TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
ĐẶNG ĐÌNH KÝ
LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC MẠNH TỐC ĐỘ KỸ THUẬT ĐÁ
MÓC CÂU (NAKKA CHAGI) CHO NAM
VÕ SINH CLB TAEKWONDO TRƢỜNG
THPT YÊN DŨNG 2 - BẮC GIANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP GDTC Hƣớng dẫn khoa học:
Th.s LÊ XUÂN ĐIỆP
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cm : Centimet
Cm
2
: Centimét vuông
CLB : Câu lạc bộ
đ : Điểm
ĐC : Đối chứng
HLV : Huấn luyện viên
Kg : Kilôgam
KT : Kiểm tra
m : Mét
Max : Giá trị lớn nhất
n : Số người
NXB : Nhà xuất bản
QN : Quãng nghỉ
s : Giây
Sl : Số lần
TDTT : Thể dục thể thao
TG : Thời gian
TN : Thực nghiệm
TT : Thứ tự
TTN : Trước thực nghiệm
Sự phát triển của Taekwondo ở Việt Nam và tỉnh Bắc Giang
7
1.2
Cơ sở lý luận của huấn luyện thể lực trong thể thao
9
1.2.1
Huấn luyện thể lực
9
1.2.2
Huấn luyện thể lực chung
10
1.2.3
Huấn luyện thể lực chuyên môn
10
1.3
Cơ sở lý luận của huấn luyện SMTĐ
10
1.4
Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi
11
1.4.1
Đặc điểm sinh lý lứa tuổi
11
1.4.2
Đặc điểm tâm lý lứa tuổi
13
1.5
Nguyên lý và phƣơng hƣớng phát triển SMTĐ cho kỹ thuật đá
móc câu cho nam võ sinh CLB Taekwondo trƣờng THPT Yên
Dũng 2 – Bắc Giang.
2.2.6
Phương pháp toán học thống kê
18
2.3
Tổ chức nghiên cứu
19
2.3.1
Thời gian nghiên cứu
19
2.3.2
Đối tượng nghiên cứu
20
2.3.3
Địa điểm nghiên cứu
21
2.3.4
Trang thiết bị nghiên cứu
21
: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
22
3.1
Giải quyết nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng, hiệu quả kỹ thuật
đá móc câu và lựa chọn Test đánh giá các bài tập sức mạnh tốc
độ cho nam võ sinh CLB Taekwondo trƣờng THPT Yên Dũng 2
– Bắc Giang
22
3.1.1
Đánh giá thực trạng việc sử dụng kỹ thuật móc câu của nam võ sinh
CLB Taekwondo Trường THPT Yên Dũng 2 – Bắc Giang.
22
3.2.5
So sánh kết quả TN.
39
3.2.6
So sánh hai trị số trung bình quan sát các tets kiểm tra TTN và STN
của hai nhóm ĐC và TN.
40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
46
1
Kết luận
45
2
Kiến nghị
46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Bảng 3.5. Hệ số tương quan giữa 2 lần lập test và giữa kết quả lập test
26
6
Bảng 3.6. Kết quả phỏng vấn lựa chọn các bài tập phát triển SMTĐ kỹ
thuật đá móc câu cho nam võ sinh CLB Taekwondo trường THPT
Yên Dũng 2 ( n = 25)
30
7
Bảng 3.7. So sánh kết quả các test đánh giá của hai nhóm ĐC và TN
(TTN)
34
8
Bảng 3.8 Xây dựng kế hoạch huấn luyện 3 tháng cho nhóm TN
37
9
Bảng 3.9. So sánh kết quả các test đánh giá của hai nhóm ĐC và TN
(STN)
39
10
Bảng 3.10. Kết quả test kiểm tra TTN và STN của nhóm ĐC
40
11
Bảng 3.11. Kết quả các test kiểm tra TTN và STN của nhóm TN
41
12
Biểu đồ 3.1. Biểu diễn kết quả bật đổi chân liên tục đá chân sang 2
bên liên tục 20s/số lần TNN và STN
42
13
Biểu đồ 3.2. Biểu diễn kết quả Bật cao gối tại chỗ 30s/số lần TNN và
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong công cuộc đổi mới đất nước, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã
hội, thể dục thể thao (TDTT) cũng ngày càng được phát triển mạnh mẽ và là một bộ
phận không thể thiếu được trong giáo dục con người phát triển cân đối toàn diện về
trí dục - đức dục - thể dục - mỹ dục và giáo dục lao động. Tập luyện TDTT giúp cho
con người nâng cao sức khỏe, hoàn thiện thể chất góp phần vào việc đẩy mạnh sản
xuất, phát triển kinh tế, xây dựng đất nước và bảo về tổ quốc. TDTT còn được coi là
sứ giả của hòa bình, là cầu nối giữa các dân tộc trên thế giới, mở rộng quan hệ ngoại
giao thúc đẩy kinh tế phát triển nâng cao vị thế quốc gia. Điều đó được ghi trong chỉ
thị 227 của ban bí thư trung ương Đảng: “Thể dục thể thao góp phấn khôi phục,
tăng cường sức khỏe cho nhân dân, góp phần xây dựng con người mới phát triển
toàn diện để phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa” [6]
Có được điều đó là nhờ sự quan tâm và đầu tư đúng hướng của Đảng và Nhà
nước, TDTT đang ngày một phát triển. Đặc biệt chú trọng đến phát triển các môn
thể thao mũi nhọn. Ngoài điền kinh, bắn súng, bơi lội thì võ thuật nói chung và
Taekwondo nói riêng đã góp phần nâng cao thành tích chung của đoàn Thể thao
Việt Nam trong các kỳ Đại hội TDTT trong khu vực và quốc tế. Đồng thời đánh dấu
những tố chất thể lực đặc thù của môn Taekwondo. Do đó bên cạnh phát triển
những tố chất khác thì phát triển SMTĐ là yếu tố hết sức quan trọng, cần thiết nó
quyết định hiệu quả trong tập luyện và thi đấu thể thao thành tích cao.
Trong hệ thống kỹ thuật cơ bản môn Taekwondo, các kỹ thuật quan trọng
thường được sử dụng và có hiệu quả cao như: đá đôi (Huygo Chagi), đá vòng cầu
(Dollyo Chagi), đá chẻ (Naeryo Chagi)… được các nhà chuyên môn và khoa học rất
quan tâm huấn luyện, nghiên cứu nâng cao hiệu quả vì vậy có rất nhiều đề tài khoa
học liên quan tới các kỹ thuật nói trên, như đề tài của sinh viên Nguyễn Đức Duy
K34 – GDTC với đề tài “Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tốc độ kỹ thuật đá
vòng cầu (Dollyo Chagi) cho nam võ sinh CLB Taekwondo trường THPT Yên Dũng
2 – Bắc Giang”. Tuy nhiên, đá móc câu (Nakka Chagi) là một kỹ thuật quan trọng
3
giống như các kỹ thuật trên, thậm chí kỹ thuật đá móc câu còn được coi là một đòn
sát thủ vì tỷ lệ sử dụng gây Knock down trong thi đấu chiếm ưu thế tới 46% nhưng
lại không được quan tâm đúng mức, hiện chưa có đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu
về vấn đề này cho các võ sinh cấp CLB.
Thực tế quan sát việc tập luyện và thi đấu của các võ sinh CLB Taekwondo
trường THPT Yên Dũng 2 chúng tôi thấy các nam võ sinh sử dụng kỹ thuật đá móc
câu (Nakka Chagi) nhiều hơn các nữ võ sinh thế nhưng các võ sinh nam sử dụng
đòn đá này còn chậm, yếu chưa thực sự phát huy được SMTĐ cũng như các yếu
lĩnh của kỹ thuật này.
Vì vậy việc lựa chọn bài tập phát triển SMTĐ kỹ thuật đá móc câu cho phù
hợp với nam võ sinh CLB Taekwondo trường THPT Yên Dũng 2 – Bắc Giang,
được đặt ra là một yêu cầu thực tế. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh
dạn nghiên cứu đề tài:
Chagi -
Giang"
* Mục đích nghiên cứu của đề tài:
5
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lƣợc về lịch sử phát triển môn Taekwondo thế giới và Việt Nam.
1.1.1.1.Lịch sử phát triển Taekwondo ở Hàn Quốc
Võ thuật ở Hàn Quốc có lịch sử lâu đời bắt đầu từ thời cổ đại. Taekwondo,
môn võ thuật của Hàn Quốc, có thể bắt nguồn từ triều đại Hoguryo năm 37 trước
Công nguyên. Người ta đã phát hiện ra tại di tích của mồ mả hoàng gia
Muyongchong và Kakchu-chong xây cất trong khoảng từ năm thứ 3 đến năm 427
nhiều bức tranh vẽ trên tường có cảnh những người đàn ông đang tập luyện
Taekwondo. Trên trần của Muyong-chong có bức tranh miêu tả cảnh hai người đàn
ông đối diện nhau trong một tư thế tập luyện Taekwondo. Khởi đầu, môn võ thuật
này có tên là Subakhi. Taekwondo cũng được tập luyện tại Silla một vương quốc
được thành lập ở đông nam Triều Tiên vào khoảng 20 năm trước triều đại Koguryo
ở phía bắc. Tại Kyongju, kinh đô trước đây của Silla, hình hai vị Kim Cang trừ ma
diệt quỷ bảo vệ Phật giáo trong tư thế tấn Taekwondo được khắc trên bức tường
Taekwondo được xem như môn thể thao thế giới tại Giải Vô địch Thế giới lần 1
được tổ chức tại Seoul 1973 với 19 quốc gia tham dự. Tại cuộc họp ở Seoul được tổ
chức bên lề của giải Vô địch Taekwondo Thế giới lần 1, đại diện của các quốc gia
tham dự đã thành lập Liên đoàn Taekwondo Thế giới.Từ đó, giải Vô địch
Taekwondo Thế giới được tổ chức 2 năm một lần.
1.1.1.2. Sự phát triển của Taekwondo hiện nay trên toàn thế giới.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền văn minh nhân loại,
môn võ Taekwondo cũng ngày càng được phát triển và truyền bá rộng khắp và là
môn thể thao thi đấu mang tính quốc tế, là môn thi đấu chính thức trong Đại hội thể
thao Đông Nam Á. Giải vô địch Taekwondo thế giới vẫn được tổ chức định kỳ hai
năm một lần với sự tham gia của các liên đoàn Taekwondo quốc gia như: Áo, Tây
Ban Nha, Philippin, Việt Nam, Myanma, Lào, Đức, Pháp, Anh, Nhật Bản, Mỹ,
Canada
7
Năm 1975 Taekwondo đã được hiệp hội điền kinh nghiệp dư Mỹ (AAU) và
Tổng hiệp hội các Liên đoàn Thể thao Quốc tế(GAISF) công nhận là môn thể thao
thhi đấu chính thức và một năm sau nó cũng đã được Uỷ ban Thể thao Quân đội
Quốc tế (CISM)công nhận.
Năm 1979 chủ tịch Liên đoàn Taekwondo Thế giới (WTF) đã được bầu là
Chủ tịch của các Liên đoàn thể thao phi Olympic.
Năm 1980 Liên đoàn Taewondo Thế giới (WTF) đã được Uỷ ban Olympic
Quốc tế(IOC) công nhận và điều này đã biến Taekwondo trở thành môn thể thao
Olympic. Sau đó Taekwondo còn được đưa vào thi đấu chính thức tại cúp thế giới
năm 1981, Đại hội Thể thao toàn phi năm 1986 và Đại hội Olympic Sydney năm
2000, Athens năm 2004.
Năm 1962 Taekwondo chính thức được du nhập vào miền Nam nước ta
thông qua các chuyến lưu diễn của các đoàn Taekwondo Triều Tiên và việc mở các
lớp giảng dạy chính thức tại Sài Gòn do thầy Kim Boang Son đảm nhiệm. Khoá học
dù đã có rất nhiều cố gắng.
* Những mặt mạnh của phong trào Taekwondo Bắc Giang nói chung và CLB
Taekwondo trường THPT Yên Dũng 2 nói riêng.
- Được tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân quan tâm tạo điều kiện
cho công tác phát triển TDTT, Uỷ ban TDTT đã quan tâm và đầu tư thảm tập luyện
và thi đấu, đào tạo, bồi dưỡng huấn luyện viên.
- Được lãnh đạo ngành chỉ đạo sát sao công tác đào tạo, HL và thi đấu.
- Là một tỉnh có phong trào tập luyện Taekwondo phát triển liên tục và
thường xuyên có sự hỗ trợ của Hà Nội, Thanh Hóa và nhiều địa phương khác.
* Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi thì Bắc Giang còn gặp nhiều những
hạn chế và khó khăn:
- Đội ngũ huấn luyện viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên.
- Thành tích thi đấu nói chung còn thấp và không ổn định so với các tỉnh
thành, ngành trong cả nước.
9
Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống cơ sở vật chất chưa đảm bảo, phương
pháp sử dụng các bài tập chưa có hệ thống, công tác huấn luyện chưa được thực
hiện nghiêm túc, đầy đủ do rất nhiều lý do khách quan về điều kiện kinh tế, xã hội
của tỉnh, mức sống của nhân dân còn thấp. Do đó ảnh hưởng đến việc nâng cao
thành tích cho tỉnh Bắc Giang.
1.2. Cơ sở lý luận của huấn luyện thể lực trong thể thao.
Thể thao thành tích cao là một trong những lĩnh vực quan tâm đặc biệt, nó
thể hiện khát vọng vươn lên khả năng cao nhất của con người. Vì vậy, tiềm năng
của con người đã và đang được khai thác triệt để nhằm đạt thể thao thành tích cao
nhất trong các cuộc thi đấu khu vực và quốc tế đem lại vinh quang cho tổ quốc. Các
khả năng về kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, tâm lý, ý chí của VĐV là yếu tố quyết
định đến thành tích thể thao. Trong đó khái niệm thể lực, đặc biệt là thể lực chung
và thể lực chuyên môn giữ vai trò nền tảng.
c.
Sức mạnh của con người là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài
hoặc đối kháng lại nó bằng sự nỗ lực của cơ bắp.
Có thể phân chia sức mạnh thành hai loại:
- Sức mạnh đơn thuần: là khả năng sinh lực trong động tác chậm hoặc tĩnh.
- Sức mạnh tốc độ: Là khả năng sinh lực trong động tác nhanh.
Trong hoạt động thể thao sức mạnh luôn có quan hệ với tố chất khác, cụ thể
là với sức nhanh và sức bền. Do đó các năng lực sức mạnh được chia thành ba hình
thức : sức mạnh tối đa, sức mạnh nhanh, sức mạnh bền.
Trong đó, sức mạnh tốc độ là sức mạnh nhanh nhất mà VĐV có thể thực hiện
được khi co cơ tối đa theo ý muốn và nó rất cần cho môn thể thao đối kháng.
Chỉ số SMTĐ được tính theo công thức:
max
max
t
F
I
Trong đó: I : là SMTĐ
F
max
: là trị số SMTĐ
t
max
: là thời gian đạt trị số lực tối đa
11
SMTĐ là tố chất đặc thù của phần lớn các môn thể thao nói chung và môn
Taekwondo nói riêng.
SMTĐ phụ thuộc vào cấu trúc giải phẫu của cơ thể, sự phối hợp linh hoạt của
các nhóm cơ và các khớp của từng bộ phận dưới sự chỉ đạo của hệ thần kinh trung
hệ thống tín hiệu II phát triển và hoàn thiện nên sự kìm chế bản thân đã được củng
cố hơn, cơ quan tiền đình phát triển tốt, khả năng tiếp thu và hình thành kỹ thuật
động tác nhanh.
b. Hệ vận động
- Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển xương của các em nữ phát triển
kém hơn các em nam, mỗi năm nữ cao thêm 0.5 - 1cm. Ở lứa tuổi này các xương
nhỏ như xương cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo. Riêng
các em nữ xương xốp hơn các em nam, ống tủy rỗng hơn, chiều dài ngắn hơn, bắp
thịt nhỏ hơn và yếu hơn nên xương của nữ không khỏe bằng nam. Đặc biệt xương
chậu của nữ to và yếu hơn. Vì vậy không thể sử dụng các bài tập có khối lượng và
cường độ vận động như nam cần phải có sự phù hợp về đặc điểm giới tính.
- Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển chậm hơn xương, các bắp cơ lớn phát triển
tương đối nhanh, còn các cơ nhỏ phát triển chậm hơn, các cơ co phát triển sớm hơn
các cơ duỗi. Các cơ duỗi của nữ lại càng yếu ảnh hưởng đến việc phát triển sức
mạnh. Vì vậy, nếu được tập luyện một cách có khoa học thì các loại cơ đều được
phát triển và hoàn thiện ở mức cao.
c. Hệ tuần hoàn:
Ở lứa tuổi 16 - 18 hệ tuần hoàn đang phát triển và đi đến hoàn thiện. Buồng
tim phát triển tương đối hoàn chỉnh. Mạch đập của nam từ 80 đến 90 lần/phút. Phản
ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt. Sau vận động mạch đập và
huyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng. Huyết áp khoảng 150/70 5mmHg. Cho
nên lứa tuổi này có thể tập những bài tập chạy dai sức và những bài tập có khối
lượng và cường độ vận động tương đối lớn hơn học sinh trung học cơ sở.
d. Hệ hô hấp
Đã phát triển và tương đối hoàn thiện vòng ngực trung bình của nam từ
69 - 74 cm. Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100 - 120 m
2
gần bằng tuổi trưởng
thành. Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng khoảng 3 - 4 lít, tần số hô hấp gần
giống người lớn từ 10 - 20 lần/phút. Tuy nhiên cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co
14
- Trí nhớ: Trí nhớ của các em hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớ máy
móc do các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic. Tư duy tỏ ra
chặt chẽ, nhất quán, biết phân biệt giữa bản chất và hiện tượng, biết đi sâu và lĩnh
hội được bản chất của vấn đề, tư duy trở nên sâu sắc nhờ sự khái quát, hình tượng
hóa phát triển cao. Ở lứa tuổi này các em thích triết lý, thích suy luận, dẫn đến hiện
tượng là hay kết luận vội vàng, thiếu khái quát, xa rời lý thuyết và thực hành. Lứa
tuổi này gắn liền với tính độc lập, nhờ đó mà có được thái độ dứt khoát trong hành
động. Ý chí rõ ràng và mạnh mẽ hơn. Do đó các em có thể vượt qua mọi thử thách
và đòi hỏi sự khắc phục khó khăn lớn trên bước đường đi của mình. Đối với lứa tuổi
này những khó khăn trở ngại thường hay hấp dẫn và thôi thúc họ chinh phục.
1.5. Nguyên lý kỹ thuật đá móc câu và phƣơng hƣớng phát triển ứng dụng đòn
đá móc câu cho nam võ sinh CLB Taekwondo trƣờng THPT Yên Dũng 2.
- Kỹ thuật của đòn đá Nakka Chagi: Kỹ thuật Nakka Chagi hay còn gọi là kĩ
thuật đá móc câu.
- Tư thế chuẩn bị: Người tập đứng ở tư thế thủ, chân trước chân sau, 2 chân
rộng bằng vai, mắt nhìn đối thủ, hai tay thủ trước ngực. Trọng tâm dồn đều vào 2
chân, thân người thẳng.
- Thưc hiện động tác: Bước lướt 2 chân về phía trước (cách thức bước lướt:
chân trước bước nhanh về trước, chân sau đuổi theo), chân sau làm trụ, mũi chân
mở ra phía ngoài để giúp việc mở hông dễ hơn, chân trước lăng lên, khớp gối co và
nhanh chóng tung gót chân lăng bằng cách duỗi nhanh cẳng chân sau đó co lại.
- Kết thúc: Về tư thế thủ để thực hiện động tác tiếp.
Về đặc điểm: trong các kĩ thuật của đòn chân, đá móc câu là một kĩ thuật
khó, lối đá này sử dụng trong song đấu tự do như một đòn khởi đầu hay là một đòn
Knock down. Kĩ thuật đá này cần được thực hiện bằng cách gập gối lại để thực hiện
đòn đá giống như hình lưỡi câu, giả sử khi thực hiện hỏng đòn đá vòng cầu thì phải
ngay lập tức gập khớp gối và đá vòng ngược trở lại để tấn công vào phần sau đầu
của đối phương bằng gót chân, mũi bàn chân.
16
CHƢƠNG2: NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của để tài chúng tôi tiến hành giải quyết hai nhiệm vụ:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng, hiệu quả kỹ thuật đá móc câu và lựa
chọnTest đánh giá các bài tập SMTĐ cho nam võ sinh CLB Taekwondo trường
THPT Yên Dũng 2 - Bắc Giang.
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển
SMTĐ cho nam võ sinh CLB Taekwondo trường THPT Yên Dũng 2– Bắc Giang.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các tài
liệu khoa học, tài liệu lưu trữ để xác định hiện trạng vấn đề nghiên cứu đó là lựa
chọn ra các bài tập một cách chính xác hơn.Các tài liệu tham khảo được trình bày
trong danh mục các tài liệu tham khảo.
Tổng hợp tri thức của những tài liệu nêu trên giúp chúng tôi hình thành dự
báo khoa học, mục đích nghiên cứu cũng như hướng và phương pháp giải quyết
nhiệm vụ nghiên cứu.Cũng từ những phương pháp này chúng tôi đánh giá và phân
tích các chương trình huấn luyện môn Taekwondo trong những năm gần đây. Qua
đó chúng tôi nghiên cứu lựa chọn các bài tập phát triển SMTĐ cho nam võ sinh
CLB Taekwondo trường THPT Yên Dũng 2 - Bắc Giang, với yêu cầu cố gắng, phù
hợp với tình hình thực tế và có được tính khoa học hợp lý.
2.2.2
Chúng tôi quan sát trực tiếp tình hình tập luyện của các CLB Taekwondo
trong thành phố để thống kê việc sử dụng bài tập phát triển SMTĐ.
Chỉ có thông qua thực tiễn kiểm chứng thực nghiệm sư phạm mới đủ cơ sở
tin cậy để xác định vấn đề được giải quyết có lý lẽ khoa học.
Sau khi tiến hành kiểm tra ban đầu chúng tôi chia nhóm đối tượng nghiên
cứu thành hai nhóm đối tượng thuộc trường THPT Yên Dũng 2-Bắc Giang: