Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án đường yên lạc vĩnh yên, địa phận huyện yên lạc, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠ THỊ THANH NGA

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG DỰ ÁN
ĐƯỜNG YÊN LẠC - VĨNH YÊN, ĐỊA PHẬN
HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
Ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THẾ HÙNG

Thái Nguyên - 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠ THỊ THANH NGA

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG DỰ ÁN
ĐƯỜNG YÊN LẠC - VĨNH YÊN, ĐỊA PHẬN
HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
Ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 60 85 01 03


trường tỉnh Vĩnh Phúc, UBND huyện Yên Lạc, Phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện Yên Lạc; Ban Bồi thường GPMB và PTQĐ huyện Yên Lạc, các anh chị em
và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của
gia đình và người thân.
Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Thái Nguyên, ngày

tháng

Tác giả luận văn

Tạ Thị Thanh Nga

năm 2014


iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ............................................................................... 2
3. Yêu cầu của đề tài................................................................................ 3
4. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................. 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................... 4
1.1. Khái quát về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ................. 4
1.1.1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư................................. 4
1.1.2. Đặc điểm của quá trình giải phóng mặt bằng ................................ 4

2.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................ 38
2.3.1. Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu thông tin.............. 38
2.3.2. Phương pháp thống kê phân tích, xử lý số liệu............................ 39
2.3.3. Phương pháp chuyên gia............................................................. 39
2.3.4. Phương pháp kế thừa các tài liệu liên quan ................................. 39
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ....................... 40
3.1. Công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi Nhà nước
thu hồi đất tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ........................................ 40
3.1.1. Kết quả thực hiện..........................................................................40
3.1.2. Những vấn đề tồn tại, vướng mắc.................................................41
3.2. Khái quát chung về dự án đường Yên Lạc - Vĩnh Yên ................. 42
3.2.1. Sơ lược về dự án............................................................................42
3.2.2. Căn cứ pháp lý về dự án................................................................44
3.3. Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng
và tái định cư của dự án đường Yên Lạc - Vĩnh Yên, địa phận huyện Yên
Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc................................................................................47
3.3.1. Xác định điều kiện và đối tượng bồi thường, hỗ trợ.....................47


v

3.3.2. Đánh giá kết quả bồi thường, hỗ trợ về đất và các tài sản gắn liền
với đất..............................................................................................................50
3.3.3. Đánh giá việc thực hiện chính sách hỗ trợ và chi phí lập, thẩm
định phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư........54
3.3.4. Chính sách về tái định cư............................................................ 56
3.3.5. Chính sách về đất dịch vụ ........................................................... 59
3.3.6. Đánh giá của những người trực tiếp làm công tác bồi thường, hỗ
trợ giải phóng của dự án ............................................................................... 61
3.4. Đánh giá tác động công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng

: Giải phóng mặt bằng

NĐ-CP

: Nghị định - Chính phủ

PTQĐ

: Phát triển quỹ đất

QĐ-CT

: Quyết định - Chủ tịch

QSDĐ

: Quyền sử dụng đất

QĐ-UBND : Quyết định -Ủy ban nhân dân
TĐC

: Tái định cư

UBND

: Ủy ban nhân dân


vii


thực hiện đúng tiến độ, thì công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái
định cư đóng một vai trò hết sức quan trọng và mang tính quyết định. Trong những
năm qua việc bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư được thực hiện
theo các quy định như: Luật Đất đai 2003, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày
03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ
sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ
sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Tuy nhiên công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng là một vấn đề nhạy
cảm, phức tạp, còn nhiều nội dung cần phân tích, đánh giá có cơ sở khoa học thông
qua việc khảo sát thực tế, điều tra xã hội học để bổ sung sửa đổi hoàn thiện chính
sách này đảm bảo lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, người bị thu hồi đất, duy
trì trật tự kỷ cương pháp luật, hạn chế tối đa những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về
đất đai của nhân dân trong công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi Nhà
nước thu hồi đất.
Trong những năm gần đây, trên địa bàn huyện Yên Lạc có nhiều dự án thực hiện
thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư như: Dự án nâng cấp
đê tả sông Hồng kết hợp đường giao thông, cụm công nghiệp làng nghề xã Đồng Văn,


2

Khu nhà ở dịch vụ xã Đồng Văn, cải tạo nâng cấp kéo dài kênh N1-1 hệ thống tưới vùng
bãi… trong đó có dự án đường Yên Lạc - Vĩnh Yên, đây là dự án trọng điểm, tuyến
đường giao thông quan trọng giữa huyện Yên Lạc và thành phố Vĩnh Yên. Trong
quá trình thực hiện dự án, bắt đầu từ năm 2009 đến năm 2013, mặc dù được sự quan
tâm của UBND tỉnh Vĩnh Phúc, UBND huyện Yên Lạc, UBND thành phố Vĩnh

quyền để sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến cơ chế chính sách của Đảng
và Nhà nước trong công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự
án cho phù hợp với thực tế của đất nước và địa phương.
3. Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững Luật Đất đai 2003, các nghị định, thông tư có liên quan đến
công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư cho người dân bị
thu hồi đất thực hiện dự án.
- Nắm chắc các quyết định, các văn bản khác có liên quan đến công tác bồi
thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư của Nhà nước, của địa phương.
- Nguồn số liệu, tài liệu, khảo sát, điều tra phải đảm bảo tính trung thực, chính
xác, phản ánh đúng hiện trạng và tình hình thực tế của dự án đã lựa chọn để nghiên
cứu. Các số liệu điều tra thu thập phải phân tích, đánh giá một cách khách quan
khoa học.
- Đánh giá được những tồn tại, khó khăn do nguyên nhân từ đâu? để đưa ra
những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn và đẩy nhanh tiến độ thực hiện
công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư áp dụng trên địa bàn
nghiên cứu.
4. Ý nghĩa của đề tài
- Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng có
ý nghĩa rất thiết thực góp phần tìm ra biện pháp nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề
bất cập của người dân ở trên địa bàn nghiên cứu nói riêng và các địa phương khác
có điều kiện tương tự.
- Kết quả nghiên cứu làm cơ sở thực tiễn góp phần thực hiện tốt hơn chính
sách về bồi thường của Nhà nước, đảm bảo lợi ích của người dân có đất bị thu hồi.


4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác
nhau với điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội trình độ dân trí nhất định. Đối với khu
vực nội thành, mức độ tập trung dân cao, ngành nghề của dân cư đa dạng, giá trị
đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình GPMB có đặc trưng nhất định. Đối
với khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao ngành nghề dân cư phức tạp,
hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn
bán nhỏ v.v... quá trình GPMB cũng có đặc trưng riêng của nó. Đối với khu vực
ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp. Do
đó GPMB cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt [15]
- Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế - xã hội, đối với mọi người dân. Ở khu vực nông thôn dân cư
sống chủ yếu nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản
xuất trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề
nghiệp khó khăn, do đó tâm lí dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm
chí họ cho thuê đất còn thu được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không
cho thuê. Trước tình hình đó đã dẫn đến công tác tuyên truyền vận động dân cư
tham gia di chuyển là rất khó khăn. Việc hỗ trợ nghề nghiệp là điều cần thiết để
đảm bảo đời sống dân cư sau này. Mặt khác cây trồng, vật nuôi trên vùng đất đó
cũng đa dạng không được tập trung một loại cây trồng vật nuôi nhất định nên gây
khó khăn cho công tác định giá bồi thường [15]
1.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
1.1.3.1. Việc ban hành các văn bản và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật về đất đai
Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 ra đời, Chính phủ đã ba lần
trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai năm 1998, 2001
và 2003 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Theo đó, chính
sách bồi thường, GPMB cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa
đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai. Với những đổi mới về pháp luật đất
đai, đã cơ bản đáp ứng được tính ổn định, thống nhất của pháp luật đất đai qua các


quả nhất, đúng chức năng nhất [13] [23].


7

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường
GPMB trên hai phương diện:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất
để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy
định của Luật Đất đai năm 2003, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi
có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng [11] [8].
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới
giá chuyển nhượng QSDĐ, từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường [11] [8].
1.1.3.3. Công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu, quyền sử dụng. Ở nước ta, theo quy định của Luật đất đai, người sử
dụng đất phải đăng ký QSDĐ tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xét
duyệt lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Hệ thống hồ sơ địa chính và
giấy chứng nhận QSDĐ có liên quan mật thiết với công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC
và là một trong những yếu tố quyết định khi xác định nguồn gốc sử dụng đất, đối
tượng, mức bồi thường hỗ trợ.
Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt công
tác đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ vẫn chưa
hoàn tất. Chính vì vậy mà công tác bồi thường GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn.
Đến nay, cả nước đã đo đạc, lập bản đồ địa chính đạt 74,9% tổng diện tích tự
nhiên và đã cấp giấy chứng nhận QDSĐ nông nghiệp đạt 85% tổng diện tích, đất ở
nông thôn đạt 82,1% diện tích, đất ở đô thị đạt 63,5%[4].
1.1.3.4. Công tác giao đất, cho thuê đất
Nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi thường
GPMB và TĐC. Nguyên tắc giao đất, cho thuê đất, phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với
giá thị trường trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là
giá đất cho các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó,
dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện. Kết quả
kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2003 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy
trong 17.480 đơn tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới 12.348 trường hợp là
khiếu nại về bồi thường GPMB chiếm 70,64%. Trong các trường hợp khiếu nại về bồi
thường, GPMB thì có tới 70% là khiếu nại về giá đất nông nghiệp bồi thường quá thấp


9

so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường hoặc giá đất ở được giao tại nơi
TĐC lại quá cao so với giá đất ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi [14]
Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường GPMB không được làm tốt
sẽ làm cho công tác GPMB ách tắc, dẫn tới không có mặt bằng đầu tư, làm chậm
tiến độ triển khai dự án hoặc làm lỡ cơ hội đầu tư.
1.1.3.6. Thị trường bất động sản
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta, thị trường bất động sản
ngày càng được hình thành và phát triển. Việc hình thành và phát triển thị trường
bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư
(do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên
thị trường); đồng thời người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc cho thuê đất đai,
nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách TĐC
và bồi thường.
1.2. Cơ sở khoa học của đề tài
1.2.1. Cơ sở lý luận công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng
Công tác GPMB góp phần cải thiện môi trường đầu tư, khai thác các nguồn
lực từ đất đai cho đầu tư phát triển. Cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội ở nước ta thời gian
qua đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư khắp các vùng, miền trên cả nước,

và tổ chức cho công tác bồi thường GPMB. Sự ra đời Nghị định số 197/2004/NĐ-CP
ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất;
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc
cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai và Nghị định số
69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng
đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC đã giúp thực hiện tốt hơn công tác bồi
thường, GPMB và TĐC khi thực hiện các công trình, dự án.
Nghiên cứu kỹ nội dung các văn bản pháp quy trên đây thấy rõ một điều là các
chính sách bồi thường GPMB đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh
tích cực để phù hợp với các biến động của tình hình quản lý sử dụng đất đai. Trên
thực tế đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát
triển, khuyến khích được đầu tư và cơ bản giữ được nguyên tắc công bằng. Tuy vậy,
nếu so với những yêu cầu mới thì vẫn còn một số vấn đề bất cập đó là:


11

- Việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vẫn mang phong cách "Huy
động thời chiến" phải đặt lợi ích xã hội, lợi ích công cộng lên trên hết, sẵn sàng hi
sinh lợi ích cá nhân nên việc bồi thường là tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, chưa có
tiêu chuẩn định mức rõ ràng và người bị ảnh hưởng sẵn sàng chịu đựng, còn Nhà
quản lý cũng xem là chuyện đương nhiên và đơn giản, trong nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung thì việc xử lý có điều kiện dễ dàng thực hiện hơn ngày nay trong nền kinh tế
thị trường yêu cầu rất cụ thể về công bằng xã hội, lợi ích chính đáng của cá nhân
được tôn trọng và khuyến khích phát huy đồng thời với lợi ích xã hội và lợi ích cộng
đồng, con người cụ thể vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Nên những
quy định đã có là chưa đầy đủ, xét về mặt xã hội là chưa đảm bảo được sự cân bằng
giữa lợi ích chung (Nhà nước, xã hội, cộng đồng) và lợi ích riêng (cá nhân, hộ gia
đình, tổ chức bị ảnh hưởng). Nghị định số 97/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của

- Hầu hết các dự án xây dựng nước ta đều ách tắc trong việc bồi thường
GPMB làm cho tiến độ thi công các công trình không đạt kế hoạch và thời gian.
Điều đó đã gây ra thiệt hại không nhỏ cho các nhà đầu tư xây dựng.
- Nhiều dự án chưa có khu TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở. Nhìn chung các địa
phương chưa coi trọng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu
TĐC đã được lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ.
- Nhiều nơi mặc dù việc bồi thường GPMB được thực hiện bằng các biện pháp
hành chính đã dẫn tới sự khiếu kiện của nhân dân kéo dài không thể giải quyết
được. Trong sự khiếu kiện đó cái chính vẫn là người dân không thoả mãn với sự bồi
thường của các chủ dự án hoặc sự định giá bồi thường thiếu công bằng, không sát
với giá thị trường ở thời điểm đó.
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua các quy định của pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ GPMB và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất đã ngày càng phù hợp hơn với yêu
cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế. Quan tâm tới lợi ích của
những người bị thu hồi đất Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 bãi bỏ
một số Điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP đã thể hiện được tính khả thi và vai
trò tích cực của các văn bản pháp luật trong công tác bồi thường GPMB. Qua đó tạo
điều kiện cho các dự án đầu tư thực hiện tốt công tác GPMB, góp phần không nhỏ
vào việc thu hút nguồn vốn đầu tư, tạo nguồn lực sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi
cho công tác quản lý hành chính Nhà nước về đất đai, chuyển đổi cơ cấu sản xuất,


13

phát triển đô thị, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao tạo
bước đà lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Theo báo cáo chưa đầy đủ của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sau
gần 7 năm triển khai thực hiện Luật Đất đai, tổng diện tích đất đã thu hồi là 728 nghìn
ha (trong đó có 536 nghìn ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình, cá nhân để sử
dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát

- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại
diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất được pháp luật
công nhận. Đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan
giữa giá đất thu hồi với giá đất TĐC.
- Chưa giải quyết tốt việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông
dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như
nơi ở cũ.
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất
với người có đất bị thu hồi. Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển
nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc khuyến
khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ánh gay gắt của những người có đất
bị thu hồi.
- Giá đất bồi thường, hỗ trợ nhìn chung chưa sát giá thị trường trong điều kiện
bình thường, trong nhiều trường hợp quá thấp so với giá đất cùng loại chuyển
nhượng thực tế, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị và liền kề
với khu dân cư. Tại vùng giáp ranh giữa các tỉnh và vùng giáp ranh giữa đô thị và
nông thôn còn chênh lệch quá lớn về giá đất bồi thường, hỗ trợ.
- Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để chuyển sang làm
ngành nghề khác. Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều
trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặc nhà ở mới
tại khu TĐC.
- Tại nhiều dự án, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, hỗ trợ,
TĐC để GPMB chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục từ khi công khai quy hoạch,
thông báo kế hoạch, quyết định thu hồi, v.v…
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc xây dựng công
trình công cộng nhưng một thời gian sau lại quyết định sử dụng vào mục đích xây
dựng nhà ở hoặc phân lô bán nền.


15



16

thể hóa các quy định đó bằng các Nghị định của Chính phủ...Theo các quy định mới
của hệ thống pháp luật, vấn đề con người được đặt lên trước hết khi Nhà nước thực
hiện thu hồi đất. Người sử dụng đất hợp pháp luôn được pháp luật bảo hộ kèm với
những chính sách cụ thể giúp người có đất bị thu hồi (đặc biệt là người nông dân)
có đủ khả năng tái tạo lại tư liệu sản xuất tương đương với giá trị QSDĐ bị thu hồi,
tài sản bị thiệt hại để phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống. Tuy nhiên cũng còn
nhiều bất cập từ phía các chủ thể, là một trong những nguyên nhân chính của tình
trạng khiếu kiện gia tăng trong lĩnh vực đất đai hiện nay. Hậu quả thu hồi đất thấp,
nhiều dự án bị chậm tiến độ do không giải phóng được mặt bằng là áp lực kìm hãm
phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương trong cả nước [34].
d) Tình hình đời sống việc làm của các hộ dân có đất bị thu hồi
Tình hình chung
Vấn đề đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi đang được khá nhiều cơ
quan, đơn vị quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu. Do tốc độ đô thị hoá nhanh cùng với
việc tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp và đô thị ở các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trong những năm gần đây nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã
phải chuyển sang để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các công trình
kết cấu hạ tầng kỹ thuật…Việc chuyển mục đích đối với đất nông nghiệp nêu trên đã
ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi.
Những tồn tại về lao động, việc làm do bị thu hồi đất sản xuất. Những năm gần
đây, trong tổng số lao động bị mất đất sản xuất khu vực nông thôn, cả nước có
khoảng 280.000 người di cư từ nông thôn đến các đô thị để tìm kiếm việc làm. Tuy
nhiên, so với ít nhất 7 triệu lao động ở nông thôn hiện có đất canh tác do bị thu hồi
đất phục vụ cho các công trình, dự án đầu tư trong và ngoài nước trong tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện họ đang rất cần công ăn việc làm. Con số này
chưa tính đến 85 vạn người bổ sung cho lực lượng lao động sản xuất nông nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status