Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng nguồn nước tại bản thớ tỷ, xã ta ma, huyện tuần giáo, tỉnh điện biên - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BÁC

“Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng nguồn nước tại bản
Thớ Tỷ, xã Ta Ma, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên”.
Lớp: K52-ĐH QLTNR & BVMT (A)
BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
Người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Minh Châu
Sơn La, năm 2014
1
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 4.1. Chu trình tuần hoàn của nước Error: Reference source not found
Hình 4.2. Sơ đồ thể hiện số lượng sông suối trong bản. Error: Reference
source not found
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước là nguồn tài nguyên tái tạo, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên
Trái đất và rất cần thiết cho các hoạt động kinh tế - xã hội của loài người. ở đâu
có nước, ở đó có sự sống. Trong cơ thể sống, nước chiếm khoảng 70% khốii
lượng cơ thể con người trưỏng thành. Nước còn được coi như một tiêu điểm để
đánh giá mức sống, sự phát triển của mỗi quốc gia hoặc mỗi khu vực. Thậm chí
nước - còn là nguyên nhân của chiến tranh, của tranh chấp và chia rẽ.
Nước sạch đưa vào cơ thể con người nhiều nguyên tố cần thiết như: Fe, F,
Zn, Cu, ngược lại nước nhiễm bẩn lại đưa vào cơ thể nhiều vi khuẩn gây
bênh. Nước bẩn chứa nhiều các chất độc hại như: Pb, Hg, As, thuốc trừ sâu, các
hoá chất gây ung thư khác.
Do đó, nước dùng cho cuộc sống phải đủ về số lượng và đảm bảo an toàn

dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh, đảm bảo sức khỏe cho nhân dân trong
môi trường trong sạch nhất. Chương trình dùng nguồn vốn để kiến thiết cơ sở hạ
tầng là chủ yếu, đã đặt được hiệu quả ở rất nhiều nước, song ở nước ta chương
trình này vẫn chưa đạt được hiệu quả nhanh chóng, bởi nó chưa thực sự bám sát
vào đặc điểm phong tục tập quán, mức sống cũng như thói quen sinh hoạt của
dân nông thôn vốn đã có nhiều điểm khác biệt ở mỗi vùng miền. Vì vậy nhà
máy và các công trình kĩ thuật và những khoản đầu tư của chương trình này vẫn
đang trong tình trạng chưa triệt để, chưa làm đến nơi.
1.1. Ở Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên nước xếp vào loại trung bình khá
trên thế giới nhưng có nhiều yếu tố không bền vững. Nước ta có khoảng 830 tỷ
m
3
nước

mặt, trong đó chỉ có 310 tỷ m
3
được tạo ra do mưa rơi trong lãnh thổ,
chiếm 37%; còn 63% do lượng mưa ngoài lãnh thổ chảy vào. Tổng trữ lượng
tiềm tàng nước dưới đất có khả năng khai thác, chưa kể phần hải đảo tính 60 tỷ
m
3
/năm. Nếu kể cả nước mặt và nước dưới đất trên phạm vi lãnh thổ thì bình
quân đầu người đạt 4.400 m
3
/người/năm, so với thế giới là 7.400 m
3
/người/năm.
Lượng nước sản sinh từ ngoài lãnh thổ chiếm gần 2/3 tổng lượng nước có
được. Sự phân bố của cả nước mặt lẫn nước dưới đất không đều. Theo không

nhiễm mặn, hay chua do quá trinhg tự nhiên và do hoạt động của con người
đang là vấn đề nghiêm trọng ở vùng châu thổ sông Cửu Long.
5
Việt Nam là nước Đông Nam Á có chi phí nhiều nhất cho thủy lợi. Cả nước
hiện có 75 hệ thống thủy nông, với 659 hồ, đập lớn và vừa, trên 3.500 hồ, đập
nhỏ, 1.000 cống tiêu, trên 2.000 trạm bơm lớn nhỏ, trên 10.000 máy bơm các
loại, có khả năng cung cấp 60 - 70 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, nhiều hệ thống thuỷ
nông đã xuống cấp nghiêm trọng, chỉ đáp ứng được 50 - 60% công suất thiết kế.
Lượng nước sử dụng hàng năm cho nông nghiệp khoảng 93 tỷ m
3
, cho công
nghiệp là 17,3 tỷ m
3
, cho dịch vụ là 2 tỷ m
3
, cho sinh hoạt là 3,09 tỷ m
3
. Dự tính
tới năm 2030 dân số cả nước đạt 129 triệu trong đó dân thành phố lên 60 triệu,
kinh tế tăng trưởng 10 lần, GDP đầu người tăng 7 lần, diện tích tưới tăng
3,4%/năm, chuẩn cấp nước tăng gấp đôi, 150 lít/ngày/người, 100% dân được
cấp nước sạch vào năm 2020. Cơ cấu dùng nước sẽ thay đổi theo xu hướng nông
nghiệp 75%, công nghiệp 16%, tiêu dùng 9%. Nhu cầu nước dùng sẽ tăng gấp
đôi, chiếm khoảng 1/10 tổng lượng nước sông ngòi, 1/3 lượng nước nội địa, 1/3
lượng dòng chảy ổn định.
Nước ta có trên 700 đô thị từ cấp I đến cấp V, nhu cầu cấp nước sinh hoạt
trong các đô thị ngày càng gia tăng. Hiện nay, tiêu chuẩn cấp nước đô thị là 150
đến 200l/người dân. Trong số gần 2 triệu m
3
nước cấp cho dân đô thị mỗi ngày,

nước còn ô nhiễm từ gia cầm ”
- Ô nhiễm nguồn nước từ chăn nuôi gia súc gia cầm:
Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn chưa có ý
thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh chuồng trại chưa có hệ thống xử lý
chất thải đã thải vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất gây ô nhiễm môi trường
đặc biệt là nguồn nước ngầm. Nước dưới đất xung quanh khu vực chôn lấp gia
cầm nhiễm bệnh bị ô nhiễm do nguyên nhân chủ yếu là nước thải sinh ra trong
quá trình phân hủy gia cầm phát tán ra bên ngoài hố chôn lấp do lót đáy không
kỹ hoặc không lót đáy.
Ngoài ra, do không được đầu tư đúng mức nên hệ thống cống thoát nước
chưa được xây dựng hoàn chỉnh, hầu hết các cống không có nắp nên ô nhiễm
môi trường là không thể tránh khỏi. Mỗi gia đình có trung bình từ 4 – 5 người;
chuồng lợn có từ 2 – 4 con; chuồng trâu, bò có từ 1 – 2 con; chuồng gà với
7
khoảng 10 – 15 con, 10 – 20 con ngan vịt. Có một đến hai ao nhỏ để thả cá.
Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải này rất cao, tương đương với nước
rác rò rỉ trong thời gian phân hủy của gà trong hố sẽ kéo dài có thể tới một vài
năm.
- Ô nhiễm từ nguồn nước thải sinh hoạt.
Ở Việt Nam hiện nay, mức tăng dân số nhanh chóng đã đưa nước ta vào
hàng thứ 12 trong số các quốc gia có số dân đông của thế giới. Với mức tăng
dân nhanh như thế, mỗi năm nước ta tăng thêm 1,4 triệu người và dự báo đến
năm 2015 sẽ là 100 triệu người. Dự báo đến năm 2020 sẽ có 50% số dân sống ở
các vùng đô thị. Dân số tăng, nhu cầu nước cho mọi hoạt động sinh hoạt và phát
triển kinh tế tăng lên, các nguồn chất thải tăng lên sự ô nhiễm môi trường nước
cũng tăng lên.
Hầu hết, nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả thải ra môi
trường. Ngoài ra, nước rò rỉ từ các bãi rác cũng là nguồn gây ô nhiễm nguồn
nước mặt và nước ngầm nghiêm trọng vì đặc trưng của loại nước thải này có
hàm lượng chất gây ô nhiễm cao, độ màu lớn. Trong khi đó cả nước mới chỉ có

bệnh viện.
1.2. Bản Thớ Tỷ, xã Ta Ma.
Bản Thớ tỷ, xã Ta Ma, huyện tuần giáo tỉnh điện biên là một trong những
bản khó khăn về kinh tế, với dân cư là người dân tộc H mông trình độ dân chí
thấp, kinh tế gia đình chủ yếu dựa vào tự cung tự cấp là chính, địa hình dốc, số
lượng suối rất ít, lượng nước chảy mặt thường cạn kiệt vào mùa khô làm cho
người dân ở đây thiếu nước vào mùa khô vì vậy người dân sống chủ yếu dựa
vào canh tác nương rẫy là chính. Có những hộ gia đình có thu nhập cao hơn thì
đầu tư mua dây ống dẫn nước hơn chục km dẫn về nhưng lượng nước dẫn về
cũng chỉ đủ cho 2 – 3 gia đình dùng vì lượng nước chảy trong ống rất nhỏ.
Trong tình trạng thiếu nước của bản cuối năm 2007 chương trình 135 đã xây
dựng bể dẫn nước về cho bản đã đỡ cho người dân phần nào nhưng lượng do
nước chảy rất ít nên cũng không đáp ứng được hết nhu cầu sinh hoạt của người
dân, ống dẫn nước và bể chỉ hoạt động được gần 3 năm thì người dân đã phá
hỏng hết, do đó cho thấy ý thức tự bảo vệ tài sản chung của người dân ở đây rất
thấp. chương trình dẫn nước về cho bản chia làm hai đợt nhưng cho đến nay bể
nước và ống dẫn đã xuống cấp hết.
9
Một trong những nguyên nhân làm cho người dân ở đây sống trong cảnh
thiếu nước hàng ngày là do: Nạn phá rừng làm nương rẫy, phá rừng đầu nguồn,
đốt rừng làm cho lượng nước chảy mặt ngày càng ít đi, không những thế mà
lượng nước chảy mặt ngày càng bị ô nhiễn nhiều.
Hiện nay trong tình trạng thiếu nước của bản đưa ra những phương pháp sử
dụng nguồn nước bền vững và hợp lí cho bản là rất cần thiết.
10
PHẦN II:
MỤC TIÊU, PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.
2. 1. Mục tiêu nghiên cứu.
2.1.1. Mục tiêu chung.

dụng, bể nước, vị trí lắp đặt ông nước sạch( nếu có)…, quan sát tổng quan về cả
bản.
- Phương pháp phân tích tài liệu.
+ Sử dụng tài liệu của địa bàn nghiên cứu như: báo cáo cáo tình hình Kinh
tế xã hội của UBND xã năm 2014.
+ Luật Tài nguyên Nước ( sửa đổi và bổ sung- 2008)
+ Sử dụng các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sách, báo, tạp
chí, mạng Internet,….
PHẦN III:
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU.
3.1. Điều kiện tự nhiên.
12
Bản Thớ Tỷ xã Ta Ma là bản vùng cao nằm ở phía Đông Bác của huyện
Tuần Giáo với tổng diện tích tự nhiên 3112ha chiếm 29,1%% tổng diện tích tự
nhiên của xã. Có 56 hộ với 349 khẩu là người dân tộc H’mông.
3.1.1. Vị trí địa lý:
+ Phía Tây Bác giáp xã Rạng Đông huyện tuần Giáo.
+ Phía Tây Nam giáp xã Quài Nưa huyện Tuần Giáo
+ Phía Nam giáp xã Tòa Tình huyện Tuần Giáo
+ Phía Đông giáp trung tâm xã Ta Ma
+ Phía Tây giáp xã Pú Nhung huyện Tuần Giáo
Bản có địa hình bao bọc bởi nhiều dãy núi đá xen lẫn với thung lũng và
khe suối. Địa hình chia cát phức tạp là địa hình cater nên thấm nước nhanh trên
bề mặt dẫn đến khô hạn, với nhiều đỉnh núi cao có độ dốc trung bình 20
0
đến 25
0
hướng dốc của địa hìnhTây Nam – Đông Bác.
3.1.2. Đặc điểm khí hậu,thủy văn
3.1.2.1. Khí hậu:

3.1.3. Các nguồn tài nguyên khác.
3.1.3.1. Tài nguyên đất
Theo tài liệu đánh giá tài nguyên đất bản có 5 nhóm đất chính là: Nhóm
đất phù sa, nhóm đất đen, nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi, nhóm đất
thung lũng do sản phẩm dốc tụ.
3.1.3.2 Tài nguyên nước
- Nguồn nước Mặt: Nguồn nước mặt chủ yếu của bản là hệ thống ao hồ và
khe suối nhỏ, do đặc điểm địa hình cater, các khe suối thường cạn vào mùa khô
nên nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất gặp nhiều khó khăn.
- Nguồn nước ngầm: Nước ngầm chữa trong các khe nứt của đá được hình
thành do đá bị phong hóa mạnh và nước mưa ngấm qua đất trữ vào kẽ nứt trên
bề mặt, nhiều nguồn nước ngầm đã xuất lộ ra ngoài thành dòng chảy, lưu lượng
dao động theo mùa ( từ 1 – 2 l/s đến 15 l/s.
Nguồn nước ngầm caster: Được tàng trữ trong các hàng động caster hình
thành từ núi đá vôi,phân bố sâu, ít vận động, các mạch suất lộ từ nguồn caster
thường có lưu lượng nhỏ, động thái không ổn định.
Trong vùng có các ngòi suối, mó nước cung cấp cho sản xuất sinh hoạt.
Nước caster là loại nước cứng, khi sử dụng trong sinh hoạt cần được khử vôi,
các biện pháp sủ lí để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.
3.1.3.3. Hệ thống thủy lợi và nước sinh hoạt.
Các công trình cung cấp nước hợp vệ sinh cho sinh hoạt bằng nguồn vốn
135 đã xây tại bản: Gồm 4 bể nước, nhưng hiện nay các bể nước đã xuống cấp.
14
Do địa hình dạng caster, có độ dốc lớn khả năng giữ nước trên bề mặt
kém do vậy, nguồn nước để cung cấp cho sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, cạn vào
mùa khô.
3.2. Những thuận lợi và khó khăn của khu vực nghiên cứu.
3.2.1.Thuận lợi.
- Người dân mua ống và tự dẫn nước về, bằng hình thức tự cung tự cấp
nên không phải mất tiền.

xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.
3.3.2. Vai trò của nước, một số khái niệm.
-Nước là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu của mọi sự sống trên
trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế xã hội của loài người. Cùng với
các dạng tài nguyên thiên nhiên khác tài nguyên nước là một trong bốn nguồn
lực cơ bản để phát triển kinh tế-xã hội, là đối tượng lao động và là yếu tố cấu
thành của lực lượng sản xuất.
- Nước là tài nguyên tái tạo được, sau một thời gian nhất định được dùng
lại. Nước là thành phần cấu tạo nên sinh quyển. Trong cơ thể sống chiếm tỉ lệ
lớn - 70% khối lượng cơ thể trưởng thành. Nếu mất 6% - 8% nước trong cơ thể
con người sẻ mệt mỏi, nếu mất 12% lượng nước trong cơ thể con người sẽ chết.
Nước tác động đến thạch quyển, khí quyển dẫn tới sự biến đổi của khí hậu, thời
tiết.
- Tài nguyên nước bao gồm nước trong khí quyển nước mặt, nước dưới mặt
đất, nước biển và đại dương. Nguồn nước hầu hết là tài nguyên tái tạo, nằm
trong chu trình tuần hoàn của nước dưới các dạng : Mây, mưa, trong các vật thể
chứa nước, sông suối, đầm…, nước dưới đất có áp và không có áp, ở tầng nông
hay tầng sâu của đất và nước ở vùng biển và đại dương trên thế giới.
- Mặc dù lượng nước trên trái đất là khổng lồ, song lượng nước ngọt cho
phép con người sử dụng chỉ chiếm một phần rất nhỏ ( dưới 1/100.000 ). Hơn
nữa sự phân bố của các nguồn nước ngọt lại không đều theo không gian và thời
gian mà khiến cho nước trở thành một dạng tài nguyên đặc biệt cần phải bảo vệ
và sử dụng hợp lí.
- Nước tự nhiên gồm có nước mưa và nước mặt:
16
+ Nước mặt thường xuyên được bổ xung từ nguồn nước mưa, nước mặt
do có mặt thoáng tiếp xúc nên tiếp nhận ôxy từ không khí vào khuyếch tán diễn
ra dễ dàng. Ngoài ra, nước mặt còn tiếp nhận các chất ô nhiễm không khí do
mưa mang theo. Nhìn chung, chất lượng nước mặt phụ thuộc nhiều vào yếu tố
như: Cấu trúc địa chất, địa hình, các hoạt động của con người, thảm thực vật, xói

trí cao hơn so với bản nên người dân thường dẫn nước từ hai con suối này về sử
dụng vào sinh hoạt, còn suối Ha De, nằm thấp hơn so với bản thường cạn vào
mùa khô nên người dân sử dụng con suối này để làm một số thửa ruộng nhỏ vào
mùa mưa.
- Số lượng ống dẫn nước từ hai con suối: Suối Ha đe Sua (3 ống), suối Đe
to Po (4 ống) dẫn nước, chủ yếu là dẫn về phụ vụ nhu cầu sinh hoạt, nhưng vào
mùa khô lưu lượng dòng chảy nhỏ nên lượng nước chạy trong một số ống rất
nhỏ.
- Nguồn nước trong bản càng ngày càng bị ô nhiễn, do rác thải sinh hoạt
hàng ngày của người dân, và thuốc bảo vệ thực vật như: thuốc trừ cỏ.
- Ý thức tham gia bảo vệ môi trường và bảo vệ nguồn nước còn chưa cao.
- Chăm thả gia súc bừa bãi gây ô nhiên nguồn nước.
19
Hình 4.2. Sơ đồ thể hiện số lượng sông suối trong bản.
4.1.1.1. Sử dụng nước trong nông nghiệp.
- Do địa hình dốc nhiều đá khó mở rộng diện tích ruộng bậc thang cộng
với lại lưu lượng dòng chảy nhỏ nên diện tích ruộng bậc thang trong bản rất ít
chỉ có một số hộ gia đình có đất ở gần sông suối đất bằng phẳng mới có ít mảnh
ruộng, Sau đây là số hộ gia đình có ruộng trong bản.
Biểu 4.1: Số hộ gia đình có diện tích ruộng trong bản.
STT Tên hộ gia đinh Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Vàng Chờ Lù 0.5 29.94
2 Vàng Chứ Dơ 0.4 23.95
3 Vàng Nhìa Súa 0.3 17.96
4 Giàng A Thu 0.1 5.99
4 Sùng Tráng Xà 0.1 5.99
5 Giàng Nhìa Chứ 0.09 5.39
6 Sùng Vản chu 0.06 3.59
7 Giàng Sái Dơ 0.07 4.19
8 Giàng Vản Lù 0.05 2.99

nước được sử dụng vào để nuôi ao cá trong bản là cũng ít, nguyên nhân là do
bản Thớ Tỷ là bản Vùng Cao chủ yếu nuôi cá để phụ vụ cho gia đình với lưu
lượng dòng chảy của các con suối là rất nhỏ không đủ nước cho số lượng ao cá
nhiều. Để đảm bảo nước cho nuôi trồng thủy sản thì khi đào ao phải đào sâu tận
dụng nước mưa khi mùa mưa đến đảm bảo dự trữ nước cho mùa khô.
21
4.1.1.3. Sử dụng nước cho sinh hoạt hằng ngày.
Người dân trong bản 100% số hộ gia đình sử dụng nước chưa qua sử lí mà
sử dụng trực tiếp từ các ống dẫn nước về hoặc từ các mó nước, nước caster có
chữa nhiều sỏi đá không đảm bảo an toàn cho sức khỏe, người dân trong bản sử
dụng ba loại nước chính đó là nước mưa và nước sông suối, nước mó, nấu
nướng chủ yếu là sử dụng nước suối, giặt rũ kết hợp sử dụng cả nước mưa và
nước suối, Các chương trình cung cấp bước sạch bằng nguồn vốn 135 của nhà
nước đầu tư vào bản gồm 4 bể nước nhưng hiện nay đã xuống cấp hết đường
ống dẫn nước cũng đã hỏng, số lượng bể của các hộ trong bản gồm có 6 bể
nhưng chủ yếu là bể nhỏ, người dân luôn sống trong hoàn cảnh thiếu nước vào
mùa khô, Bản có địa hình dốc nhiều khe núi đá nhiều mạch nước ngầm nhưng
chỉ xuất hiện vào mùa mưa không đảm bảo tính liên tục của dòng chảy.
• Đánh giá về mức độ sử dụng các loại nước: Nước mưa, nước ao hồ, sông
suối, nước mó, trong bản.
- Sử dụng công cụ PRA để phỏng vấn 30 hộ dân trong bản với mức độ sử
dụng loại nước nao nhiều nhất là than điểm 10, thấp nhất là 0 điểm.
Biểu 4.3. Biểu tổng hợp phỏng vấn 30 hộ dân về mức độ sử dụng các
loại nước.
Chỉ tiêu Mức độ sử
dụng (điểm)
Tỷ lệ (%) Xếp hạng
Nước mó 240 37.3 1
Nước mưa 218 33.9 2
Nước ao hồ, sông suối 186 28.9 3

đang rất tràn lan, không có một biện pháp sử dụng nước hiêu quả. Ngoài ra, các
sông, ngòi, ao, hồ đều có nguy cơ ô nhiễm từ rác thải, nước thải, thuốc bảo vệ
23
thực vật và sẽ rất nguy hiểm cho nguồn nước. Nhận thức của người dân về vấn
đề môi trường chưa cao, đáng chú ý là sự bất cập trong hoạy động quản lý, bảo
vệ môi trường, nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức
và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước còn chưa sâu
sắc và đầy đủ, chưa thấy rõ được về ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm
nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người
cũng như sự phát triển bền vững của đất nước.
- Người dân trong bản chưa nhận thức được sự cần thiết phải bảo vệ nguồn
nước bảo vệ môi trường, họ chưa có cái nhìn rộng và xa hơn, vì vậy họ chỉ tính
nhu cầu hiện tại của họ và làm những gì mình muốn.
- Họ vẫn chưa biết được là một khi nguồn nước bị ô nhiễn sễ gây ra những
tác hại nghiên trọng, hậu quả của việc thiếu nước trong tương lai.
- chưa xây dựng và phổ biến các văn bản luật, nghị định về sử dụng và bảo
vệ tài nguyên nước.
- Các khu rừng đầu nguồn chưa được bảo vệ nghiên ngặt.
- Hiện tượng phun thuốc trừ cỏ trên vùng đầu nguồn là phổ biến nhất trong
bản.
• Sau đây là kết quả tổng hợp phỏng vấn của 30 người dân trong bản về
mức độ tham gia quản lí nguồn nước và bảo vệ môi trường.
Biểu 4.4: Mức độ quan tâm tới nguồn nước và bảo vệ môi trường cửa người
dân.
Mức độ quan tâm Tần suất (người) Tỷ lệ (%)
Rất quan tâm 6 20.00
Quan tâm 8 26.67
Quan tâm chút ít 10 33.33
Hoàn toàn không quan tâm 6 20.00
Tổng 30 100

- Khung thể chế, pháp chế, tổ chức về tài nguyên nước còn thấp.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status