nghiên cứu hoạt động quản lý hoá đơn tự in tại chi cục thuế thành phố bắc giang - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HOÁ ĐƠN TỰ IN
TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015

2


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế với đề tài: "Nghiên cứu hoạt động
quản lý hóa đơn tự in tại Chi cục Thuế thành Phố Bắc Giang".
Tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các Thầy, Cô giáo Khoa
Kinh tế & phát triển nông thôn, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam. Đã tận tình
dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình, biểu đồ và sơ đồ x
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Đối tượng khảo sát 3
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Đặc điểm, hình thức, loại hoá đơn 7
2.1.3 Vai trò của công tác quản lý hóa đơn tự in 9
2.1.4 Ý nghĩa, sự cần thiết của việc sử dụng hoá đơn tự in 10
2.1.5 Điều kiện tạo hoá đơn tự in: 14
2.1.6 Yêu cầu đối với công tác quản lý hóa đơn tự in 14
2.1.7 Nội dung trong công tác quản lý hoá đơn tự in 16
2.1.8 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hóa đơn tự in 23
2.1.9 Ưu điểm và nhược điểm của hóa đơn tự in, phần mềm hóa đơn tự in 24
2.2 Cơ sở thực tiễn 27
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

4.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động hoá đơn tự in
của Chi cục thuế TP Bắc Giang 70
4.5.1 Nguyên nhân khách quan: 70
4.5.2 Nguyên nhân chủ quan: 74
4.5.3 Những vấn đề tồn tại đối với hoá đơn tự in 76
4.6 Giải pháp quản lý hóa đơn tự in tại Chi cục thuế TP Bắc Giang 77
4.6.1 Định hướng quản lý thu thuế của Chi cục thuế TP Bắc Giang 77
4.6.2 Quan điểm đề xuất giải pháp quản lý hóa đơn tự in 79
4.6.3 Giải pháp quản lý hóa đơn tự in tại Chi cục thuế TP Bắc Giang 80
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
5.1 Kết luận 91
5.2 Kiến nghị 93
5.2.1. Kiến nghị đối với Nhà nước và Ngành thuế 93
5.2.2. Đối với Chi cục thuế TP Bắc Giang 94
5.2.3 Đối với các doanh nghiệp 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 92

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Giải nghĩa

3.6 Đối tượng và nội dụng điều tra 43
3.7 Số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng 44
4.1 Tình hình biến động các doanh nghiệp ở thành phố Bắc Giang, giai
đoạn 2012-2014 47
4.2 Sự lựa chọn phương thức sử dụng hóa đơn 48
4.3 Doanh nghiệp bỏ trốn và nợ đọng tiền thuế qua 3 năm 51
4.4 Tình hình xử lý tổn thất hoá đơn tại Chi cục thuế TP Bắc Giang 54
4.5 Số vụ vi phạm và xử lý hóa đơn của các doanh nghiệp tại Chi cục
thuế TP Bắc Giang khi chưa có NĐ 51 56
4.6 Danh sách các cơ sở in hóa đơn trên địa bàn thành phố Bắc Giang 57
4.7 Hoạt động quản lý hóa đơn tự in đến 31/12/2014 58
4.8 Quá trình triển khai hình thức hóa đơn tự in 59
4.9 Kết quả tiếp nhận thông báo phát hành hoá đơn tự in 60
4.10 Hoạt động quản lý hóa đơn tự in tích luỹ đến năm 2014 61
4.11 Kết quả xác minh hóa đơn tự in tích lũy năm 2014 của Chi cục thuế
TP Bắc Giang 67
4.12 Kết quả đánh giá của cán bộ Chi cục thuế TP Bắc Giang 69
4.13 Kết quả đánh giá của người nộp thuế về hoá đơn tự in 70
4.14 Số lượng doanh nghiệp hoạt động/ Số DN mới thành lập 71
4.15 Hình thức thanh toán khi mua hàng của các đối tượng 72
4.16 Số lượng doanh nghiệp phải chuyển đổi do chính sách 74
4.17 Nguồn lực cán bộ tại các Đội thuế 75
4.18 Chương trình đào tạo cán bộ, công chức Chi cục Thuế TP Bắc
Giang năm 2015 80
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix



PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển. Để đáp ứng các
yêu cầu của hội nhập, thông lệ quốc tế, tiến tới phù hợp với các luật mới hoặc
thay thế luật cũ như Luật Doanh nghiệp, Luật Kế toán, và Luật Giao dịch điện tử
thì việc cải cách các thủ tục hành chính hiện nay đồng thời quy định rõ hơn
quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên có liên quan trong vấn đề in, phát
hành và sử dụng hóa đơn là hết sức cần thiết.
Thuế là khoản thu không hoàn trả trực tiếp và liên quan đến lợi ích trực tiếp
của người nộp thuế nên trong thực tế có nhiều cá nhân, tổ chức vẫn còn chây ỳ
nộp thuế, chiếm dụng tiền thuế, thậm chí có một số tổ chức, cá nhân trốn thuế,
gian lận thuế. Hành vi trốn thuế, gian lận thuế chủ yếu là thông qua việc mua,
bán hóa đơn khống (hóa đơn không kèm theo hàng hóa) để thực hiện việc kê khai
khấu trừ thuế giá trị gia tăng và tăng chi phí dẫn đến làm thất thu ngân sách Nhà
nước. Chính vì vậy, quản lý hóa đơn là một vấn đề rất cần thiết của quản lý thuế.
Đây là vấn đề quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của
người nộp thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời cho Ngân sách nhà nước
nhằm chống gian lận thuế, đảm bảo công bằng trong việc chấp hành nghĩa vụ
thuế của người nộp thuế.
Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý và cải tiến chính sách thuế cho
phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế. Đồng thời nhằm thực hiện tốt cải cách
hành chính, tạo thuận lợi đối với doanh nghiệp và người dân trong việc quản lý
và sự dụng hoá đơn, ngày 14 tháng 5 năm 2010 Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 51/2010/NĐ-CP quy định về hoá đơn bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ,
thay thế Nghị định số 89/2002/NĐ-CP trước đây và có hiệu lực từ ngày
01/01/2011. Đây là Nghị định có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc chuyển


1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu hoạt động quản lý hóa đơn tự in tại Chi cục Thuế thành Phố
Bắc Giang nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

tác này.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hóa đơn tự in trong hệ
thống quản lý thuế.
- Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý hóa đơn tự in tại Chi cục thuế TP
Bắc Giang.
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định trong quản lý về in, phát
hành, sử dụng hóa đơn tự in tại Chi cục thuế TP Bắc Giang
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý hóa đơn tự in tại cơ quan thuế.
1.3.2 Đối tượng khảo sát
Các đơn vị phát hành và sử dụng hóa đơn tự in.
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Quản lý hóa đơn tự in đối với các đơn vị phát hành
và sử dụng hóa đơn tự in.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Chi cục thuế TP Bắc Giang, các đơn
vị thuộc quyền quản lý của Chi cục thuế TP Bắc Giang
- Phạm vi thời gian:
+ Thông tin số liệu liên quan đến các quy định thực hiện Nghị đinh

Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành
vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động. Tiếp theo cần có mục đích
của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt
động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó
cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích
quản lý: quản lý vì cái gì?
Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên
hoạt động quản lý. Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng
không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều
kiện nhất định nào đó.
Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

bản sau cấu thành:
- Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý?
- Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?
- Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì?
- Môi trường và điều kiện tổ chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào?
Có thể đưa ra kết luận rằng: Quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm, nó
là sự kết hợp của 3 phương diện: thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích
cực của cá nhân. Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu
thuẫn giữa hai bên. Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ
để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác
tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể.
2.1.1.2 Khái niệm hóa đơn
Trong các quan hệ mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, thanh toán, quyết

ngày, tên khách hàng, tên người bán, sổ lượng, giá, trọng ỉượng và các điều
khoản tín dụng của giao dịch”(Nguyễn Văn Dung, 2010)
Dưới góc độ kế toán - kinh tế, hóa đơn là một chứng từ kế toán, nó là một
loại giấy tờ phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm
căn cứ ghi số kế toán.
Trong hoạt động thanh toán quốc tế không có định nghĩa như thế nào là hóa
đơn nhưng chúng ta có định nghĩa “hóa đơn thương mại” trong thanh toán quốc
tế, theo đó “hóa đơn thương mại (commercial invoice) là chứng từ do người bán
lập, yêu cầu người mua thanh toán giá trị hàng hóa, dịch vụ đã được cung cấp”.
Hóa đơn thương mại được xem là chứng từ trung tâm, và được lập thành nhiều
bản sử dụng cho các mục đích khác nhau (Trầm Thị Xuân Hương, 2008)
Tóm lại, hóa đơn là một loại chứng từ do bên bán lập ra nhằm ghi nhận
những thông tin (chẳng hạn như: khối lượng hàng hóa, giá trị thanh toán, người
bán, người mua ), về hàng hóa, dịch vụ để cung cấp cho bên mua, và việc lập
hóa đơn chịu sự điều chỉnh theo quy định của luật.
2.1.1.3 Quy định chung về quản lý hóa đơn
- Theo quyết định số 2423/QĐ-TCT ngày 23/11/2010 của Tổng cục
trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình Quản lý Hoá đơn, Quy trình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

quản lý hoá đơn được áp dụng thống nhất trong cơ quan Thuế các cấp (Tổng cục
Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế). Các quy định cụ thể đối với các bộ phận và nội
dung quản lý hóa đơn, gồm:
- Quy định các bộ phận trong cơ quan Thuế tham gia thực hiện Quy trình
quản lý thuế, gồm:
(1) Bộ phận Ấn chỉ, Tài vụ, Hành chính;

ký tự đầu để phân biệt các ký hiệu hóa đơn, ký tự phân biệt là hai chữ cái trong
20 chữ cái tiếng Việt in hoa bao gồm: A, B, C, D, E, G, H, K, L, M, N, P, Q, R,
S, T, U, V, X, Y; 3 ký tự cuối cùng để thể hiện năm thông báo phát hành hóa đơn
và hình thức hóa đơn. Năm thông báo phát hành hóa đơn được thể hiện bằng hai
số cuối năm thông báo phát hành;
Ký hiệu của hình thức hóa đơn: sử dụng 3 ký hiệu
E: Hóa đơn điện tử, T: Hóa đơn tự in, P: Hóa đơn đặt in; Giữa hai phần
được phân cách bằng dấu gạch (/).
Ví dụ:
AA/11E: Trong đó AA là ký hiệu hóa đơn; 11 hóa đơn phát hành năm
2011; E là ký hiệu hóa đơn điện tử;
AB/11T: Trong đó AB là ký hiệu hóa đơn; 11 hóa đơn phát hành năm 2011;
T là ký hiệu hóa đơn tự in;
AA/11P: Trong đó AA là ký hiệu hóa đơn; 11 hóa đơn phát hành năm 2011;
P là ký hiệu hóa đơn đặt in.
Mỗi hoá đơn phải có từ hai liên trở lên, tối đa không quá 9 liên, trong đó 2
liên bắt buộc: Liên 1 lưu, liên 2 giao cho khách hàng. Số hoá đơn phải in theo số
tự nhiên liên tục, tối đa không quá 7 chữ số cho một ký hiệu hoá đơn in, phát
hành (trừ trường hợp đặc biệt phải có công văn báo cáo xin phép cơ quan thuế).
2.1.2.2 Hình thức hóa đơn
Theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về
hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, quy định các loại hóa đơn gồm:
- Hoá đơn tự in là hóa đơn do các tổ chức kinh doanh tự in ra trên các thiết bị
tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng hóa, dịch vụ;
- Hoá đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa,
dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định tại Luật
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

khai nộp thuế đúng, nộp đủ thì không ít những trường hợp tổ chức, cá nhân có
hiện tượng hợp thức hóa chi phí, trốn doanh thu để gian lận thuế. Tuy nhiên cơ
quan thuế đã thực hiện nhiều biện pháp để quản lý nhưng do nhiều nguyên nhân
khách quan khác nhau như các biện pháp còn chưa thực sự phù hợp, chế tài chưa
đủ mạnh nên tình trạng sử dụng hóa đơn không hợp pháp vần thường xuyên xảy
ra, gây ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, bình đẳng giữa các đối tượng
nộp thuế, giữa các thành phần kinh tế. Chính vì vậy, việc quản lý tốt hóa đơn tự
in đóng vai trò quan trọng trong quá trình chống thất thu NSNN, đảm bảo sự
công bằng trong nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, góp phần thực hiện thu đúng
thu đủ, kịp thời vào NSNN.
Thứ ba, quản lý tốt hóa đơn tự in góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm
của người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế, góp phần làm giảm thiểu
tình trạng gian lận, trốn thuế.
2.1.4 Ý nghĩa, sự cần thiết của việc sử dụng hoá đơn tự in
2.1.4.1 Ý nghĩa
Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 05 năm 2010 của Chính phủ
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc chuyển đổi phương thức quản lý hóa
đơn bán hàng đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cơ quan thuế, là bước
tiến dài trong việc cải cách thủ tục hành chính thuế. Theo đó, các DN hoàn toàn
chủ động tự in, đặt hóa đơn và thiết kế mẫu. Đây có thể xem là một điểm ‘mở” vì
các DN có thể đưa thêm thông tin của mình lên trên mặt hóa đơn để quảng bá
cho DN.
Đặc biệt, điểm quan trọng nhất của Nghị định là trao quyền tự chủ cho
doanh nghiệp trong việc sử dụng hóa đơn khi cơ quan thuế không còn bán hóa

doanh nghiệp sử dụng hóa đơn tự in. Tăng cường quản lý hoá đơn để quản lý
doanh thu, quản lý thu thuế hạn chế việc gian lận thuế qua hóa đơn.
2.1.4.2 Sự cần thiết của công tác quản lý hoá đơn tự in
a. Về phía Nhà nước
Trong công tác quản lý thuế, chúng ta không những phải thực sự hoàn thiện
hơn nữa chính sách thuế và bộ máy ngành thuế, nhằm mục đích duy nhất là nâng
cao nguồn thu cho NSNN, công việc đó đòi hỏi ngành thuế cần phải thực sự cố
gắng nỗ lực hơn trong tất cả các khâu của quá trình thu, hơn thế nữa càng cần
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

phải chú ý hơn nữa vào khâu đầu tiên của quá trình thu, đó chính là khâu tổ chức
quản lý sử dụng hoá đơn.
Ngay từ những năm còn tồn tại cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà
nước ta đã đặt vấn đề xây dựng, thiết lập các chế tài trong việc lập hoá đơn chứng
từ thuế khi mua, bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ. Nhận thấy rõ vai trò quan
trọng của hoá đơn trong công tác quản lý thuế, nên ngay từ cuộc cải cách thuế
bước một, việc quản lý sử dụng hoá đơn đã được Nhà nước ta đặc biệt chú ý,
điều đó thể hiện qua việc ban hành ra rất nhiều điều qui định về việc sử dụng hoá
đơn thuế trong hai luật thuế là Luật thuế doanh thu và Luật thuế lợi tức.
Trong giai đoạn cải cách thuế bước hai, hai luật thuế trên đã lần lượt được
thay thế bằng hai luật thuế khác đó là Thuế GTGT và Thuế TNDN, trong nội
dung của hai luật thuế này cũng đã có rất nhiều điều đề cập tới việc sử dụng hoá
đơn, chứng từ thuế (trong luật thuế GTGT có 6/30 điều đề cập tới hoá đơn, còn
trong luật thuế TNDN có 7/34 điều đề cập tới hoá đơn thuế). Bên cạnh đó Bộ Tài
Chính cũng phát hành thống nhất 02 loại hóa đơn GTGT để thực hiện luật thuế
GTGT đó là: hoá đơn GTGT ký hiệu 01 GTKT (được áp dụng đối với các đơn vị

hành sản xuất kinh doanh mà chỉ để mua bán hoá đơn trái phép, nhằm trục lợi bất
chính, trốn thuế và chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước. Hầu hết các biểu hiện ở
đây chính là việc các doanh nghiệp sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để hợp thức
hoá đầu vào, để được khấu trừ thuế… những hành động như vậy không những
làm thất thu cho Ngân sách Nhà nước, mà còn tạo điều kiện cho các hành vi buôn
lậu, tham nhũng có điều kiện phát triển hơn.
Bên cạnh đó không ít những doanh nghiệp vì ý đồ lợi dụng mà kê khai
không trung thực thuế GTGT đầu vào và đầu ra, nhằm mục đích được hoàn thuế,
việc mua bán không sử dụng hoá đơn, hoặc kê khai doanh thu trong hoá đơn nhỏ
hơn giá trị thực của hàng hoá cũng tồn tại rất nhiều, điều này đã thực sự gây
nhiều khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế.
Cùng với điều đó còn tồn tại khá nhiều doanh nghiệp trên cả nước sử dụng
những tấm hoá đơn giả, hoá đơn trái qui định, hoá đơn bất hợp pháp… và chúng
được sử dụng ngày càng tinh vi hơn, điều này cũng gây ra không ít khó khăn cho
sự quản lý của ngành thuế.
Thông qua những sự việc như vậy đòi hỏi ngành thuế phải xử lý một cách
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

thực sự linh hoạt, nhạy bén và chính xác, bởi nếu không nó sẽ thực sự gây ra
những hậu quả rất lớn cho công tác thu thuế cho NSNN.
Từ những lý do nêu trên ta có thể thấy một điều rằng, công tác quản lý sử dụng
hoá đơn thuế thực sự cần thiết, nó tạo điều kiện nâng cao hiệu quả thu cho NSNN,
tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
2.1.5 Điều kiện tạo hoá đơn tự in
2.1.5.1 Điều kiện được tạo hóa đơn tự in
Tổ chức kinh doanh đang hoạt động được tự in hoá đơn để sử dụng cho việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status