VÕ HỮU NGHỊ
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG YUCCA
SCHIDIGERA LÊN KHẢ NĂNG TĂNG
TRƯỞNG CỦA GÀ THỊT COBB 500
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: CHĂN NUÔI - THÚ Y
MSSV: 3108144
Lớp: CNTY K36
2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG YUCCA
SCHIDIGERA LÊN KHẢ NĂNG TĂNG
TRƯỞNG CỦA GÀ THỊT COBB 500 Luận văn tốt nghiệp
Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y
Cần Thơ, ngày tháng năm Cần Thơ, ngày tháng năm Tác giả Võ Hữu Nghị
ii
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT viii
TÓM LƯỢC ix
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ GIỐNG GÀ COBB 500 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.1.2 Đặc điểm và ngoại hình 3
2.2 SỰ TIÊU HÓA Ở GÀ 4
2.2.1 Tiêu hóa ở miệng 5
2.2.2 Tiêu hóa ở diều 5
2.2.3 Tiêu hóa ở dạ dày 5
2.2.4 Tiêu hóa ở ruột 6
2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG
SUẤT CỦA GÀ 6
3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 20
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.2.2 Quy trình phòng bệnh tại trại 21
3.2.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 21
3.2.3.1 Chế độ chiếu sáng 21
3.2.3.2 Chế độ thông thoáng và vệ sinh chuồng trại 21
3.2.3.3 Khẩu phần cơ sở của gà thí nghiệm 22
3.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 22
3.2.5 Hiệu quả kinh tế 24
3.2.6 Xử lý số liệu 24 v
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ ĐỘ ẨM LÊN SỰ SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GÀ COBB 500 25
4.2 TỈ LỆ HAO HỤT 26
4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG BỘT YUCCA ĐẾN SỰ SINH
TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GÀ COBB 500 28
4.3.1 Khối lượng của gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi 28
4.3.2 Tiêu tốn thức ăn của gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi 30
4.3.3 Tăng trọng tích lũy của gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi 31
4.3.4 Tăng trọng tuyệt đối của gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi 32
4.3.5 Hệ số chuyển hóa thức ăn của gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi 33
4.4 HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG VIỆC BỔ SUNG BỘT YUCCA VÀO
KHẨU PHẦN ĂN CHO GÀ THỊT COBB 500 34
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
5.1 KẾT LUẬN 36
5.2 ĐỀ NGHỊ 36
Bảng 4.2: Tỉ lệ hao hụt và loại thải của đàn gà thí nghiệm Cobb 500 27
Bảng 4.3: Khối lượng gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi 28
Bảng 4.4: Tiêu tốn thức ăn của gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi 30
Bảng 4.5: Tăng trọng tích lũy của gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi 31
Bảng 4.6: tăng trọng tuyệt đối của gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi 32
Bảng 4.7: Hệ số chuyển hóa thức ăn của gà thịt Cobb 500 qua các tuần tuổi .33
Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế trong việc bổ sung bột Yucca vào khẩu phần ăn cho
gà thịt Cobb 500 34 vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Gà Cobb 500 3
Hình 2.2 Hệ thống biểu thị năng lượng của gia cầm 11
Hình 2.3 Cây Yucca schidigera 14
Hình 3.1 Trại gà thí nghiệm 18
Hình 3.2 Mô hình chuồng trại 19
Hình 3.3 Hệ thống máng ăn và núm uống 19
Hình 3.4 Thức ăn hỗn hợp dạng viên 20
CHỮ VIẾT TẮT
NT
TN
KPCS
NT ĐC
NT1
NT2
TÓM LƯỢC
Thí nghiệm “Ảnh hưởng của việc bổ sung Yucca schidigera lên khả năng tăng
trưởng của gà thịt Cobb 500” được thực hiện nhằm tìm ra một khẩu phần thích hợp có tác
động tốt nhất lên khả năng sinh trưởng và phát triển của gà thịt Cobb 500. Thí nghiệm được
bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn nghiệm thức thể hiện qua 4 khẩu phần ăn
khác nhau như sau: nghiệm thức đối chứng (ĐC) chỉ bao gồm thức ăn của cơ sở (KPCS),
nghiệm thức 1 (NT1) gồm KPCS + 50 mg bột Yucca/kg thức ăn, nghiệm thức 2 (NT2) gồm
KPCS + 125mg bột Yucca/kg thức ăn, nghiệm thức 3 (NT3) gồm KPCS + 250mg bột
Yucca/kg thức ăn. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, mỗi lặp lại là 30 con gà, được thực hiện tại
thị trấn Mỹ Phước – Huyện Mỹ Phước – Ti ền Giang từ ngày 19 tháng 9 năm 2013 đến ngày
7 tháng 10 năm 2013.
Kết quả thu được như sau: khối lượng gà qua các giai đoạn nuôi 21 ngày tuổi, 28
ngày tuổi và 39 ngày tuổi không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức
(P > 0,05). Tuy nhiên, khối lượng của gà thịt Cobb 500 ở 35 ngày tuổi lại có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê (P < 0,05) trong đó cao nhất là NT1 (2693,3 g) và NT2 (2686,7 g); thấp
nhất là ĐC (2563,3 g). Tiêu tốn thức ăn (TTTA), tăng trọng tuyệt đối (TTTĐ) và hệ số chuyển
hóa thức ăn (HSCHTA) của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi khác biệt không có ý nghĩa
thống kê giữa các nghiệm thức (P > 0,05). Ngược lại, tăng trọng tích lũy của gà thí nghiệm
ở giai đoạn từ 21 – 35 ngày tuổi cao nhất là nghiệm thức 1 và nghiệm thức 2 (117,25
g/con/ngày) và thấp nhất là nghiệm thức đối chứng (114,31 g/con/ngày) (P < 0,05). Qua kết
quả thu được nhận thấy rằng nghiệm thức 1 (KPCS + 50 mg bột Yucca) và nghiệm thức 2
(KPCS +125mg bột Yucca) đạt kết quả cao nhất về khối lượng và tăng trọng tích lũy, đem lại
hiệu quả kinh tế tốt nhất cho người chăn nuôi. 1
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay chăn nuôi gà công nghiệp đã và đang phát triển mạnh cung cấp
Cho đến nay có rất ít nghiên cứu về việc bổ sung bột Yucca vào khẩu ăn
của gà thịt với các mức hợp lý để có được hiệu quả kinh tế tối ưu. Trên thực
tiễn trên, thí nghiệm được tiến hành ở trại chăn nuôi gà Cobb 500: “Ảnh
hưởng của việc bổ sung Yucca schidigera lên khả năng tăng trưởng của gà
thịt Cobb 500”. 2
Mục tiêu đề tài: Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung bột Yucca vào
trong khẩu phần của gà thịt Cobb 500, từ đó tìm ra khẩu phần phù hợp nhất để
khuyến cáo cho người chăn nuôi. 4
Bảng 2.1: Chỉ tiêu sản xuất của gà trống Cobb 500
Tuần tuổi Ngày tuổi Khối lượng bình quân (g) Hệ số chuyển hoá thức ăn
1 7 170 0,836
2 14 499 1,047
3 21 885 1,243
4 28 1478 1,417
5 35 2155 1,596
6 42 2839 1,700
7 49 3486 1,847
(Nguồn: Trần Văn Đạt, 2009)
Bảng 2.2: Chỉ tiêu sản xuất của gà mái Cobb 500
Tuần tuổi Ngày tuổi Khối lượng bình quân (g) Hệ số chuyển hoá thức ăn
1 7 158 0,876
2 14 411 1,071
3 21 801 1,280
4 28 1316 1,475
5 35 1879 1,653
6 42 2412 1,820
7 49 2867 1,988
(Nguồn: Trần Văn Đạt, 2009)
Bảng 2.3: Chỉ tiêu sản xuất bình quân của gà Cobb 500
Tuần tuổi Ngày tuổi Khối lượng bình quân (g) Hệ số chuyển hoá thức ăn
1 7 164 0,856
2 14 430 1,059
cầm (vịt, ngỗng) sự phình to này ít hơn và tạo thành dạng ống (hình chai). Sự
sai khác về giải phẫu này cho phép nhồi béo thuỷ cầm mà ở gà không làm
được.
2.2.2 Sự tiêu hoá ở diều
Diều là một túi chứa thức ăn ở gia cầm. Sức chứa của diều từ 100 – 200
g. Thức ăn được giữ ở diều với thời gian phụ thuộc vào loại gia cầm và các
loại thức ăn. Thức ăn cứng khoảng 10 – 15 giờ, thức ăn mềm, bột khoảng 3 –
4 giờ. Thức ăn từ diều được chuyển dần xuống dạ dày tuyến.
Nếu làm thí nghiệm cắt diều của gà đi, thức ăn đi qua ống tiêu hoá nhanh
hơn nhưng sự tiêu hoá lại giảm đi một cách đáng kể, gà đẻ sút cân. Sau một
thời gian, cơ thể sẽ lại tạo ra một cái diều mới, bên trên chỗ diều cũ.
2.2.3 Sự tiêu hoá ở dạ dày
Dạ dày tuyến có dạng hình chai. Trong dạ dày tuyến có chất tiết chứa
men pepsin và acid clohidric. Thức ăn được giữ lại trong dạ dày tuyến là
không lâu, sức tiêu hoá tại đây là không đáng kể. Tại dạ dày tuyến có sự phân
giải protid và đồng hoá chất khoáng.
Dạ dày cơ (Mề) có dạng hình tròn hoặc ô van, có hai thành cứng, phía
trong được phủ lớp niêm mạc dày, cứng (Màng sừng). Chất tiết trong dạ dày
cơ có dạng lỏng, có pH = 3 – 4,5. Thành phần dịch dạ dày gồm nước, acid
clohidric, men pepsin. Trong dạ dày cơ luôn luôn có cát sỏi hỗ trợ cho sự tiêu
hoá. Ở dạ dày cơ, hydratcacbon được cắt ngắn, chia nhỏ ra, protid phân giải
thành các peptid và acid amin tuy chưa thật triệt để (Ju và Echver, 1984).
Theo Ju và Echver (1984) thì màng sừng của mề luôn bị mòn đi, nhưng nhờ sự
dầy lên ở đáy nên chiều dày của nó được ổn định. Ngoài ý nghĩa cơ học, màng
sừng còn giữ cho vách dạ dày khỏi bị tác động của những yếu tố bất lợi. Màng 6
sừng bền với pepsin, không bị hoà tan trong các acid loãng, kiềm và các dung
NĂNG SUẤT CỦA GÀ
2.3.1 Điều kiện tiểu khí hậu
Nhìn chung, nước ta nằm trong vùng nhiệt độ gió mùa nhưng do sự
chênh lệch về vĩ độ và có những đặc điểm khác nhau về địa lý nên từng vùng
có những đặc trưng riêng. Hơn nữa do đặc điểm của ngành kinh tế chưa phát
triển tới mức có thể hạn chế được những điều kiện khắc nghiệt của khí hậu nên 7
ở nhiều vùng, nhất là các vùng ở miền núi thì ngành chăn nuôi chỉ là một
ngành rất phụ. Ở nước ta hầu hết các giống gia cầm đều được tạo ra từ lâu từ
những vùng có khí hậu tương đối ổn định như vùng đồng bằng hoặc những
vùng thấp ở trung du (Đào Đức Long, 2004).
Môi trường sống ảnh hưởng lớn đến sự sinh tồn và phát triển của vật
nuôi. Trong điều kiện hoang dã động vật tự thích nghi với môi trường xung
quanh để tồn tại, những cá thể không thích nghi, không chịu đựng được sẽ
không tồn tại và tử số khá cao.
Theo Lê Viết Ly (1995), hơi nước trong chuồng nuôi có khoảng 75%
được sản sinh từ cơ thể gia súc, 20 – 25% từ Thức ăn, nước uống, chất độn
chuồng,… và 10 – 15% do không khí bên ngoài chuồng trại đưa vào.
Sự biến đổi của độ ẩm và nhiệt độ không khí chuồng nuôi tương đối
thích ứng với nhau. Ban đêm độ ẩm tuyệt đối tăng, buổi sớm và ban ngày
giảm. Càng gần mái chuồng độ ẩm tuyệt đối càng lớn do phần lớn hơi nước
tích tụ ở trên cao, nơi có nhiệt độ cao. Mặt khác lại them hơi thở của gia súc
cũng góp phần đẩy không khí nóng lên cao. Do vậy, dễ xuất hiện các giọt nước
đọng ở mái chuồng gây mất vệ sinh, ảnh hưởng tới sức khoẻ gia súc.
Theo Lê Viết Ly (1995), độ ẩm tương đối từ 55 – 85%, mức độ ảnh
hưởng đến cơ thể chưa rõ rệt nhưng khi độ ẩm lớn hơn 90% thì sẽ ảnh hưởng
rất lớn. Bất kỳ nhiệt độ không khí cao hay thấp, chuồng trại ẩm ướt đều không
trong nhiệt độ thấp đến mức –14
0
C trong vòng 1 giờ, lông được dựng thẳng
lên để bảo vệ duy trì thân nhiệt hoặc rùng mình để phản ứng lại với lạnh làm
tang tốc độ trao đổi cơ thể để sinh thêm nhiệt (Bùi Xuân Mến, 2008).
Bảng 2.4 : Tương quan nhiệt độ môi trường và thân nhiệt của gà (
0
C)
Môi trường Thân nhiệt
29 39 – 39,5
26 31 – 32
12 20
10 15
(Nguồn: Võ Bá Thọ, 1996)
Động vật có thể toả nhiệt trên khắp bề mặt cơ thể ra ngoài môi trường tự
nhiên. Nếu có them gió đối lưu hoặc khi gia súc chạy, vận động sự toả nhiệt sẽ
tăng lên. Ngoài ra thông qua quá trình ăn uống, hô hấp, tiêu hoá, bài tiết, hoạt
động giao phối, tiết sữa… Cơ thể gia súc cũng bị tiêu hao nhiệt lượng đáng kể
(Vũ Đình Vượng et al., 2007).
Theo Đỗ Ngọc Hoè (2005) nhiệt độ không khí nhất định, cơ thể sản sinh
nhiệt lượng nhỏ nhất (trao đổi vật chất thấp nhất) và toả nhiệt ít nhất (tiêu hao
nhiệt lượng ít nhất) nhưng vẫn giữ được sự thăng bằng nhiệt (S = 0). Phạm vi
nhiệt độ không khí như vậy được gọi là khu nhiệt điều hoà. Trong khu nhiệt
điều hoà, động vật sẽ cảm thấy dễ chịu, khoẻ mạnh, sự sinh trưởng, phát triển,
nhịp điệu sống và khả năng sản xuất đều ở mức cao nhất.
Nói chung, động vật có thể sống trong nhiệt độ thích hợp nhất ở gia súc
trưởng thành chỉ trong khoảng từ 21 – 26
0
C . Nhiệt độ cực đoan động vật phải
tăng cường hoạt động sinh lí và hành vi bảo vệ để sinh tồn. Vượt qua ngoài
Trong dinh dưỡng gia cầm năng lượng được xem là nguồn dinh dưỡng
giới hạn nhất vì nhu cầu lớn so với các chất dinh dưỡng khác. Nhu cầu năng
lượng của gia cầm có thể được xác định là mức năng lượng cần thiết cho sinh
trưởng hoặc cho sản xuất và cho duy trì các hoạt động sống của cơ thể. Thiếu
năng lượng dẫn đến sự suy giảm các quá trình trao đổi chất và các hoạt động
chức năng cơ thể gây nên tình trạng còi cọc, chậm lớn, năng suất giảm ở gia
cầm sinh sản.
Trong thức ăn chứa 2 dạng chất dinh dưỡng có thể cung cấp năng lượng
chính đó là lipid và glucid:
Glucid có vai trò cung cấp năng lượng, chuyển hoá thành phần mỡ và
đạm cho cơ thể, tạo năng lượng để gà chuyển hoá vật chất và vận động. Glucid
chiếm khoảng 60% trong thức ăn của gia cầm trong các dạng nguyên liệu như:
Bắp, tấm, cám, khoai mì, Gia cầm sử dụng tinh bột rất tốt, nhưng để tiêu hoá
tinh bột cần có vitamin B1, tuy nhiên tinh bột từ củ thì thường thiếu vitamin
nhóm B.
Lipid là chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng cao hơn gấp 2 lần so với
glucid. Đối với gia cầm, lipid tạo một phần năng lượng còn lại chủ yếu là tạo
mỡ. Nhu cầu chất béo trong cơ thể gia cầm rất ít: Gà con cần dưới 4% nếu cao
hơn sẽ dẫn tới bị tiêu chảy, gà hậu bị và gà đẻ cần dưới 5% nếu cao hơn sẽ làm
gà mập mỡ khó đẻ, đối với gà nuôi thả có thể cung cấp chất béo nhiều hơn.
Chất béo còn cung cấp các acid béo thiết yếu như acid linoleic, acid linolenic
và acid arachidonic. Chất béo giúp hoà tan các vitamin A, vitamin E, vitamin
D và vitamin K để cho cơ thể dễ hấp thu và làm da và mỡ vàng, tăng màu
vàng của lòng đỏ trứng. Ngoài ra chất béo trong thức ăn còn có tác dụng giảm
độ bụi giúp giảm thiểu các bệnh về đường hô hấp. Khi bổ sung chất béo vào
thức ăn cần chú ý bổ sung các chất chống oxy hoá để bảo vệ các acid béo
không no, bảo vệ các vitamin trong thức ăn.
Theo Trần Thị Kim Oanh (1998), khi nhiệt độ cao gà phản ứng tự nhiên
để chống lại là điều tiết thân nhiệt bằng cách tăng dần tần số hô hấp, giảm ăn
và uống nhiều nước. Khi đó việc tăng năng lượng và protein trong khẩu phần
Các chất dinh dưỡng Đốt trong bình nhiệt lượng kế Đốt trong cơ thể gia cầm
Glucose 3,7 3,7
Tinh bột 4,2 4,2
Mỡ heo 9,5 9,5
Protein cơ 5,6 4,0
(Nguồn: Dương Thanh Liêm, 1999)
Trong cơ thể gia cầm, cả hai quá trình đồng hoà và dị hoá xảy ra liên tục,
có liên quan chặt chẽ với nhau để tạo ra các mô bào riêng biệt và tạo ra các sản
phẩm chăn nuôi. Ở gia cầm độ tuổi trung bình, quá trình đồng hoá và dị hoá
diễn ra cân bằng nhau. Ở gia cầm ở độ tuổi còn non, quá trình đồng hoá chiếm
ưu thế, ngược lại, ở gia cầm già thì quá trình dị hoá lại tăng lên.
11
Hệ thống biểu thị năng lượng (NL) của gia cầm được thể hiện qua sơ đồ 2.1
NL thô NL thải ra phân NL tiêu hoá NL qua nước tiểu NL trao đổi nhiệt lượng tiêu chuẩn sản xuất NL cho duy trì
Sơ đồ 2.1: Hệ thống biểu thị năng lượng của gia cầm
(Nguồn: Lưu Hữu Mãnh et al, 1999)
acid amin không thay thế và acid amin thay thế:
Nhóm acid amin thay thế là nhóm mà cơ thể gia cầm có thể tự tổng hợp
được 13 acid amin từ sản phẩm trung gian trong quá trình trao đổi acid amin,
các acid béo và hợp chất chứa nhóm amino,… Đó là các acid amin thay thế là:
Alanin, aspaginin, aspartic, cystin, acid glutamic, glycin, hydroprolin, prolin,
serin, hydroxylyzin, cysteine.
Nhóm acid amin không thay thế hay được gọi là nhóm acid amin thiết yếu là
nhóm mà cơ thể động vật không tổng hợp được trong cơ thể, phải cung cấp từ
thức ăn để tạo ra protein. Nhóm này bao gồm 10 nhóm acid amin có vai trò
chủ yếu trong thức ăn gia cầm là: Arginin, histidin, leusin, isoleusin,
phenylalanine, threonin, lysine, methionin, tryptopan còn glysin cần cho thức
ăn gà dò không cần thiết cho thức ăn gà lớn trưởng thành.
Theo Lê Hồng Mận (2001), nhu cầu protein trong cơ thể là sự cân đối
acid amin không thay thế. Đối với gà con nhu cầu protein cho duy trì cơ thể và
cho phát triển sinh trưởng của các bộ phận mô cơ. Ở gà thịt mức sử dụng
protein cho sự phát triển đến 64%.
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1999), khả năng tiêu hoá, sử dụng
protein trong thức ăn hoàn toàn phụ thuộc vào giống, tuổi, tính năng sản xuất
của gia cầm. Ở gia cầm non protein có ý nghĩa nhiều hơn gà trưởng thành.
Điều đó có ý nghĩa gia cầm non yêu cầu protein và chất lượng protein cao hơn
so với nhu cầu của gia cầm trưởng thành và già.
Thiếu protein gà chậm lớn, còi cọc, kém phát triển, đẻ kém, sinh bệnh
tật,…Cần cân đối protein theo nhu cầu gà con, gà thịt, gà đẻ. Thức ăn giàu
protein là bột thịt, bột cá, bột sữa, bột lạc.
Đối với gà sản xuất hướng thịt protein chiếm khoảng 20 – 25% và
không được phép nhỏ hơn 16% (Lã Thị Thu Minh, 2000).
Theo Bùi Đức Lũng (2003), nhu cầu protein đối với gà là từ 0 – 28 ngày
tuổi là 21 – 22% CP, từ 28 – 70 ngày tuổi là17 – 18% CP, từ 70 ngày đến xuất
bán là 16 – 17 % CP.
Tỉ lệ protein thô trong khẩu phần thức ăn gà con 0 – 3 tuần tuổi là 21 –
trong quá trình sống. Theo Rubner thì con vật mất toàn bộ mỡ và 2/3 protein
cơ thể vẫn sống được. Nhưng nếu mất đi 1/10 lượng nước trong cơ thể thì con
vật sẽ chết (Dương Thanh Liêm, 2002).
Nước rất quan trọng chiếm khoảng 60 – 70% khối lượng cơ thể gà. Gà sẽ
bị chết khi cơ thể thiếu 2/10 lượng nước, ở nhiệt độ 22
0
C gà cần nước gấp 1,5
– 2 lần lượng thức ăn, nhưng ở nhiệt độ 35
0
C thì gấp 4,7 – 5 lần (Lê Hồng
Mận, 1999).
Người ta biết được rằng gà có thể sống được hơn 12 ngày trong điều kiện
thiếu thức ăn nhưng khi không có nước gà sẽ chết vào ngày thứ 3 hoặc thứ 4.
Nước làm dung môi hòa tan vận chuyển các chất dinh dưỡng cho cơ thể
hấp thu và thải cặn bã ra ngoài. Các phản ứng hóa sinh của cơ thể đều được
tiến hành trong môi trường nước. Nước có điều hòa quan trọng trong điều hòa
ổn định thân nhiệt. Nước tham gia các phản ứng hóa học trong trao đổi chất
của cơ thể. Nước làm giảm sự thối rữa thức ăn trong các bộ phận tiêu hóa.
Nước giữ thể hình cho cơ thể, tính năng đàn hồi, giảm ma sát giữa các bộ phận
(Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2004).
Gà công nghiệp chỉ ăn thức ăn hỗn hợp dạng viên và dạng bột, vì vậy
không thể thiếu nước uống. Thiếu nước gà sẽ không ăn hết khẩu phần, chậm