LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kì một công trình khác.
Đồng Hới, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Oanh
KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Kí hiệu Chú giải
SGK Sách giáo khoa
NXB Nhà xuất bản
[19;tr.13] Trích dẫn từ tài liệu tham khảo 19,
trang 13
2.1.1.1. Nhân vật là vị thần 17
2.1.1.2. Nhân vật anh hùng chinh phục tự nhiên, lao động và sáng tạo văn hóa
20
2.1.2. Cốt truyện 21
2.2. Đặc trưng về truyện truyền thuyết trong chương trình Tiểu học 22
2.2.1. Nhân vật 22
2.2.1.1. Nhân vật là anh hùng lịch sử 22
2.2.1.2. Nhân vật khởi nguyên và anh hùng văn hóa 24
2.2.2. Cốt truyện 27
2.2.3. Ngôn ngữ 29
2.3. Đặc trưng về truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học 30
2.3.1. Nhân vật 30
2.3.1.1 Nhân vật trong truyện cổ tích thần kì 30
2.3.1.2. Nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt (thế sự) 33
2.3.1.3. Nhân vật trong truyện cổ tích loài vật 35
2.3.2. Kết cấu 39
2.3.2.1. Kết cấu của truyện cổ tích thần kì 39
2.3.2.2. Kết cấu của truyện cổ tích sinh hoạt (thế sự) 41
2.3.2.3. Kết cấu của truyện cổ tích loài vật 42
2.3.3. Ngôn ngữ 43
CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG VỀ TRUYỆN CƯỜI, TRUYỆN NGỤ NGÔN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC
3.1. Đặc trưng về truyện cười trong chương trình Tiểu học 47
3.1.1. Nhân vật 47
3.1.1.1. Nhân vật là trẻ em 47
3.1.1.2. Các nhân vật khác 49
3.1.2. Kết cấu 51
3.1.2.1. Kết cấu “tiệm tiến” 52
3.1.2.2. Kết cấu “gói kín, mở nhanh” 52
nghệ thuật truyền miệng do con người sáng tạo ra khi tham gia sinh hoạt tập
thể nhằm biểu đạt, ghi lại những tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm về
cuộc sống, xã hội, thiên nhiên và vũ trụ. Văn học dân gian chính là bộ “Bách
khoa toàn thư” vĩ đại, là nơi kết tinh rực rỡ những tri thức, tài năng nghệ
thuật, tinh hoa văn hóa của dân tộc. Do vậy, đối với nhân dân ở tất cả các thời
đã qua, văn học dân gian là nơi họ có thể tìm được những kinh nghiệm thực
tiễn để vận dụng vào cuộc sống hằng ngày. Không những thế, đối với chúng
ta ngày nay “Văn học dân gian giúp chúng ta nhận thức một cách đúng đắn,
toàn diện lịch sử của nhân dân mình, dân tộc mình trong quá khứ, để từ đó
hiểu được nhân dân mình, dân tộc mình trong giai đoạn cách mạng hiện tại”
[21;tr.15].
Nói đến văn học dân gian cùng những giá trị vĩnh hằng của nó, ta
không thể không nhắc đến truyện dân gian. Truyện dân gian là một bộ phận
của văn học dân gian Việt Nam. Những câu chuyện bình dân, gần gũi nhưng
có sức thu hút, sức hấp dẫn lớn đối với mọi tầng lớp, đặc biệt là thiếu nhi.
Thưởng thức truyện dân gian là nhu cầu giải trí hàng đầu của các em. Đến với
truyện dân gian các em không chỉ được thỏa mãn nhu cầu giải trí của mình
mà còn được giáo dục về phẩm chất, về nhân cách, được bồi dưỡng những
tình cảm thẩm mĩ… Trẻ em vốn ưa tưởng tượng, thích ước mơ, sống với thế
giới nhiều xúc cảm mãnh liệt. Truyện dân gian lại là thế giới của ước mơ,
tưởng tượng, vì vậy, một số thể loại truyện dân gian đã trở thành món quà
tặng đầy yêu thương của người xưa dành cho các em.
Đáp ứng nhu cầu thưởng thức truyện dân gian của các em nhỏ, hàng
năm nhiều nhà xuất bản đã cho ra đời các truyện dân gian với số lượng đồ sộ.
Xuất phát từ những giá trị giáo dục và dạy học to lớn tiềm tàng trong truyện
dân gian, các nhà biên soạn cũng đã chọn lọc, đưa nhiều truyện dân gian vào
chương trình Tiểu học. Thế nhưng trên thực tế, nhiều giáo viên chưa chú
trọng đến việc giúp các em khám phá những giá trị đặc trưng của các thể loại
truyện dân gian, hiểu đúng đặc trưng thể loại là vô cùng cần thiết khi phân
tích tác phẩm văn học.
cho rằng “Những đặc trưng thể loại phải được coi như một chỉnh thể. Chính
chỉnh thể này chứ không phải những đặc trưng xét riêng rẻ, tạo nên diện mạo
xác định của thể loại và biến thái của nó, tạo nên mối liên hệ giữa các thể loại.
Mỗi thể loại văn học dân gian có cách nói riêng của nó. Thi pháp thể loại
chính là cách nói riêng ấy. Vì thế, có nắm được thi pháp thể loại mới có khả
năng “giải mã” được các tác phẩm thuộc thể loại” [3;tr.3].
3
Nhà nghiên cứu Cao Đức Tiến cũng đã khái quát đặc trưng các loại
truyện cổ dân gian, đó là thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ngụ ngôn,
truyện cười trong cuốn giáo trình “Văn học” tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu
học. Trong đó, tác giả đã bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình trước từng thể
loại truyện dân gian.
Bên cạnh đó cũng có các công trình đã nghiên cứu chuyên sâu từng thể
loại truyện dân gian. Nghiên cứu “Đặc trưng truyện ngụ ngôn trong chương
trình Tiếng Việt Tiểu học” là công trình của Lê Thị Mỹ Huệ. Trong đó, tác
giả đã nói đến truyện ngụ ngôn với các đặc điểm về nhân vật, kết cấu và lời
kể. Trong cuốn khóa luận “So sánh truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn trong
chương trình Tiếng Việt Tiểu học từ gốc nhìn thi pháp” của Phạm Thị Vân,
tác giả đã chỉ ra được những nét đặc sắc của hai thể loại, đồng thời đi sâu vào
nhiều khía cạnh khác nhau của truyện cổ tích và truyện ngụ ngôn, xét trên
bình diện về thi pháp học. Đây cũng là cơ sở cần thiết cho người viết trong
việc nghiên cứu đề tài.
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về một số phương diện đặc
điểm của truyện dân gian như “Giáo trình văn học dân gian” của Phạm Thu
Yến, Lê Trường Phát, Nguyễn Bích Hà; “Giáo trình văn học dân gian Việt
Nam” của Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn…
Trong các giáo trình này, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến định nghĩa, nguồn
gốc ra đời, phân loại và một vài đặc trưng của từng thể loại truyện dân gian.
quát lại và đưa ra kết luận chung.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Dùng để thống kê, phân loại và xác
định tần số xuất hiện của truyện thần thoại, truyện truyền thuyết, truyện cổ tích,
truyện ngụ ngôn, truyện cười trong chương trình Tiểu học. Từ đó, xác định vị trí
và tầm quan trọng của các thể loại truyện dân gian trong chương trình.
- Phương pháp so sánh: Dùng để thấy được điểm chung và điểm khác
biệt của từng thể loại truyện dân gian. Từ đó, làm nổi bật các đặc trưng cơ bản
của các thể loại.
5. Đóng góp của đề tài
- Về lí luận: Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm chỉ ra những đặc trưng của
các thể loại truyện dân gian, qua đó thấy được đặc sắc của từng thể loại bằng
việc tìm hiểu các tác phẩm truyện cụ thể trong chương trình Tiểu học.
- Về thực tiễn: Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu cần
thiết giúp giáo viên hiểu đúng các thể loại được giới thiệu trong chương trình
Tiểu học và hoàn thiện thao tác phân tích tác phẩm nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học truyện dân gian trong chương trình Tiểu học.
5
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về truyện dân gian và truyện dân gian trong
chương trình Tiểu học.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN DÂN GIAN VÀ
TRUYỆN DÂN GIAN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC
1.1. Khái quát về truyện dân gian
1.1.1. Khái niệm
Truyện dân gian thường là văn xuôi nhưng cũng có khi là văn vần được
lưu truyền bằng hình thức truyền miệng. Là sáng tác nghệ thuật của nhân dân,
truyện dân gian phản ánh đời sống và thế giới tinh thần, tình cảm của nhân
dân theo quan điểm của họ. Đó là toàn bộ sinh hoạt nhân dân, là cuộc sống
lao động và quan hệ gia đình của họ, là những sự kiện những vấn đề thiết yếu
đối với nhân dân, là cuộc đấu tranh của nhân dân chống áp bức, chống ngoại
xâm. Sinh hoạt nhân dân là mảnh đất nảy sinh, là nguồn nuôi dưỡng, là nhân
tố kích thích sự sáng tạo vốn có tính chất tự phát của truyện dân gian. Nhân
vật trung tâm của các thể loại truyện dân gian chính là bản thân nhân dân, bắt
nguồn từ những nguyên mẫu có thực trong cuộc sống mà khái quát lên thành
nhân vật văn học. Qua việc phản ánh đời sống nhân dân, đề cập đến những
vấn đề thân thiết đối với nhân dân, truyện dân gian biểu đạt những kinh
nghiệm đời sống, diễn tả những khát vọng và lí tưởng của nhân dân, thể hiện
những quan niệm của nhân dân về tự nhiên, xã hội và con người, về đạo đức,
về mĩ học. Truyện dân gian mang tính dân tộc, tính quốc tế của văn học dân
gian nói chung, càng tiếp xúc rộng rãi với kho tàng truyện dân gian các dân
tộc ở khắp nơi trên thế giới, ta càng thấy rõ những đặc sắc trong nội dung và
nghệ thuật của truyện dân gian dân tộc mình không hề biệt lập mà chỉ biểu
hiện trong tương quan với những cái tương đồng nhân loại. Nghiên cứu so
sánh các thể loại truyện dân gian, ta có thể bắt gặp những hiện tượng trùng lặp
tương tự nhau về đề tài, về cốt truyện, hình tượng nhân vật, về các mô típ
nghệ thuật, các yếu tố thi pháp.
Trong giai đoạn đầu tiên của sự nảy sinh và phát triển, truyện dân gian
là hình thức sơ khai của nghệ thuật, đồng thời cũng là hình thức nguyên hợp
cùng phong phú, những mơ ước của con người được gửi gắm trong những người
anh hùng thần thánh của cộng đồng. Học sinh Tiểu học lại vô cùng thích những
nhân vật anh hùng, người mà luôn bênh vực công lí, bảo vệ chính nghĩa… Qua
những mẫu truyện các em vừa được thư giãn sau những giờ học căng thẳng, vừa
có kiến thức về nguồn gốc vũ trụ, các hiện tượng tự nhiên.
Nguồn gốc ra đời của thần thoại
Cơ sở đầu tiên dẫn đến sự ra đời của thần thoại là sự phát triển của xã
hội công xã nguyên thủy khi con người đã xuất hiện tư duy và hoạt động ngôn
ngữ. Con người thời kì nguyên thủy trong khi tiếp xúc với thiên nhiên, tiếp
xúc với các hiện tượng vũ trụ kì bí, họ đã muốn cố gắng tìm hiểu, xuyên qua
cái bề ngoài để nhận thức thế giới, nhận thức tự nhiên. Sự nhận thức thế giới
8
của con người lúc đó là hoang đường và ấu trĩ. Con người tưởng tượng ra và
đặt niềm tin vào sự tưởng tượng ấy.
Trong quá trình lao động, sản xuất, con người nguyên thủy đã vận dụng
lí trí non nớt, sự nhận biết thô sơ của mình về thiên nhiên, vũ trụ để tìm câu
trả lời cho những gì xảy ra xung quanh như: Tại sao lại có ngày? Tại sao lại
có đêm? Tại sao lại có bầu trời? Tại sao lại có mặt đất? Tại sao lại có mặt trời,
mặt trăng và các vì sao? Tại sao lại có sự sống, sự chết? Con người sinh ra từ
đâu? Tại sao lại có mưa gió, bão lụt, hạn hán? và còn rất nhiều câu hỏi khác.
Chính vì thế, họ đã làm ra thần thoại.
Giai đoạn này, con người cũng đã nhận thức được mình là một bộ phận
của thiên nhiên và hơn nữa còn muốn khẳng định mình là bộ phận tinh túy
nhất của thiên nhiên. Sự phân biệt giai cấp, phân biệt lợi ích giữa bộ tộc này
và bộ tộc khác, sự đấu tranh chống lại giặc ngoại xâm đã chuyển hóa bộ phận
thần tự nhiên sang bộ phận thần thoại anh hùng văn hóa.
1.1.2.2. Truyện truyền thuyết
Khái niệm
nhà nước Văn Lang đầu tiên, thuộc thời kì văn hoá kim khí mà đỉnh cao là
văn hoá Đông Sơn.
Việc sử dụng công cụ kim loại được coi như một cuộc cách mạng kĩ
thuật. Công cụ sản xuất vô cùng phong phú và tiến bộ đã dẫn đến thành quả
lao động được nâng cao, đời sống con người được cải thiện. Nhu cầu mở rộng
thêm các vùng định cư và sản xuất, khai thác thêm các thị trường mới để trao
đổi sản phẩm, khám phá đất hoang… ngày càng dâng cao trong cộng
đồng. Chiến tranh giữa các bộ tộc xảy ra liên miên nhằm xâm lấn đất đai, mở
rộng địa bàn, thôn tính lẫn nhau (dẫn đến sự hình thành nhà nước đầu tiên).
Các bộ lạc có xu hướng, hoặc là thâu tóm lẫn nhau hoặc đoàn kết để chống lại
các bộ lạc lớn mạnh khác.
Hoàn cảnh đó đã tạo nên một không khí hào hùng cho thời đại mà
Ăngnghen nhận xét là: “thời đại mà mỗi thành viên nam giới của bộ lạc đến
tuổi thành niên đều là những chiến binh”. Các thành viên trong cộng đồng có
điều kiện bộc lộ phẩm chất anh hùng của mình, ý thức về lịch sử, dân tộc, chủ
quyền lãnh thổ được nuôi dưỡng, xuất hiện các cá nhân anh hùng và tập thể
anh hùng. Truyền thuyết ra đời nhằm tôn vinh sức mạnh, phẩm chất người
anh hùng của mình, cộng đồng của mình.
1.1.2.3. Truyện cổ tích
Khái niệm
Truyện cổ tích là những truyện truyền miệng dân gian kể lại những câu
chuyện tưởng tượng xoay quanh một số nhân vật quen thuộc như nhân vật tài
giỏi, nhân vật dũng sĩ, người mồ côi, người em út, người con riêng, người
nghèo khổ, người có hình dạng xấu xí, người thông minh, người ngốc nghếch
10
và cả những câu chuyện kể về các con vật nói năng và hoạt động như con
người.
Thế giới truyện cổ tích là thế giới có sự phân hóa giàu nghèo, tốt xấu,
phong phú và lãng mạn của các tác giả dân gian. Kết thúc của truyện cổ tích
11
thần kì thường có hậu, mang lại sự vui vẻ, lạc quan, thỏa mãn mơ ước của
nhân dân.
+ Truyện cổ tích sinh hoạt (thế sự) là nhóm truyện ra đời muộn, khi
mâu thuẫn và đấu tranh xã hội trở nên gay gắt, nhân dân không còn ảo tưởng
giải quyết những vấn đề xã hội bằng yếu tố kì ảo. Tính thực tế đã chi phối
những sáng tạo nghệ thuật của nhóm truyện này, những sinh hoạt đời thường,
những quan hệ xã hội cụ thể phong phú, khiến cho yếu tố hiện thực đậm hơn
yếu tố hoang đường. Mơ ước công bằng, dân chủ được phản ánh tập trung
trong nhóm truyện phân xử, tinh thần đề cao đạo đức tập trung trong nhóm
truyện ca ngợi tình nghĩa và phê phán thói vô đạo. Yếu tố kì ảo ít hơn truyện
cổ tích thần kì và thường tập trung ở cuối truyện, nhằm tô đậm hiện thực hơn
là phản ánh ước mơ.
+ Truyện cổ tích loài vật là nhóm truyện mà nhân vật chính là các con
vật trong thế giới loài vật. Các con vật đó có thể là hoang dã hoặc là vật nuôi.
Thông qua mối quan hệ của các con vật đó mà tác giả dân gian gián tiếp phản
ánh mối quan hệ giữa con người. Do vậy, truyện cổ tích loài vật có những yếu
tố gần giống với truyện ngụ ngôn. Tuy nhiên, chúng có những nét khác nhau
khá đặc trưng. Truyện cổ tích thường thiên về nội dung giải thích nguồn gốc,
qua đó nêu bài học giáo dục, còn truyện ngụ ngôn thiên về việc nhấn mạnh
trực tiếp những bài học đạo đức và kinh nghiệm sống. Truyện cổ tích trình
bày cả số phận nhân vật và chỉ kết thúc khi có câu trả lời chắc chắn về kết cục
của những nhân vật đó, trong khi truyện ngụ ngôn chỉ quan tâm đến một nét
tính cách, một hành động hoặc một mẫu đối thoại nào đó giữa các nhân vật.
Trong truyện cổ tích loài vật của các dân tộc Việt Nam thì những con vật nhỏ
bé và những vật nuôi thường chiếm thiện cảm của các tác giả dân gian nhiều
hơn những con vật to lớn và những con vật hoang dã.
Tiểu loại này gồm nhiều hệ thống truyện xoay quanh một nhân vật
chính. Mỗi hệ thống là một chuỗi. Mỗi chuỗi gồm nhiều hạt. Mỗi hạt là một
truyện vừa hoàn chỉnh, có thể tồn tại độc lập, lại vừa là một kết cấu mở nghĩa
là có thể kết dính với những hạt khác, chất keo kết dính chính là một nhân vật
chủ chốt – trung tâm. Nhân vật trung tâm ấy vừa gợi nhắc đến một nguyên
mẫu, thực tại, vừa vẫn là một hư cấu nghệ thuật khác xa nguyên mẫu đủ trở
thành một hình tượng nhân vật của thế giới nghệ thuật truyện cười. Đó là
những Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Bột…
Căn cứ vào nội dung của truyện, có thể chia thành truyện khôi hài và
truyện trào phúng.
- Truyện khôi hài
Tiểu loại truyện này gồm những mẫu truyện có mục đích chủ yếu là để
“người nông dân giải trí sau một ngày lao động mệt nhọc”, nhưng trong tiếng
cười và cùng với tiếng cười, truyện cũng nhằm cả mục đích giáo dục nhẹ
nhàng như truyện “Cháy”…
13
- Truyện trào phúng
Tiểu loại này gồm những truyện nhằm thẳng vào cái xấu có tính bản
chất của đối tượng. Về mặt xã hội, những tiếng cười này có ý nghĩa sâu sắc ở
chỗ vạch trần, phê phán những cái đã lỗi thời mà lại cứ bảo thủ, đang thống trị
xã hội.
1.1.2.5. Truyện ngụ ngôn
Khái niệm
Truyện ngụ ngôn là loại truyện dân gian mượn truyện về loài vật, đồ
vật hoặc về chính con người để nêu lên những bài học luân lí, triết lí, hay một
kinh nghiệm sống nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta.
Truyện ngụ ngôn có thể được xem như vở kịch nhỏ mà nhân vật có thể
là bất cứ vật gì trong vũ trụ, sân khấu có thể là bất cứ ở đâu. Truyện ngụ ngôn
như lừa…
Tóm lại, có thể truyện ngụ ngôn sớm được các nhà hoạt động văn hóa –
xã hội sáng tác và là một bộ phận văn học thành văn. Nhưng chắc chắn nguồn
gốc của truyện ngụ ngôn vốn từ văn học dân gian, sau này do sự tác động qua
lại giữa hai dòng văn học dân gian và bác học, truyện ngụ ngôn phát triển
mạnh hẳn lên.
1.2. Truyện dân gian trong chương trình Tiểu học
1.2.1. Hệ thống truyện dân gian trong chương trình Tiểu học
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, trong chương trình đổi mới
SGK Tiếng Việt Tiểu học và sách Truyện đọc Tiểu học được biên soạn với
nội dung chương trình phong phú. Trong đó, truyện dân gian cũng chiếm một
số lượng tương đối lớn được phân bố rải rác từ lớp 1 đến lớp 5. Trong sách
Tiếng Việt Tiểu học và sách Truyện đọc Tiểu học các thể loại truyện dân gian
được biên soạn đan xen với nhau. Theo thống kê trong SGK Tiếng Việt Tiểu
học và sách Truyện đọc Tiểu học, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Lớp Số lượng tác phẩm Tỉ lệ (%)
Một 34 26%
Hai 28 22%
Ba 23 18%
Bốn 33 25%
Năm 12 9%
Như vậy ta thấy truyện dân gian trong chương trình Tiểu học chủ yếu
phân bố ở các lớp 1, 2, 3, 4 còn lớp 5 chiếm số lượng ít hơn. Điều này cũng là
dụng ý nghệ thuật của người biên soạn chương trình. Ở những lứa tuổi càng
nhỏ thì những câu chuyện với các giá trị giáo dục lại càng cần thiết hơn.
1.2.3. Vai trò, ý nghĩa của truyện dân gian đối với học sinh Tiểu học
Lứa tuổi thiếu nhi là một giai đoạn phát triển phức tạp và có vị trí đặc
biệt quan trọng trong đời sống con người. Cùng với sự hoàn thiện dần về thể
chất, lứa tuổi này có những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt, tư duy hình tượng
cụ thể chiếm ưu thế, giàu cảm xúc, thích tìm tòi khám phá ham hiểu biết.
Nhân cách của các em đang trong giai đoạn phát triển và chịu sự chi phối tác
16
động của nhiều yếu tố, các em dễ bắt chước. Việc in những dấu hằn đầu tiên
về cái đẹp vào tâm trí các em có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành
những cảm xúc và quan niệm thẩm mỹ, lòng nhân ái của các em sau này.
Chính lẽ đó mà truyện dân gian đã trở thành một phương tiện giáo dục rất
hiệu nghiệm đối với trẻ thơ.
Khi bước vào thế giới của mỗi câu chuyện dân gian, các em như được
cưỡi trên mình cỗ máy thời gian quay trở về quá khứ với những câu chuyện
lịch sử li kì, gặp gỡ những nhân vật lịch sử có công lao lớn trong lịch sử đất
nước thông qua truyện truyền thuyết. Những câu chuyện thần thoại giúp các
em được bay bổng vào thế giới thần tiên, hiểu được nguồn gốc của loài người
và các hiện tượng xã hội. Những bài học triết lí rút ra từ những mẫu truyện cổ
tích, ngụ ngôn, truyện cười giúp các em áp dụng ngay trong thực tiễn cuộc
sống hằng ngày, các em sẽ biết thông cảm cho những số phận đáng thương,
trong lớp học phải biết đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, không được đánh bạn, có ý
thức giúp đỡ, yêu thương bạn bè. Đây là những mầm móng tốt đẹp giúp các
em hình thành và phát triển nhân cách sau này. Truyện dân gian trong chương
trình Tiểu học đã thành công trong việc khái quát được các bài học nhận thức
thành các tình huống thực tiễn. Những tác phẩm truyện cười của truyện dân
gian mang đến cho các em học sinh những phút giây thư giãn thoải mái,
những tiếng cười sảng khoái sau những giờ học căng thẳng. Truyện dân gian
giúp các em hiểu rõ hơn về nguồn gốc của con người, của tự nhiên, về những
mỗi câu chuyện thần thoại đều lí giải những điều bí ẩn của tự nhiên hay nguồn
gốc của loài người một cách thơ mộng bằng trí tưởng tượng và mơ ước.
Câu chuyện Thần Biển kể rằng, Thần là một con rùa khổng lồ nằm giữa
đáy đại dương, Thần không ăn uống chỉ hô hấp để tồn tại. Mỗi khi Thần hít
vào, nước theo hơi thở của Thần ào ào chảy vào bụng Thần làm cho nước
biển hạ xuống làm thành thủy triều xuống, khi Thần thở ra nước từ bụng Thần
ào ra làm nước biển bỗng nhiên cao lên làm thành hiện tượng thủy triều lên.
Còn Thần Mặt Trời hằng ngày đi tuần thú trần gian đều cưỡi lên một chiếc
kiệu, chiếc kiệu đó do hai tốp người khiêng. Những người già khiêng kiệu
thường rất cần mẫn, đi đến nơi về đến chốn khiến Thần Mặt Trời về nhà sớm
vì thế mặt đất nhanh tối, đó là những ngày mùa đông. Còn tốp kia do những
chàng thanh niên khiêng, họ nhởn nhơ vừa đi vừa ngắm trời ngắm đất không
chăm chú đến công việc khiến kiệu về nhà chậm vì vậy ngày ở mặt đất dài
hơn, đó là những ngày mùa hè. Thần Mưa thì không cần mẫn như Thần Mặt
trời ông được phân công làm mưa nhưng lại ham chơi nên nhiều khi quên
việc. Chỗ đã cho mưa rồi lại tưới đi tưới lại mặt đất sinh ra lụt lội còn có chỗ
quên cho mưa khiến đất đai khô nẻ, người vật chết khô. Người ta muốn có
mưa phải đánh trống sấm, cúng tế Thần để thức tỉnh Thần nhớ nhiệm vụ của
người. Thần Trụ Trời dùng đôi tay khổng lồ đào đất, đắp cột chống trời, khi
trời đất xa nhau Thần mới phá cột đi, đất đá văng ra thành đồi núi, nơi đào đất
thành biển. Thần trong thần thoại không thể trong chớp mắt xây xong một
18
cung điện lộng lẫy, thần cũng không phẩy tay dời núi lấp sông hoặc đọc thần
chú lập tức các món sơn hào hải vị hiện ra ngon lành như các nhân vật trong
truyện cổ tích. Muốn chống trời thần phải hì hục đào đất, đắp đá, dựng cột,
muốn cho trời rộng đất dài, trời đất khớp nhau các thần phải ra sức co kéo,
muốn đội bầu trời thần phải dùng đôi vai vĩ đại của mình… Có một nhà
nghiên cứu đã nhận xét “Thần trong thần thoại không phải là cái gì khác hơn
Vì Thần Mưa không chịu đổ mưa làm cho hạn hán xảy ra nên Cóc đã
cùng những người bạn của mình lên thiên đình kiện Thần Mưa. Lên đó, Cóc
và những người bạn đã cho Thần Sét một trận vì tội ngăn cản lên kiện Thần
Mưa, Thần Sét bị Ong đốt, Thần bị “Cua giơ càng ra kẹp”, “bị Cọp vồ” và
cuối cùng, Cóc và những người bạn đã chiến thắng. Câu chuyện thần thoại
này nhằm giải thích hiện tượng mưa qua câu cuối “Từ đó, hễ Cóc nghiến răng
là trời đổ mưa”.
Không phải chỉ có thế giới con người mới có sự tranh đấu mà thế giới
các thần cũng vậy, thần cũng rất hiếu thắng như trong truyện “sự tích Sông
Cửu Long” (Truyện đọc 3).
“Cửu Long có nhiều tên, trong đó một tên rất quen thuộc với Việt Nam
cũng như trên thế giới là sông Công… Người ta còn nói vì Thần đi đi lại lại
chờ đợi nên chỗ ấy trở thành chín cửa sông như chín con rồng, vì thế còn có
tên là Cửu Long” [24;tr39].
Trong truyện, Thần Săn và Thần Câu là bạn thân nhưng không hiểu vì
lí do gì giữa hai thần lại nảy ra một cuộc tranh cãi gay gắt, thiên thần đã phải
giải quyết bằng cách cho hai người thi đấu, đó là một cuộc chạy đua. Thần
Săn chạy đá văng đất lún, trở thành dòng sông, chỗ Thần Săn ngồi lại nghỉ
nay là Biển Hồ. Chỗ Thần Câu chạy cũng thành sông nhưng có lắm khúc
quanh co. Câu chuyện giải thích sự hình thành Sông Cửu Long với chín cửa
sông “Vì Thần đi đi lại lại chờ đợi nên chỗ đó thành chín cửa sông, vì thế còn
có tên là Cửu Long”. Cũng có những vị thần tốt bụng, luôn giúp đỡ con người
và giúp cho con người nhận ra nhiều điều trong cuộc sống như trong truyện
“Điều ước của vua Mi-đát” (Tiếng việt 4, tập 1), câu chuyện kể về Thần Đi-ô-
ni-dốt đã giúp vua Mi-đát nhận ra rằng hạnh phúc không thể xây dựng bằng
ước muốn tham lam.
Như vậy, trong chương trình Tiểu học không có nhiều truyện thần thoại
nhưng hệ thống nhân vật thần trong thần thoại được xây dựng với nhiều nét
tính cách khác nhau. Đặc biệt với cách viết tưởng tượng, hư cấu nhân vật thần