“ nghiên cứu, ứng dụng mô hình toán đánh giá ngập lụt khu vực hồ lắk buôn trấp trên lưu vực sông srêpôk - Pdf 30

Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành Đồ án tốt nghiệp “ Nghiên cứu, ứng dụng mô hình toán đánh
giá ngập lụt khu vực hồ Lắk - Buôn Trấp trên lưu vực sông Srêpôk.” là một
mốc son quan trọng đánh dấu việc kết thúc quá trình học tập và nghiên cứu của
hơn bốn năm tại mái trường Đại học Thủy Lợi. Những kết quả làm được trong Đồ
án tuy không nhiều nhưng nó đã mang lại cho tôi nhiều bài học, kinh nghiệm quý
giá về việc tiếp cận và giải quyết một bài toán trong thực tế của người kỹ sư thủy
văn, cung cấp thêm những kiến thức để có thể ra trường và đi làm theo đúng
chuyên môn đã đào tạo.
Để hoàn thành được Đồ án đúng thời hạn, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp
đỡ rất nhiệt tình của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và người thân. Mọi người
đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo PGS.TS. Ngô Lê Long
trưởng bộ môn Mô hình toán và Dự báo Thủy văn, TS. Nguyễn Hoàng Sơn thuộc bộ
môn Mô hình toán và Dự báo Thủy văn đã tạo cho em những điều kiện tốt nhất,
định hướng cho tôi cách tiếp cận với bài toán và đã giành nhiều thời gian quý báu
để đọc, đóng góp những ý kiến, nhận xét để tôi có thể hoàn thành Đồ án của mình.
Con xin bày tỏ lòng biết ơn tới ông bà, bố mẹ, anh chị em đã dành cho con
những điều kiện tốt nhất để cho con có được ngày hôm nay.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới tất cả các bạn trong lớp 51G và 51V, các anh
chị khóa trên đã giúp đỡ và cùng tôi bước đi trong suốt thời gian làm đồ án và
những năm học tập tại trường Đại học Thủy Lợi.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo
Trường Đại học Thủy Lợi nói chung và Khoa Thủy Văn – Tài Nguyên Nước nói
riêng đã tạo cho tôi một môi trường học tập lành mạnh, cho tôi những cơ hội để
phấn đấu và dần trưởng thành hơn trong suốt những năm học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Vũ Trung Hải
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G

c.Kịch bản 3 (KB3) : Trận lũ năm 2003 từ 11/10/2003 4:00:00 AM đến
12/10/2003 10:00:00 PM, chưa có sự tham gia của hồ Buôn Tua Srah 80
d.Kịch bản 4 (KB4) : Kịch bản 1, hồ Buôn Tua Srah vận hành theo
phương án 1 với Vcl = 37 triệu m3 81
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai
e.Kịch bản 5 (KB5): Kịch bản 1, hồ Buôn Tua Srah vận hành theo phương
án 2 với Vcl = 92,6 triệu m3 83
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
A-BẢNG BIỂU
Bảng 1-1: Diện tích và tỷ lệ diện tích theo độ cao trên lưu vực Srêpôk 5
Bảng 1-2:Các nhóm đất chính trên lưu vực Srêpôk 10
Bảng 1-3: Rừng đặc dụng trên lưu vực Srêpôk 11
Bảng 1-4: Các đặc trưng cơ bản của các tiểu lưu vực 15
Bảng 1-5: Đặc trưng hình thái những sông nhánh trong lưu vực sông Srêpôk.
15
Bảng 1-6: Lưới trạm thuỷ văn trên lưu vực 16
Bảng 1-7: Nhiệt độ trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng (oC) 17
Bảng 1-8: Lượng bốc hơi trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng.
18
Bảng 1-9 : Độ ẩm trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng (%) 19
Bảng 1-10: Số giờ nắng trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng 20
Bảng 1-11: Tốc độ gió trung bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng
(m/s) 20
Bảng 1-12: Lượng mưa năm trung bình nhiều năm lưu vực Srêpôk 22
Bảng 1-13:Tài nguyên nước mặt 3 nhánh sông thuộc lưu vực sông Srêpôk 23
Bảng 2-1: Lũ lớn nhất trong lưu vực từ 1978÷2005 30
Bảng 2-2: Thời gian xuất hiện mực nước lũ lớn nhất (1977-2003) 30

Bảng 4-2: Vết lũ trên khu vực năm 2000 77
Bảng 4-3: Diện tích ngập lụt trong khu vực 78
Bảng 4-4: So sánh diện tích ngập lụt trong khu vực với trận lũ năm 2000 79
Bảng 4-5: Diện tích ngập lụt trong khu vực 80
Bảng 4-6: So sánh diện tích ngập lụt trong khu vực với trận lũ năm 2000 81
Bảng 4-7: Diện tích ngập lụt trong khu vực 82
Bảng 4-8: So sánh diện tích ngập lụt trong khu vực với trận lũ năm 2000 82
Bảng 4-9: Diện tích ngập lụt trong khu vực 83
Bảng 4-10: So sánh diện tích ngập lụt trong khu vực với trận lũ năm 2000 và
PA1 84
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai
B- HÌNH VẼ
Hình 1-1: Bản đồ hành chính lưu vực Srêpôk 3
Hình 1-2: Bản đồ phân vùng độ cao lưu vực sông Srêpôk 6
Hình 1-3: Bản đồ mật độ che phủ rừng lưu vực sông Srêpôk 11
Hình 1-4: Bản đồ mạng lưới sông suối lưu vực Srêpôk 12
Hình 1-5: Bản đồ đẳng trị mưa năm trung bình nhiều năm lưu vực Srêpôk 21
Hình 1-6: Bản đồ mật độ dân số năm 2004 lưu vực sông Srêpôk 26
Hình 2-1: Sơ đồ mô phỏng mô hình MIKE NAM 43
Hình 2-2: Cấu trúc mô đun trong MIKE 11 46
Hình 2-3: Mô tả hệ phương trình Saint – Venant 48
Hình 2-4: Các điểm nút tính toán trong mô hình Mike 11 48
Hình 2-5: Cấu trúc mô phỏng cho MIKE 11 49
Hình 3-1: Sơ đồ thủy lực hệ thống sông khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp trong
MIKE 11 53
Hình 3-2 : Mặt cắt ngang sông phổ biến 55
Hình 3-3: Sơ đồ áp dụng mô hình vào bài toán 56
Hình 3-4: Các ô chứa khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp trên lưu vực sông Srêpôk 58
Hình 3-5: Các lưu vực cần tính toán dòng chảy bằng mô hình NAM 60

Tua Srah cắt lũ theo quy trình vận hành liên hồ 81
Hình 4-7: Bản đồ ngập lụt khu vực hồ Lắk-Buôn Trấp phương án hồ Buôn
Tua Srah có mực nước trước lũ là 485 (m) 83
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư -Trang 1- Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai.
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu chung.
Lũ lụt là một trong những thảm hoạ thường xuyên nhất gây thiệt hại cho trái
đất. Lũ tác động đến đời sống của hàng triệu người dân trên thế giới, nhiều hơn bất
kỳ thảm hoạ nào, kể cả chiến tranh, hạn hán và nạn đói. Hàng năm có khoảng 3.3
triệu người mất nhà cửa do lũ lụt. Trong những năm gần đây, dưới tác động của
biến đổi khí hậu, tình hình lũ lụt ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của con người.
Tại Việt Nam, sông Srêpôk là con sông lớn ở Tây Nguyên do hai sông Krông
Knô và sông Krông Ana hợp thành tại thác Buôn Dray. Do địa hình vùng đất thấp
trũng có dạng lòng chảo ở hạ lưu hai sông Krông Knô và Krông Ana, dẫn đến mùa
mưa, lượng nước đổ về vùng đất này tiêu thoát không kịp, gây ngập lụt cho toàn bộ
vùng đồng bằng trũng Lắk - Buôn Trấp. Điều này đã ảnh hưởng đến xuất nông
nghiệp cũng như các hoạt động kinh tế xã hội ở khu vực. Theo báo cáo thống kê
thiệt hại do ngập lụt hàng năm thì tổng thiệt hại ước tính mỗi năm khoảng từ 7 tới
gần 350 tỷ đồng, trong đó riêng diện tích lúa bị ngập lụt mỗi năm đều lớn hơn 1000
ha, có những năm diện tích lúa bị ngập lên tới 7000 ha (năm 2001). Chính vì vậy,
việc xây nghiên cứu, ứng dụng mô hình thủy lực để đánh giá ngập khu vực hồ Lắk-
Buôn Trấp là hết sức cấp thiết .
Có rất nhiều cách tiếp cận và giải quyết vấn đề lũ khác nhau. Trong những
năm gần đây, mô hình toán thuỷ văn - thuỷ lực được coi là một công cụ đắc lực
trong việc tính toán, nghiên cứu dòng chảy lũ. Hiện nay có nhiều mô hình được xây
dựng và ứng dụng rộng rãi trong thực tế, với mục đích tập làm quen với các mô

6. Bố cục của đồ án.
Đồ án gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục.
Bao gồm 4 chương:
• Chương I : Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội lưu vực sông Srêpôk
• Chương II : Tình hình lũ lụt khu vực hồ Lắk - Buôn Trấp và đề xuất mô hình
diễn toán ngập lụt.
• Chương III : Thiết lập mô hình toán xây dựng bản đồ ngập lụt vùng hồ
Lắk - Buôn Trấp.
• Chương IV : Xây dựng bản đồ ngập lụt khu vực nghiên cứu.
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư -Trang 3- Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai.
CHƯƠNG I
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK
1.1. Điều kiện tự nhiên.
1.1.1. Vị trí địa lý.
Lưu vực sông Srêpôk nằm trên cao nguyên trung phần Việt Nam và là một
tiểu lưu vực phía Đông của lưu vực Mê Kông, nằm trong phạm vi từ 11°53' đến
13°55' vĩ độ Bắc và từ 107°30' đến 108°45' kinh độ Đông. Tổng diện tích lưu vực là
30.900 km
2
, trong đó diện tích nằm trên lãnh thổ Việt Nam là 18.480 m
2
, được chia
ra làm 02 lưu vực độc lập nhau là lưu vực thượng Srêpôk có diện tích là 12.743 km
2
và lưu vực Ia Đrăng - Ea Lôp - Ea H'leo có diện tích là 5.737 km
2
bao gồm địa phận
hành chính của bốn tỉnh: tỉnh Đăk Lăk - 10.400 km

Như dãy Tây Khánh hòa có đỉnh Ca Đung cao 1978m, hòn Gia Lô 1817m. Dãy Tây
Khánh Hòa là đường chia nước giữa lưu vực sông Krông Ana và sông Đa Nhim.
Dãy Chư Yang Sin cấu tạo từ khối Granít nằm về phía nam vùng trũng Krông Pắk-
Lăk chạy theo hướng Đông bắc-Tây nam, là dãy có đỉnh cao nhất 2405m. Dãy Chư
Yang Sin dốc thẳng đứng trên thung lũng Krông Ana về phía Bắc, hạ thấp dần về
phía Tây phía Nam dãy Chư Yang Sin là thung lũng Krông Nô. Dãy Dan Sona-Ta
Dung dốc đứng trên thung lũng Krông Knô về phía Bắc, về phía Nam thoải dần tới
Cao Nguyên Lang Biang và Di Linh.
Địa hình thung lũng: Trong lưu vực có Bình nguyên Ea Soúp là một đồng
bằng bóc mòn có núi sót khá bằng phẳng, chưa bị phân sâu như các vùng khác, độ
cao 140-300m, thoải dần phía Tây. Ở đây gặp các núi sót tạo bởi đá mac ma, cao
400-800m là di tích của bề mặt san bằng cổ. Bề mặt đồng bằng Ea Soúp cắt vào bề
mặt Plioxen có phủ bazan của cao nguyên Plei Ku và Buôn Ma Thuột. Tích tụ bồi
tích rất hạn chế dọc theo các sông Ea Hleo, Ea Soúp. Ngay cả sông Srêpôk một
sông khá lớn cũng không tạo được bãi bồi nào quan trọng. Vùng trũng Krông Pắck-
Lắk ở phía nam cao nguyên Buôn Ma Thuột vốn là một thung lũng bóc mòn với
nhiều núi sót đã biến thành một cánh đồng tích tụ với đầm lầy và hồ Lắk rộng trên
800ha do lớp bazan đệ tứ lấp mất dòng chảy của Krông Ana.
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư -Trang 5- Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai.
Đặc thù quan trọng nhất về Lưu vực Srêpôk là sơn nguyên, bao gồm các dãy
núi cao trên 2000m chạy dọc Đông - Nam lưu vực, tiếp theo là các dãy núi thấp
dưới 2000 m và các cao nguyên với độ cao từ 300 - 800m thoái dần về phía Tây.
Diện tích và tỷ lệ diện tích theo các mức như sau:
Bảng 1-1: Diện tích và tỷ lệ diện tích theo độ cao trên lưu vực Srêpôk.
Độ cao Diện tích Tỷ lệ diện tích
< 200 m 227.672 km
2
12,51 %
201 - 400 m 466.062 km

phía Đông Nam lưu vực (dãy núi Chư Yang Sin) và nghiêng dần về phía Tây, từ đó
nước mưa chảy vào hệ thống sông Mê Kông, chỉ giữ lại một phần nhỏ. Điều đó ảnh
hưởng rất lớn đến điều kiện thủy văn và địa chất thủy văn trong lưu vực và giải
thích tại sao đối với lượng mưa trên lưu vực nhiều nhưng tài nguyên nước, kể cả
nước mặt lẫn nước dưới đất lại hạn chế, nhất là mùa khô.
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư -Trang 6- Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai.
Hình 1-2: Bản đồ phân vùng độ cao lưu vực sông Srêpôk.
1.1.3. Địa chất lưu vực sông Srêpôk.
a. Cấu trúc địa chất.
Lưu vực Srêpôk có cấu trúc địa chất khác nhau, chủ yếu phát triển trên nền
đá thuộc thời Trung sinh (Mesozoic), với các uốn nếp có tuổi từ Đại nguyên sinh
(Proterozoic) đến kỷ Phấn trắng (Creta). Đá mẹ, mẫu chất là yếu tố chi phối đến sự
hình thành đất tại chỗ và các vùng lân cận. Trên địa bàn lưu vực có các mẫu chất, đá
mẹ như sau:
• Đá mẹ, gồm các loại đá macma xâm nhập (granit, điorit, gran-odiorit), các
loại đá biến chất (gnai, phiến mica, quăczit) và các loại đá trầm tích (đá cát,
đá bột, đá sét). Với các hoạt động núi lửa phun trào, dòng dung nham bazan
phủ lên một phần các đá macma xâm nhập, trầm tích và biến chất, tạo nên
các cao nguyên bazan. Do quá trình xói mòn các cao nguyên bazan ngày nay
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư -Trang 7- Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai.
đã bị thu hẹp, nhiều nơi chỉ còn lại vết tích đá bazan (an khê, kon chro, )
hoặc các loại đá bị vùi lấp ở dưới đã lộ trên mặt đất (các vùng rìa cao nguyên
bazan).
• Đá macma axit có màu xám sáng, hàm lượng SiO2 khá cao 65- 75%, trong
khi đó hàm lượng CaO lại thấp 3,12%, tỉ lệ Al
2
O
3

độ phì tự nhiên thấp, có xu hướng bạc màu, nhiều nơi có đá ong, kết von
hình thành.
• Phù sa (contemporary loose deposits) là sản phẩm do sông suối bồi đắp, tích
đọng lại. Vật liệu được mài mòn và tuyển lựa kỹ. Quy luật phân bố hoàn toàn
phù hợp với động năng dòng chảy. Căn cứ vào tuổi của phù sa và quá trình
bồi đắp thường xuyên hay không để phân ra: phù sa cũ hay phù sa mới. Từ
sản phẩm phù sa hình thành các loại đất phù sa có độ màu mỡ cao, tầng đất
dày, địa hình bằng phẳng, gần nguồn nước. Mẫu chất phù sa phân bố ở ven
sông Krông Ana, sông Krông Pách, sông Krông Nô, sông Srêpôk và ở một
số suối lớn, tạo nên các loại đất phù sa.
• Dốc tụ là sản phẩm tích đọng của quá trình bào mòn được di chuyển không
xa lắm, mức độ mài mòn và chọn lọc kém. Các vật liệu hình thành đất phân
bố lộn xộn, không có quy luật Mẫu chất dốc tụ gặp rải rác ở các thung lũng
hẹp vùng núi, gò đồi, tạo nên các vùng đất có thành phần cơ giới không đồng
nhất với quá trình khủ là chủ đạo trong sự hình thành đất.
• Nét đặc trưng của địa chất lưu vực là sự có mặt của thành tạo địa chất cổ đới
Kon Tum có tuổi Proterozoi, với các thành phần thạch học chủ yếu bao gồm
nhóm đá Macma axit và đá biến chất phân bố ở M'Drak, Ea Kar, Krông
Bông và phần phía bắc Krông H'năng, Ea Hleo. Nhóm đá trầm tích lục
nguyên phân bố chủ yếu ở phía Tây lưu vực (Ea Soúp, Buôn Đôn, Cư Jút,
Lak, Krông Păk). Nhóm đá macmabazơ (chủ yếu là đá Bazan) có diện tích và
quy mô khá lớn phân bố tập trung chủ yếu ở hai cao nguyên BMT - Ea Hleo
và cao nguyên Đak Nông, một phần nhỏ ở cao nguyên M'Drăk. Nhóm trầm
tích bở rời phù sa và dốc tụ (aluvi, deluvi) phân bố ở địa hình thung lũng
sông và trũng giữa núi, ven rìa các cao nguyên và dọc theo các sông lớn.
b. Địa chất thủy văn.
Nước ngầm trên lưu vực chủ yếu ở trong các tầng đá trẻ, có các tầng chứa
nước chủ yếu sau:
 Trầm tích kỷ đệ tứ.
 Bazal trẻ.

Đồ án tốt nghiệp kỹ sư -Trang 10- Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai.
Bảng 1-2:Các nhóm đất chính trên lưu vực Srêpôk.
Nhóm đất Diện tích Tỷ lệ %
1. Nhóm đất phù sa: 23.762 ha 1,36%
2. Nhóm đất Glây 28.072 ha 1,55%
3. Nhóm đất mới biến đổi. 23.681 ha 1,31%
4. Nhóm đất đen 60.905 ha 3,36%
5. Nhóm đất nâu 193.752 ha 10,68%
6. Nhóm đất xám 767.508 ha 42,32%
7. Nhóm đất nâu thẩm 65.654 ha 3,62%
8. Nhóm đất đỏ 534.583 ha 29,48%
9. Nhóm đất có thành phần cơ
giới phân dị
3.810 ha 2,10%
10. Nhóm đất xói mòn đá mẹ
nông
71.198 ha 3,93%
11. Nhóm đất nứt nẻ. 6.282 ha 0,35%
1.1.5. Đặc điểm thảm phủ.
Rừng ở lưu vực chiếm phần lớn diện tích tự nhiên với tổng diện tích
977.175ha (năm 2004), đất có rừng và được chia ra thành các loại sau:
- Rừng nhiệt đới thường xanh: Phát triển chủ yếu trên địa hình núi cao,
tầng đất dày, hoặc ven các khe suối bao gồm nhiều tầng với nhiều loại cây.
- Rừng lá rụng: Là rừng rụng lá theo mùa còn gọi là rừng khộp, phát triển
chủ yếu trên địa hình bằng hoặc đồi lượn sóng với độ dốc thấp ở những khu vực
đất xám và điều kiện khí hậu khô nóng. Chúng thường rụng lá vào mùa khô.
- Rừng nửa lá rụng: Là loại rừng phân bố ở những vùng chuyển tiếp giữa
rừng thường xanh và rừng lá rụng theo mùa.
- Rừng tre, nứa hỗn hợp với các loài gỗ.
- Rừng trồng ở lưu vực chủ yếu là thông, keo, bạch đàn, tếch…

thành tại thác Buôn Đray tỉnh Đăk Nông. Dòng chính Srêpôk tương đối dốc, chảy
từ độ cao 400m ở nhập lưu xuống cao độ 150m ở biên giới Campuchia. Diện tích
lưu vực của đoạn dòng chính là 4.200km
2
với chiều dài sông 125km, có độ dốc
trung bình khoảng 2%o.
o Sông Krông Knô:
Sông Krông Knô bắt nguồn từ những dãy núi cao trên 2000m chạy dọc theo
biên giới phía nam tỉnh Đắk Lắk. Sau đó chuyển hướng chảy lên phía bắc nhập vào
sông Krông Ana tại thác Buôn Đray cùng đổ vào sông Srêpôk tại đây. Diện tích lưu
vực sông là 3.920km
2
và chiều dài dòng chính là 156km, độ dốc trung bình của
sông 6,8%o. Lưu vực sông có chiều dài 125km, cao độ bình quân 917m và độ dốc
trung bình của lưu vực là 17,6%.
Hình 1-4: Bản đồ mạng lưới sông suối lưu vực Srêpôk.
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư -Trang 13- Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai.
Sông Krông Knô bao gồm 2 nhánh sông chính là Đắk Krông Kma, Đắk
Mang và các sông suối nhỏ khác.
- Sông Đắk Krông Kma
Sông Đắk Krông Kma bắt nguồn từ dãy núi Chư Jang Sin có độ cao bình
quân trên 2.000m, hướng chảy chủ yếu là đông – tây. Đây là vùng núi cao, rừng còn
tương đối dày, độ dốc lòng sông khá lớn có thể đạt tới 40 – 50%o ở phần thượng
nguồn sông. Vùng thượng nguồn sông cũng là vùng có lượng mưa lớn đạt 2.000 –
2.200mm. Diện tích lưu vực là 147km
2
, dòng chính sông dài 22km. Độ dốc bình
quân lưu vực là 33,2% độ cao bình quân lưu vực là 1177m.
- Sông Đắk Mang

hậu tây Trường Sơn và khí hậu đông Trường Sơn.
- Sông Krông Bông
Sông Krông Bông có diện tích lưu vực 809km
2
, bắt nguồn từ dãy núi phía
Đông Trường Sơn, có đỉnh Chư Jang Sin cao 2.405m. Sông chảy theo hướng đông
– tây và nhập vào sông Krông Ana. Lưu vực sông chịu ảnh hưởng của khí hậu đông
và tây Trường Sơn với mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng XI. Vùng thượng
nguồn có lượng mưa năm tương đối lớn khoảng 2.000mm/năm. Vùng hạ lưu sông
có lượng mưa nhỏ hơn, lượng mưa năm khoảng 1.600 – 1.700 mm/năm.
o Sông Ea H’leo:
Sông Ea H’leo bắt nguồn từ đỉnh Ea Ban ở độ cao 720m trên địa phận xã Dle
Yang huyện Ea H’leo tỉnh Đắk Lăk. Sông có chiều dài 143km chảy qua địa phận
hai huyện Ea H’leo và Ea Soup trước khi hợp lưu với suối Ea Lốp cách biên giới
Việt Nam – Campuchia khoảng 1km rồi đổ vào sông Srêpôk trên đất Campuchia.
Diện tích lưu vực của Ea H’leo rộng 3.080km
2
nằm trên địa bàn 6 huyện thuộc hai
tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai. Sông Ea H’leo có các nhánh chính là Ea H’leo, Ea Soup,
Ea Drang và Ea Khah, ngoài ra còn có một số nhánh suối nhỏ.
- Nhánh Ea H’leo
Nhánh Ea H’leo là thượng nguồn của sông Ea H’leo, có diện tích lưu vực
638km
2
, chiều dài sông 82km.
- Suối Ea Soup
Suối Ea Soup là nhánh lớn nhất của Ea H’leo với diện tích lưu vực 994km
2
và chiều dài 104km. Các nhánh thượng nguồn bắt nguồn ở độ cao 300 – 400m,
phần trung và hạ lưu chảy qua vùng đất bằng phẳng trước khi nhập với Ea H’leo.

Tổng lượng d/chảy năm TBNN (tỷ) 4,502 3,874 2,477 4,389
Dân số TB (năm 2004 người) 320.469 796.209 676.051 95.342
Lượng nước TB (m
3
/người/năm) 14.048 4866 3664 46034
Tổng số công trình thủy lợi(12/2004) 93 149 357 58
Tổng số các hồ chứa 53 134 310 5
Tổng dung tích các hồ (10
6
m
3
) 186,011 125,275 131,801 24,754
Số đập 35 13 36 53
Số trạm bơm 5 2 11 0
1.2.2. Đặc trưng hình thái sông.
Bảng 1-5: Đặc trưng hình thái những sông nhánh trong lưu vực sông Srêpôk.
Sông F (km
2
)
Chiều dài
sông L (km)
Cao độ bình
quân lưu vực
Độ dốc lòng
sông (%o)
Krông Ana 3960 215 676 2,3
Krông Pach 690 74 752 5,8
Krông Buk 478 13 590 5,5
Krông Bông 788 73 950 9,2
Krông Knô 3920 156 917 6,8

6 Cầu 42 - H,Q,S 1969-1974 1977-2009
7 Krông Bông Krông Bông H,Q 1977-1986
8 Giang Sơn Krông Ana H,Q,S 1966-1974 1977-2012
9 Hồ Lăk - H 1977-1984
10 4-Aug - H 1977-1981
11 Buôn Trâp - H 1979-1981
12 Quyết Thắng Đăk Liêng H,Q 1988-1992
13 Đức Xuyên Krông Knô H,Q,S 1978-2012
14 Buôn Trấp 3 - H 1986-1988
16 Krông Pach Krông Pach H,Q 1980-1985
17 Đoàn Kết Ea Knir H,Q 1977-1987
18 Đăk Nông Đăk Nông H,Q,S 1977-2009
Ghi chú: H,Q,S là mực nước, lưu lượng, độ đục
1.2.4. Chế độ khí hậu, khí tượng.
1. Chế độ nhiệt :
Sinh viên: Vũ Trung Hải Lớp: 51G
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư -Trang 17- Ngành: Quản lý và giảm nhẹ thiên tai.
Khí hậu trên lưu vực sông Srêpôk thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa. Song
do vị trí địa lý và điều kiện địa hình nên khí hậu ở đây có nét riêng, mang sắc thái
khí hậu nhiệt đới gió mùa Tây Nguyên. Theo tài liệu khí tượng thuỷ văn tại các
trạm trên lưu vực, nhiệt độ trung bình năm khoảng 22-23
o
C ở vùng có độ cao 500 -
800m, vùng thấp hơn (dưới 500m) có nhiệt độ trung bình trên dưới 24
o
C. Tháng I
có nhiệt độ trung bình 20,3
o
C, tháng V có nhiệt độ trung bình 25,4
o


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status