Giá đất là giá trị
của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất. Giá trị quyền sử dụng
đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định
trong thời hạn sử dụng đất xác định.
sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có mức giá như
nhau.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bảng giá đất các địa phương công bố hàng
năm hầu hết chưa phù hợp với nguyên tắc nêu trên, nhất là nguyên tắc “phù hợp
với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã
chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu
giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất”. Khoảng cách khá xa
giữa giá đất thực tế trên thị trường và giá đất do các tỉnh, thành phố quy định
(được lấy làm giá để đền bù khi Nhà nước thu hồi đất), là nguyên chủ yếu dẫn
đến tình trạng không đồng tình với mức đền bù khi Nhà thu hồi đất, từ đó phát
sinh tình trạng khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện vượt cấp, gây ách tắc trong thực
hiện bồi thường, hỗ trợ.
Theo báo cáo kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc
thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
đối với các quyết định hành chính về đất đai cho biết các kết quả sau: Từ năm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
2003 đến năm 2010, các cơ quan Nhà nước đã tiếp nhận 1.219.625 đơn thư khiếu
nại, tố cáo; trong số đơn thư khiếu nại, tố cao liên quan đến đất đai có tới 70% số
đơn thư liên quan đến thu hồi đất đai, bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Trong 528
vụ việc tồn đọng kéo dài có 509 vụ khiếu nại, 19 vụ tố cáo. Khiếu nại về đất đai
là 422 vụ việc (chiếm 79,9%), trong đó bồi thường GPMB, dự án thu hồi đất là
217 vụ việc, chiếm 51% (Trần Quốc Toản, 2013).
2.1.2.5. Một số yếu tố liên quan
- Yếu tố từ phía nhà đầu tư: Một số nhà đầu tư theo quy định phải ứng trước
kinh phí để chi trả bồi thường, hỗ trợ người dân có đất bị thu hồi, nhưng do năng
lực tài chính hạn chế nên không đáp ứng kịp thời nguồn để chi trả bồi thường, hỗ
trợ. Ngoài ra nhiều nhà đầu tư chậm tiến độ, đầu tư cầm chừng, đầu tư không