PHẦN 1: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH CAN THIỆP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
SỨC KHOẺ TẠI ĐỊA PHƯƠNG
I. Đặt vấn đề
I.1. Thông tin chung về xã Hùng Sơn
Xã Hùng Sơn nằm phía Đông huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, phía Bắc giáp huyện
Gia Lộc, phía Đông và Nam giáp huyện Ninh Giang, phía Tây Nam giáp xã Ngũ Hùng, phía
Tây Bắc giáp thị trấn Thanh Miện. Tại xã có đường quốc lộ 380B chạy qua là tuyến giao thông
huyết mạch nối liền huyện Thanh Miện với các huyện khác trong tỉnh Hải Dương. Diện tích tự
nhiên của xã là 342,32ha được chia làm 3 thôn (Triệu Nội, Phù Nội, Thái Thạch) với 7 đội sản
xuất. Toàn xã có 947 hộ gia đình với tổng số dân số là 3553, trong đó số phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ 15-49 chiếm 27,5% dân số, số trẻ em dưới 5 tuổi trẻ chiếm 7,4% dân số. Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên năm 2008 là 1,55%. Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của xã đã
có những bước phát triển rõ rệt. Cơ cấu kinh tế bao gồm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ, trong đó chủ yếu người dân làm nghề nông (chiếm 85%). Hiện nay, đa số thanh niên
trong xã đi xuất khẩu lao động sang các nước Đài Loan, Hàn Quốc. Thu nhập bình quân theo
đầu người năm 2008 là 7,3 triệu/người/năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 đạt 12,28%.
Về văn hoá, tỷ lệ người dân biết chữ trong xã là 100%, toàn xã có 1 trường mầm non, 1
trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở. Hoạt động văn hoá văn nghệ trong xã khá sôi nổi
với 1 đội văn nghệ, 3 câu lạc bộ thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu vào ngày lễ lớn.
Ở mỗi thôn đều có hệ thống loa phát thanh đạt chất lượng tốt. Các tổ chức xã hội, đoàn thể
trong xã như Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên…đều có sự
phối hợp tổ chức các phong trào, hoạt động. Hiện nay, xã có 2 thôn Triệu Nội và Thái Thạch
đạt danh hiệu Làng văn hoá, trong đó thôn Triệu Nội đạt danh hiệu Làng văn hoá sức khoẻ.
I.2. Thông tin chung về tình hình y tế tại xã Hùng Sơn
TYT Hùng Sơn đạt chuẩn Quốc Gia từ năm 2004. Hiện nay, TYT có 5 cán bộ trong đó
có 1 bác sĩ, 2 nữ hộ sinh, 1 điều dưỡng và 1 y sĩ. Mạng lưới y tế thôn bản gồm 7 nhân viên hoạt
động tại 7 đội sản xuất. Cơ sở hạ tầng của trạm tương đối khang trang, sạch sẽ gồm phòng điều
trị, phòng dược, phòng tiểu phẫu, phòng đông y, phòng khám phụ khoa, phòng đẻ, phòng
truyền thông, phòng hành chính và phòng trực. Trang thiết bị tại trạm gồm 8 giường bệnh, một
bàn đỡ đẻ, một bàn khám phụ khoa, hơn 60 loại thuốc thiết yếu và một số trang thiết bị khác.
Hàng năm kinh phí trung bình dành cho y tế của xã là 2,5 triệu/năm do UBND xã cấp. Hoạt
II.Xác định vấn đề sức khỏe tồn tại và vấn đề sức khoẻ ưu tiên
II.1. Xác định vấn đề sức khoẻ tồn tại
2.1.1. Phương pháp thu thập thông tin và nguồn thông tin
Để tìm hiểu và thu thập các thông tin xác định vần đề sức khỏe (VĐSK) tồn tại ở xã,
NSV đã thực hiện một số hoạt động:
- Thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu từ sổ sách, báo cáo tại trạm bao gồm sổ khám
bệnh, sổ khám bệnh theo BHYT ở trẻ em dưới 6 tuổi, báo cáo tình trạng dinh dưỡng trẻ em,
báo cáo tổng kết ngành y tế xã Hùng Sơn năm 2008.
- Xây dựng bộ công cụ phỏng vấn định tính và tiến hành đánh giá nhanh tại cộng đồng
thông qua PVS các đối tượng bao gồm chủ tịch UBND xã, hội trưởng Hội phụ nữ, hội trưởng
Hội người cao tuổi, 3 trưởng thôn, 5 CBYT thôn và 25 đối tượng người dân trong xã (bao gồm
người già, phụ nữ có con dưới 5 tuổi, phụ nữ trung tuổi) và thảo luận nhóm với 5 CBTYT để
thu thập các thông tin bổ sung cho xác định VĐSK.
2.1.2. Các vấn đề sức khoẻ tồn tại:
Qua thu thập số liệu và tổng hợp sổ sách, báo cáo của TYT kết hợp với phỏng vấn sâu
và đánh giá nhanh tại, NSV xác định được 6 VĐSK nổi cộm tại xã là bệnh nhiễm khuẩn hô
hấp ở trẻ em dưới 6 tuổi, suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, bệnh phụ khoa, tai nạn thương
tích, cao huyết áp ở người già và sâu răng ở trẻ em.
Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) ở trẻ em dưới 6 tuổi:
2
Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) là bệnh phổ biến ở lứa tuổi trẻ em. Thống kê từ sổ
khám bệnh trẻ em năm 2008 của TYT cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh NKHH ở trẻ em dưới 6 tuổi là
58,4%. Mặc dù tỷ lệ mắc các bệnh NKHH ở trẻ dưới 6 tuổi cao nhưng phần lớn là những trường
hợp bệnh nhẹ như ho, viêm họng, viêm VA, cảm cúm…Số trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI)
tại xã trong năm qua là 42 cháu (chiếm 16,3%). Xem xét tỷ lệ trẻ mắc ARI tại các xã khác trong
huyện, tỷ lệ mắc ARI tại xã Thanh Giang khoảng trên 20%, tỷ lệ mắc bệnh NKHH tại thị trấn
Thanh Miện cũng khá cao khoảng 68%. Như vậy các bệnh NKHH ở trẻ em không chỉ phổ biến tại
xã Hùng Sơn mà là VĐSK chung tồn tại ở trẻ em trên địa bàn huyện.
Kết hợp PVS và đánh giá nhanh tại cộng đồng cũng cho thấy, toàn bộ số trẻ đủ tuổi học
mầm non (từ 3 tuổi trở lên) đều tham gia học tại trường mầm non. Trường mầm non bán công xã
Hùng Sơn là một trong 5 trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia của huyện từ năm 2005. Việc chăm
sóc vệ sinh và dinh dưỡng cho trẻ tại trường đều đảm bảo các tiêu chí của trường mầm non chuẩn
Quốc gia, cũng nhờ đó mà tình trạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi trong xã đã giảm đáng kể so với
trước đây. Tỷ lệ trẻ SDD tại trường mầm non là 4,5%, trong đó 95,5% trẻ thuộc kênh A dinh
dưỡng, 4% trẻ thuộc kênh B dinh dưỡng và chỉ có 0,5% trẻ thuộc kênh C dinh dưỡng.“Suy dinh
dưỡng bây giờ giảm nhiều rồi, kinh tế phát triển bố mẹ cũng có điều kiện chăm sóc ăn uống cho
3
con cái hơn. 100% trẻ học ở trường mầm non được các cô điều chỉnh dinh dưỡng, cho các cháu ăn
uống hợp lý” - (PSV trưởng thôn).
Bệnh phụ khoa ở phụ nữ 15-49:
Bệnh phụ khoa được coi là một trong số những bệnh phổ biến của phụ nữ ở vùng nông thôn
Việt Nam. Trong năm vừa qua TYT đã phối hợp với Hội phụ nữ, ban dân số KHHGĐ tổ chức 2
đợt khám chiến dịch cho phụ nữ độ tuổi sinh đẻ 15-49, phát hiện được 63 trường hợp mắc bệnh
(chiếm 10%). So sánh với các xã khác trong huyện, tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa ở phụ nữ tại xã Hùng
Sơn không cao như các xã khác, tại xã Đoàn Kết có đến 50% phụ nữ mắc bệnh phụ khoa, tại xã
Ngô Quyền tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa cũng lên tới 43%, tại xã Thanh Giang tỷ lệ này là 52,6%. Tỷ
lệ mắc bệnh phụ khoa ở phụ nữ 15-49 tại xã Hùng Sơn thấp hơn so với những địa phương khác, ví
dụ tại một số xã Kim Lan, Dương Hà, Đặng Xá thuộc huyện Gia Lâm - Hà Nội là địa bàn mà NSV
đã từng tiếp cận trong kỳ thực địa trước, tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa tại các xã này là 38,7%, 41,7%,
đặc biệt trong những đợt khám chiến dịch tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa lên đến 60-70%.
Nguyên nhân mắc bệnh phụ khoa chủ yếu vẫn là do nguồn nước và đặc điểm nghề nghiệp
của phụ nữ. Nghề nghiệp chính của phụ nữ trong xã là làm nông nghiệp, đó cũng là yếu tố góp
phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh phụ khoa ở phụ nữ. Hiện nay nguồn nước sử dụng chính của
người dân trong xã là nước giếng khoan và nước mưa được người dân đánh giá là sạch sẽ và vệ
sinh. “Bây giờ công tác vệ sinh môi trường, nước sạch thế này không còn khó khăn như trước nữa
nên các bệnh ở chị em phụ nữ không còn nhiều nữa đâu” - (PVS CBYT thôn). Hơn nữa, tại xã
Kết quả TLN trọng tâm với 10 người cao tuổi trong xã cho thấy trường hợp bị CHA trong
xã không nhiều. Chỉ số huyết áp của các cụ hiện nay đều bình thường, các cụ vẫn kiểm tra huyết áp
thường xuyên tại nhà và trạm mặc dù không bị CHA. “Tôi không bị cao huyết áp nhưng thỉnh
thoảng ra trạm khám vẫn đo huyết áp. Trong hội người cao tuổi cũng không có ai bị cao huyết áp”
- (theo lời cụ 61 tuổi). “Tôi bị cao huyết áp, ở nhà tôi có máy đo huyết áp. Cứ cách ngày tôi lại đo
để kiểm tra, lúc nào cảm thấy người khác một tý là lại đo để kiểm tra” - (theo lời 1 cụ 67 tuổi).
Những trường hợp bị CHA hầu hết đã ý thức được về bệnh của mình, kiến thức về phòng bệnh
CHA của các cụ (chế độ ăn, luyện tập, dùng thuốc) khá tốt. “Bị cao huyết áp cần phải ăn chất ít,
những đồ có nhiều chất là ăn ít, mỡ màng cũng ăn ít, ăn nhạt, ăn rau nhiều vì có nhiều chất xơ, ăn
thêm hoa quả nữa thì càng tốt. Cần phải ăn uống điều độ và luyện tập thể dục, tôi ngày nào ăn
cơm xong cũng đi bộ khoảng nửa tiếng, sáng cũng thế, ngày nào cũng đi đều đặn” - (theo lời cụ 64
tuổi).
Đối với vấn đề CHA ở người cao tuổi hiện nay lãnh đạo xã đã chỉ đạo các ban ngành phối
hợp cùng y tế quản lý, điều trị và cấp phát thuốc cho người cao tuổi trong xã.
Bệnh sâu răng ở trẻ em:
Hiện nay bệnh sâu răng ở trẻ em trong xã cũng là một vấn đề khá phổ biến, qua kết quả
đánh giá nhanh tại cộng đồng cho thấy, bệnh sâu răng ở trẻ em cũng là một trong những vấn đề cần
giải quyết bởi sâu răng không chỉ làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của trẻ mà còn ảnh hưởng đến sức
khoẻ của trẻ. “Bệnh sâu răng ở trẻ em rất quan trọng, nó không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ của
trẻ mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ của các cháu, nhiếu đứa sâu răng không đi học được” - (PVS
cô Ngân - CBYT thôn Phù Nội). Thậm chí, sâu răng còn làm ảnh hưởng đến sinh hoạt ăn uống,
học tập, vui chơi của trẻ. “Con chị cũng bị sâu răng, cứ tưởng mỗi nó bị sâu nhưng bạn nó học
cùng lớp đứa nào cũng sâu răng, lắm hôm cháu nhà chị kêu đau răng không ăn được, phải nghỉ
học để đưa đi khám” - (PVS người dân). Bên cạnh đó chi phí cho điều trị sâu răng cũng khá tốn
kém (đặc biệt là hàn răng). “Con nhà chị cho đi hàn cũng không ăn thua, răng nó cứ bị luỗng ở
giữa, hàn cũng không được. Tốn kém lắm, hàn 2 cái hết 175 nghìn. Nhưng cũng chỉ được một thời
gian, chỗ hàn nó bửa hết ra lại phải đưa nó đi hàn lại” - (PVS PHHS lớp 2).
Từ năm 2007 chương trình Nha học đường (NHĐ) đã tách sang y tế trường học quản lý và
dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi, bệnh cao huyết áp ở người già, bệnh sâu răng ở trẻ em. (Chi tiết
xem phụ lục 3 trang 31).
Từ 3 VĐSK lựa chọn qua biểu quyết nhiều lần, để chọn ra được VĐSK ưu tiên nhóm đã
xem xét và phân tích các yếu tố P.K.C.N.L (Phù hợp, Kinh tế, Chấp nhận, Nguồn lực, Luật
pháp) cho 3 VĐSK đó. Kết quả cả 3 VĐSK trên đều đáp ứng được với 5 yếu tố P.K.C.N.L.
(Chi tiết xem phụ lục 4 trang 32 ).
Bảng 1: Chấm điểm theo ưu tiên theo các yếu tố P.K.C.N.L (0 hoặc 1)
Các vấn đề sức khoẻ
Phù hợp Kinh tế Chấp nhận Nguồn lực Luật pháp P.K.C.N.L
SDD ở trẻ em < 5 tuổi
1
1
1
1
1
1
Bệnh CHA ở người già
1
1
1
1
1
1
Bệnh sâu răng ở trẻ em
1
1
1
1
1
1
mức độ SDD trầm sức đề kháng kém,… là SDD độ I, có thể em < 5
trọng hơn, khó giải ảnh hưởng đến thể khắc phục được bằng tuổi.
quyết triệt để tình chất, trí tuệ của trẻ và khẩu phần ăn hợp lý.
trạng SDD trong xa hơn là nguồn lao
tương lai.
động trong tương lai.
6
Bệnh
Không giải quyết
cao
kịp thời sẽ gây ra
huyết
các biến chứng
áp
ở nặng, có thể dẫn
người
đến tử vong.
già
Nếu không điều trị sẽ
để lại nhiều tai biến
nặng nề như liệt nửa
người, tai biến mạch
máu não...thậm chí
dẫn đến tử vong.
Bệnh
có nhiều trẻ bị sâu
răng, phải điều trị
nhiều lần và chi phí
khá cao.
Tác động
đến đối
tượng
người
già.
8
Tác động
đến
trẻ
em, trẻ
5
2.2.2. Vấn đề sức khỏe ưu tiên
Dựa trên những phân tích đó, nhóm sử dụng phương pháp hệ thống thang điểm cơ bản
BPRS tiến hành chấm điểm cho từng VĐSK theo 3 yếu tố phạm vi, tính nghiêm trọng và hiệu
quả can thiệp để chọn ra VĐSK ưu tiên. Qua kết quả chấm điểm nhóm đã xác định được Bệnh
sâu răng ở trẻ em là VĐSK ưu tiên cần can thiệp tại xã.
7
Bảng 2: Bảng chấm điểm theo các yếu tố BPRS
Các vấn đề sức khoẻ
Yếu tố A
SDD ở trẻ em < 5 tuổi
2
Bệnh cao huyết áp ở người già
4
Sâu răng ở trẻ em
9
Các yếu tố
Yếu tố B
6
8
7
Yếu tố C
4
3
bệnh sâu răng của học sinh.[6].
Thống kê của Cục Y tế dự phòng năm 2007, trên 80% học sinh tiểu học Việt Nam mắc
các bệnh răng miệng như sâu răng, viêm quanh răng, ở lứa tuổi lớn hơn tỷ lệ này cũng lên đến
60-70% và đang có dấu hiệu gia tăng trong thời gian gần đây. Đến năm 2008, theo số liệu mới
nhất của Viện Răng - Hàm - Mặt quốc gia, tại Hà Nội tỷ lệ sâu răng là 92,2%, số răng bị sâu
của mỗi học sinh trung bình là 5,7. Tại Lào Cai, tỷ lệ sâu răng sữa của trẻ là 90,6% và số răng
sâu trung bình/học sinh là 6,07%. Hầu hết răng sâu của các em đều không được điều trị (chiếm
89,7% - 99,7%). Báo cáo của Viện Răng - Hàm - Mặt quốc gia cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ sâu răng
vĩnh viễn ở Việt Nam khá cao và có xu hướng gia tăng theo tuổi, trung bình cứ 3 trẻ ở lứa tuổi
15-17 tuổi thì có 2 em bị sâu răng vĩnh viễn. Tỷ lệ sâu răng ở thiếu niên 9-17 tuổi chiếm
khoảng 55-69%, trong đó tỷ lệ này ở học sinh tiểu học (6-12 tuổi) chiếm tới 85%. Nguyên
nhân của hiện tượng này chủ yếu là do các em chưa có ý thức trong việc CSRM, chưa biết cách
bảo vệ và phòng chống sâu răng.[7] [8]. Như vậy, bệnh sâu răng ở học sinh tiểu học là một
trong những vấn đề cần được quan tâm giải quyết, trong đó biện pháp dự phòng là biện pháp
hữu hiệu và lâu dài.
III.3. Tình hình sâu răng ở học sinh tiểu học tại xã Hùng Sơn
8
Tại xã Hùng Sơn, sâu răng ở trẻ em hiện nay vẫn đang là vấn đề phổ biến, đặc biệt là ở
lứa tuổi tiểu học. Theo kết quả nghiên cứu về thực trạng bệnh răng miệng của học sinh trường
tiểu học Hùng Sơn do nhóm học viên cao học trường Đại học Y tế công cộng thực hiện năm
2005, tỷ lệ sâu răng của học sinh trường tiểu học Hùng Sơn là 55,2%, trong đó cao nhất ở học
sinh lớp 1 (66,7%), có xu hướng giảm dần theo lứa tuổi và thấp nhất ở học sinh lớp 4 (36,4%)
[4]. Tìm hiểu số liệu của chương trình NHĐ trước đây, năm 2006 tỷ lệ sâu răng ở trẻ em trong
xã ở học sinh cấp I cao nhất (41,4%), tiếp đến là học sinh trường mầm non (25, 4%), thấp nhất
ở học sinh cấp II (22,7%). Phỏng vấn CBTYT phụ trách chương trình NHĐ trước đây cho biết,
tỷ lệ sâu răng ở học sinh tiểu học thường cao hơn so với học sinh cấp I và cấp II. “Bệnh sâu
răng ở trẻ em cũng nhiều, đặc biệt là học sinh tiểu học. Trước đây chị phụ trách chương trình
nha học đường, xuống khám ở trường tiểu học tỷ lệ sâu răng cao hơn so với trường cấp 2
biến cho học sinh thôi” - (PVS PHHS lớp 1).
Chương trình NHĐ tách sang do trường học quản lý nên vẫn đang trong thời gian bị
gián đoạn, việc tổ chức súc miệng và khám răng cho học sinh không được thực hiện thường
xuyên. Hoạt động giám sát chương trình cũng không được thực hiên. “Trước đây thì có giám
sát nhưng bây giờ chẳng có ai giám sát gì nữa” - (PVS CBTYT phụ trách chương trình NHĐ
9
trước đây). CBYT nhà trường vừa được cử đi học y tá trung cấp 1 năm nên trình độ chuyên
môn và kinh nghiệm về y tế nói chung và NHĐ nói riêng còn chưa vững. “Trước đây chị có
được cử đi học 1 năm sơ cấp y tế ở Hải Dương. Gần đây chị được đi tập huấn thêm 2 ngày về
nha học đường, chị không có chuyên môn gì về nha học đường. Có cán bộ chuyên môn làm vẫn
tốt hơn, chị dù có được đi học và tập huấn nhưng cũng ít thực hành nên không dám làm” (PVS CBYT nhà trường).
Hạn chế hiện nay là chương trình NHĐ chưa có nguồn kinh phí riêng, tuy nhiên nguồn
kinh phí dành cho hoạt động của chương trình có thể được trích ra từ quỹ y tế học đường của
trường học. Vấn đề CSRM cho học sinh vẫn là một trong những vấn đề được TYT quan tâm,
thuộc nội dung về chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ em, nên vẫn nhận được sự hỗ trợ của
UBND và TYT về chuyên môn, nhân lực, thuốc men và một phần kinh phí hoạt động.
Từ những phân tích trên, nhóm đã xây dựng được cây vấn đề và xác định các nguyên
nhân gốc rễ của VĐSK ưu tiên. (Chi tiết xem phụ lục 15 trang 67).
III.4. Một số định nghĩa sử dụng
Chăm sóc răng miệng đúng cách: là vệ sinh răng miệng hàng ngày, chải răng đúng
phương pháp, chải răng đủ 3 mặt, chải răng trong 3 phút mỗi lần và chải 3 lần mỗi ngày.
Kiến thức đúng về chăm sóc răng miệng: là có những kiến thức về chăm sóc răng
miệng đúng cách, vệ sinh răng miệng hàng ngày, có kiến thức về chải răng đúng cách (chải đủ
3 mặt, 3 phút mỗi lần và 3 lần mỗi ngày).
Thực hành đúng về chăm sóc răng miệng: là có thực hành vệ sinh răng miệng đúng
cách, thực hiện vệ sinh răng miệng hàng ngày, chải răng 3 mặt, 3 phút mỗi lần và 3 lần mỗi
ngày.
III.5. Cây vấn đề
CSRM lồng ghép
trong các bài giảng
còn ít, thiếu hấp dẫn
Phương
pháp giảng
dạy thiếu
hấp dẫn
Giáo viên không
được tập huấn về
lồng ghép CSRM
Thiếu
phương
tiện giảng
dạy
Thói quen ăn uống
không tốt ảnh hưởng đến
răng
Phụ huynh
hướng dẫn
trẻ CSRM
chưa tốt
Nguồn truyền
thông về
CSRM ở xã ít
sự giám
sát
chương
trình.
Chương
trình
tách
hoàn
toàn ra
khỏi y tế
xã
Cán bộ
phụ trách
NHĐ
thiếu kinh
nghiệm,
trình độ
chuyên
môn
Kiêm
nhiệm
nhiều
công
việc
Hình thức
truyền thông
4. Tăng tỷ lệ PHHS trường tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương có kiến thức đúng
về CSRM từ 48,1% lên 85% trong thời gian từ tháng 09/2009 đến tháng 10/2010.
4.3. Địa điểm, thời gian, đối tượng can thiệp
4.3.1. Địa điểm: Trường tiểu học xã Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương.
4.3.2. Thời gian: Từ tháng 09/2009 đến tháng 04/2010.
4.3.3. Đối tượng can thiệp
- Học sinh trường tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương.
- Giáo viên và PHHS trường tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương.
V. Xác định các giải pháp can thiệp và phương pháp thực hiện
Dựa trên các nguyên nhân gốc rễ đã xác định được, NSV đã thảo luận cùng CBTYT và
chính quyền địa phương đề xác định những giải pháp can thiệp khả thi và phù hợp với tình hình
tại địa phương. Từ đó xây dựng nên các giải pháp và phương pháp thực hiện cho kế hoạch can
thiệp.
5.1. Các giải pháp và phương pháp thực hiện (Chi tiết tại Bảng 3)
5.2. Lý giải chấm điểm các giải pháp và phương pháp thực hiện
Các giải pháp đưa ra được xét đến tính hiệu quả, khả thi và chấm điểm theo thang điểm
từ 1 đến 5. Những giải pháp có tích số điểm hiệu quả × khả thi từ 12 điểm trở lên là những giải
pháp được lựa chọn thực hiện. (Chi tiết xem phụ lục 16 trang 70).
12
Bảng 3: Giải pháp và phương pháp thực hiện
Nguyên nhân
Giải pháp
Phương pháp thực hiện
gốc rễ
Chưa có chương
Đa dạng hoá hình
Tổ chức cuộc thi tìm hiểu về CSRM cho học sinh lồng ghép trong
NHĐ của CBYT
Tăng cường hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm về CSRM giữa CBTYT và
NHĐ còn hạn chế.
nhà trường.
CBYT nhà trường.
Chương trình thiếu
Tăng cường giám sát Tổ chức giám sát buổi súc miệng tại trường học.
sự giám sát.
chương trình NHĐ.
Tổ chức giám sát buổi khám răng định kỳ cho học sinh tại trường học
Chưa huy động được Huy động nguồn lực Huy động nguồn lực từ UBND xã.
nguồn lực cho
cho chương trình
Huy động nguồn lực từ quỹ nhà trường (BHYT, phụ huynh đóng góp)
chương trình NHĐ.
NHĐ.
Huy động nguồn lực từ các đơn vị tài trợ (công ty P/S, Colgate)
Thiếu sự phối hợp
Tăng cường sự phối Trao đổi thông tin giữa gia đình và nhà trường về tình hình sức khoẻ,
giữa gia đình và nhà hợp giữa nhà trường CSRM của học sinh qua sổ khám và theo dõi sức khoẻ.
trường về CSRM
và gia đình về
Lồng ghép nội dung về CSRM của học sinh trong các buổi họp phụ
cho học sinh.
CSRM cho học sinh. huynh.
13
Chấm điểm
HQ TT Tích
3
12
C
4
3
3
4
4
4
3
3
4
4
16
9
9
16
16
C
K
K
C
C
C
3
3
9
K
4
3
12
C
4
4
4
4
4
4
3
3
4
2
Bảng 4: Kế hoạch hoạt động cụ thể
Phương pháp
thực hiện
1. Tổ chức cuộc
thi tìm hiểu về
CSRM cho học
sinh lồng ghép
trong
chương
trình “Trường
học thân thiện Học sinh tích
cực”.
Hoạt động cụ thể
Thời gian
Địa điểm
Tìm tài liệu, chuẩn bị 04/09/09
nội dung cuộc thi.
-14/09/09
Liên hệ với nhà 01/10/09
trường.
19/10/09
Thành lập đội thi.
TTTT
GDSK
Trường TH
30/10/09
Người
chịu
trách
nhiệm
NSV
CBYT
trường
CBYT
trường
CBYT
trường
Người/cơ
quan phối
hợp
Người
giám
sát
CBTYT
Trạm
trưởng
Giáo viện,
Đội TNTP
Giáo viên
Hỗ trợ BTC
Kinh phí đi
lại, in ấn,
photo
22/09/09
23/09/09
24-30/09/09
Trường TH
HS
TYT
01/10/09
Xã HS
02/10/09
Trường TH
HS
Trường TH
Hùng Sơn
Trường TH
4. Truyền thông Lập kế hoạch truyền 05-07/09/09
về CSRM tại thông cho đội tuyên
trường học do truyền măng non.
CBYT
Kinh phí đi
lại
Kinh phí in
ấn, photo
Dự kiến kết quả
Thu thập được tài liệu cần
thiết
Liên hệ được với nhà
trường
Thành lập được đội thi
Mời được UB, hội phụ
huynh, CBTYT
Chuẩn bị đầy đủ loa đài,
bàn ghế, quà tặng,…
Tổ chức cuộc thi đúng KH
100% hs tham gia đầy đủ
Liên hệ và xin được tranh
ảnh về CSRM.
Thiết kế được tranh ảnh có
nội dung về CSRM
In được tranh ảnh về CSRM
đẹp, hấp dẫn
Treo được tranh tại trường
học theo đúng KH
Thiết kế sách mỏng có nội
dung về CSRM
In được sách mỏng về
CSRM hấp dẫn, phù hợp
Đợt 1:
15/10-17/12/9
Đợt 2:
04/03-29/4/10
5. Truyền thông Xây dựng nội dung 02-06/11/09 Trường TH
về CSRM trong cho buổi sinh hoạt,
Hùng Sơn
các buổi sinh ngoại khoá.
hoạt, ngoại khóa Lập kế hoạch sinh 09/11/09
của học sinh.
hoạt, ngoại khoá.
Chuẩn bị loa đài, bàn L1:12/11/09
ghế.
L2: 14/01/10
L3: 11/03/10
Triển khai sinh hoạt L1:13/11/09
ngoại khoá.
L2: 15/01/10
L3: 12/03/10
6. Truyền thông Viết bài truyền thông 14/09/09
Trường TH
về CSRM trên về CSRM.
Hùng Sơn
loa phát thanh Chỉnh sửa bài truyền 15-18/09/09
xã.
thông.
Gửi bài truyền thông 21/09/09
UBND
cho CBVH xã.
Phát bài truyền thông Thứ 2,6/tuần
CBYT
trường
CBYT
trường
Đội
TNTP
CBTYT
Hiệu
trưởng
Kinh phí
viết bài
Kinh phí đi
lại
Loa đài
Đội tuyên truyền nắm được
kỹ năng truyền thông sau
tập huấn.
Viết được bài truyền thông
về CSRM.
Liên hệ với nhà trường về
KH truyền thông
Tổ chức truyền thông theo
đúng KH
CBYT
Viết được bài truyền thông
viết bài, in
về CSRM
ấn, photo
Hoàn thiện bài truyền thông
có chất lượng
Kinh phí đi Gửi được bài truyền thông
lại
cho CBVH xã
Hỗ trợ
Đảm bảo phát bài truyền
người đọc, thông theo đúng kế hoạch
Loa đài
15
CBYT
trường
Hiệu
trưởng
Hiệu
trưởng
Hiệu
trưởng
Kinh phí đi
lại, in ấn,
photo
huấn.
Liên hệ với nhà
trường.
Mời cán bộ tập huấn.
05-30/01/10
Đợt 3:
03-27/04/10
07-14/09/09
24-30/09/09
04/10/09
05/10/09
06-09/10/09
TTTT
GDSK
TYT
Xã Hùng
Sơn
Trường TH
Hùng Sơn
Trường TH
Hùng Sơn
CBTYT
CBTYT
Giáo viên
trường
Giáo
viên
CBYT
huyện
Giáo viên
Hỗ trợ gíáo
viên phát
Kinh phí đi
lại, in ấn,
photo
Hiệu
trưởng
Trạm
trưởng
Hiệu
trưởng
Kinh phí đi
lại
Kinh phí đi
lại
CBYT nhà
trường
CBYT
Hiệu
trưởng
12-13/10/09
Mới giáo viên tham 16/10/09
gia tập huấn.
Tiến hành tập huấn.
L1: 22/10/09
L2: 11/11/09
9. Họp chuyên
đề chia sẻ kinh
nghiệm về lồng
ghép
CSRM
vào các bài
giảng.
NSV
Kinh phí đi
lại, in ấn,
photo
Hỗ trợ giáo
viên
Trạm
trưởng
Kinh phí đi
CSRM
giữa
CBTYT
và
CBYT trường.
11. Tổ
chức
giám sát buổi
súc miệng tại
trường học.
Tham gia chia sẻ Thứ 2/tuần
kinh nghiệm.
07/09/0928/12/10
Lập kế hoạch giám 16/11/09
sát.
Thành lập đội giám 19/11/09
sát.
Tiến hành giám sát.
L1: 23/11/09
L2: 15/03/10
Lập kế hoạch giám 12/10/09
sát.
Thành lập đội giám sát 13/10/09
Tiến hành giám sát.
15/10/09
Trường TH
lại, in ấn,
photo
Thực hiện chia sẻ kinh
nghiệm hiệu quả giữa CBTYT
và CBYT trường
Lập được bản kế hoạch
giám sát cụ thể
Thành lập được đội giám
sát
Tiến hành giám sát đúng kế
hoạch
Lập được bản kế hoạch
giám sát cụ thể
Thành lập được đội giám sát
Tiến hành giám sát đúng kế
hoạch
Lập được bản kế hoạch dự
trù kp chi tiết, cụ thể
Huy động được kinh phí từ
UBND.
Huy động được kinh phí từ
nhà trường.
12. Tổ
chức
Trường TH CBYT
CBTYT
CBYT
giám sát buổi
CBYT
CBYT
Hiệu
Hỗ trợ
Chuẩn bị đầy đủ sổ liên lạc
thông tin về tình
22/10/09
trường
trường
trưởng CBTYT
cho học sinh
hình sức khoẻ,
Trường TH
CBYT
Hỗ trợ Giáo Thực hiện được trao đổi sổ
CSRM của học Trao đổi sổ liên lạc 1 lần/tháng
Hùng Sơn
trường
viên
liên lạc giữa giáo viên và
sinh qua sổ liên giữa giáo viên và phụ 30/10/0930/04/10
phụ huynh
lạc giữa gia huynh.
đình và nhà
trường.
6.1. Bảng kế hoạch hoạt động theo thời gian (Chi tiết xem phụ lục 17 trang 73 ).
6.2. Bảng dự toán kinh phí (Chi tiế xem phụ lục 19 trang 76 ).
6.3. Dự kiến thuận lợi, khó khăn và hướng khắc phục khi triển khai các hoạt động (Chi tiết xem phụ lục 18 trang 74 ).
17
chương trình can thiệp.
- Hỗ trợ các nguồn lực cần thiết (con người, trang thiết bị, tài
chính…) trong quá trình giám sát.
2. Phòng giáo dục Giám sát về tổ chức các hoạt động của CBTYT được tiến hành tại
huyện Thanh Miện trường.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho trạm y tế tiến hành các hoạt động trong
3. UBND xã Hùng
chương trình can thiệp.
Sơn
- Giám sát về mặt tổ chức các hoạt động của chương trình can thiệp
4. Trạm y tế
- Tổ chức triển khai thực hiện chương trình.
- Huy động các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chương trình.
- Tổ chức giám sát chuyên môn đối với CBYT nhà trường.
5. Trường tiểu học - Tạo điều kiện về trang thiết bị, nguồn nhân lực, địa điểm cho nhóm
xã Hùng Sơn
thực hiện triển khai các hoạt động trong can thiệp.
- Giám sát về tổ chức các hoạt động của CBTYT được tiến hành tại
trường.
7.3. Hoạt động giám sát
- Hoạt động tổ chức súc miệng nước fluor cho học sinh tại trường tiểu học Hùng Sơn.
- Hoạt động tổ chức khám răng định kỳ cho học sinh tại trường tiểu học Hùng Sơn.
7.3.1. Kế hoạch giám sát hoạt động tổ chức súc miệng nước fluor cho học sinh tại trường
tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương
Bảng 6: Kế hoạch giám sát hoạt động tổ chức súc miệng nước fluor cho học sinh
18
Tên hoạt động
Địa điểm giám sát
+ Cách pha chế nước Fluor
+ Chất lượng nước Fluor
+ Việc cán bộ y tế nhà trường hướng dẫn cho học sinh
- Quan sát trực tiếp có tham dự: cán bộ giám sát quan sát quy trình buổi
súc miệng (chuẩn bị dụng cụ, cách pha chế, cách hướng dẫn học
sinh…) thông qua bảng kiểm.
- Trong quá trình thực hiện nếu cán bộ giám sát phát hiện ra sai sót sẽ
trực tiếp hỗ trợ cán bộ y tế học đường để khắc phục.
- Phản hồi: Sau khi kết thúc buổi giám sát, cán bộ giám sát nhận xét
tổng quát và góp ý cho CBYT trường học rút kinh nghiệm.
Bảng kiểm quan sát.
1 CBYT tuyến huyện có chuyên khoa răng miệng hỗ trợ chuyên
môn và giám sát quá trình tổ chức buổi súc miệng.
CBTYT hỗ trợ chuyên môn và giám sát quá trình tổ chức buổi
súc miệng.
- Kinh phí chuẩn bị công cụ, tài liệu dùng cho giám sát.
- Kinh phí hỗ trợ giám sát viên.
Tài liệu hướng dẫn về cách pha nước fluor.
Tài liệu về sâu răng.
7.3.2. Kế hoạch giám sát hoạt động tổ chức khám răng cho học sinh tại trường tiểu học
Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương (Chi tiết xem phụ lục 20 trang 77).
VIII.Kế hoạch theo dõi đánh giá
VIII.1.
Tên kế hoạch theo dõi đánh giá: “Đánh giá kết quả các hoạt động đã triển
khai của chương trình can thiệp “Nâng cao kiến thức và thực hành về CSRM cho học
sinh trường tiểu học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương” từ 01/05/2010 đến
31/05/2010”.
VIII.2.
Mục tiêu đánh giá
8.3.2. Phân tích các bên liên quan (Chi tiết xem phụ lục 23 trang 80 ).
8.3.3. Thiết kế
Mục tiêu của kế hoạch theo dõi đánh giá là đánh giá kết quả các hoạt động của chương
trình can thiệp lên sự thay đổi về kiến thức và thực hành về CSRM của học sinh trường tiểu
học Hùng Sơn - Thanh Miện - Hải Dương.
Tại xã Hùng Sơn, chương trình can thiệp nâng cao kiến thức và thực hành về CSRM cho
học sinh trường tiểu học xã Hùng Sơn đã được triển khai. Trước khi tiến hành can thiệp, NSV
đã tiến hành đo lường kiến thức, thực hành về CSRM của học sinh, kiến thức về CSRM của
PHHS và kỹ năng lồng ghép CSRM của giáo viên thông qua bộ câu hỏi đánh giá. Sau khi
chương trình can thiệp được triển khai, nhóm đánh giá sẽ tiến hành đo lường lại kiến thức, thực
hành về CSRM của học sinh, kiến thức về CSRM của PHHS và kỹ năng lồng ghép CSRM của
giáo viên cho học sinh của giáo viên thông qua bộ câu hỏi tương tự để so sánh sự khác biệt và
đánh giá được mức độ thay đổi về kiến thức, thực hành về CSRM của các đối tượng đó. Do
vậy, nhóm đã áp dụng thiết kế đánh giá một nhóm trước - sau can thiệp.
8.3.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
218 học sinh trường tiểu học Hùng Sơn.
218 phụ huynh học sinh trường tiểu học Hùng Sơn.
9 giáo viên trường tiểu học Hùng Sơn
Tổng số mẫu nghiên cứu: 445 đối tượng nghiên cứu.
8.3.5. Định nghĩa các chỉ số theo dõi đánh giá (Chi tiết xem phụ lục 24 trang81 ).
8.3.6. Câu hỏi theo dõi đánh giá (Chi tiết xem phụ lục 25 trang 83).
8.3.7. Các chỉ số theo dõi đánh giá (Chi tiết xem phụ lục 26 trang 86).
PHẦN II: PHÁT TRIỂN - THỬ NGHIỆM THÔNG ĐIỆP TRUYỀN THÔNG
20
Mục tiêu của chương trình can thiệp là nâng cao kiến thức và thực hành về CSRM cho
học sinh tiểu học, do đó các giải pháp chính của chương trình là tập trung vào truyền thông
nhằm cung cấp kiến thức về CSRM đúng cách cho học sinh và PHHS thông qua các hình thức
truyền thông phù hợp với các đối tượng và tình hình địa phương. Do đó các thông điệp mà
ti vi, thông tin từ các nguồn khác như từ loa phát thanh, tờ rơi đều không có. Ngoài ra, học sinh
có thêm thông tin từ những bài học ở trường, nhưng đó là những bài học mà các em được học
tại trường mầm non. Kiến thức về CSRM đúng cách mà học sinh thu được qua các bài học tại
trường lớp còn hạn chế và thiếu hấp dẫn.
Dựa trên những phân tích đó, nhóm đã định hướng xây dựng TĐTT có nội dung cung
cấp kiến thức về VSRM và đánh răng đúng cách (bao gồm các tiêu chí đánh răng 3 mặt, đánh 3
phút mỗi lần và đánh 3 lần mỗi ngày). Đồng thời các thông điệp này cũng cần thể hiện tính
chất khuyến khích và động viên học sinh có ý thức tự giác đánh răng và VSRM hàng ngày.
I.2. Dựa vào quá trình phân tích các yếu tố liên quan đến đối tượng đích
21
Đối tượng học sinh tiểu học là đối tượng đích của chương trình can thiệp, đồng thời
cũng là đối tượng đích của hoạt động truyền thông mà nhóm hướng tới. Để xây dựng được
những TĐTT phù hợp với chương trình can thiệp cần phải dựa trên phân tích những yếu tố liên
quan đến đối tượng học sinh tiểu học.
I.2.1. Yếu tố văn hoá
Đối tượng đích của hoạt động truyền thông là học sinh tiểu học, do đó các TĐTT xây
dựng cho các em phải rõ ràng, sử dụng những từ ngừ đơn giản, câu thơ có vần điệu, ngắn gọn,
dễ hiểu, dễ nhớ, có tính chất khuyến khích các em làm theo thông điệp.
I.2.2. Yếu tố tâm lý
Ở lứa tuổi này các em tò mò, hiếu động, thích tìm hiểu về những điều mà các em quan
tâm nên các TĐTT cần phải gây được sự chú ý và kích thích được trí tò mò, thích tìm hiểu và
khám phá của các em. Học sinh ở độ tuổi này thường thích những hình ảnh ngộ nghĩnh hay
những nhân vật trong truyện tranh, phim hoạt hình,… gần gũi và được các em yêu thích. Từ đó
nhóm đã đưa ra TĐTT:
- Chúng ta hãy đến vương quốc không sâu răng bằng máy đánh răng 3 mặt – 3 phút – 3 lần
của Đoremon: Đoremon là nhân vật truyện tranh quen thuộc được hầu hết các em học sinh
tiểu học yêu thích, do đó sẽ có tác dụng thu hút được sự chú ý của các em. Đồng thời thông
điệp cũng bao hàm nội dung nhắc nhở các em đánh răng đúng cách thông qua hình ảnh
quen có hại ảnh hưởng đến răng (ăn quà vặt, bánh kẹo…) và mang tính chất kêu gọi việc
CSRM cho trẻ em. Một số thông điệp hiện đang được các nhà sản xuất kem đánh răng Colgate
và P/S sử dụng:
- Giải cứu răng xinh khỏi vương quốc sâu răng của phù thuỷ ăn quà: Thông điệp này tập
trung vào nhắc nhở, khuyên bảo học sinh không nên ăn quà vặt để không bị sâu răng.
Thông điệp cũng sử dụng những từ ngừ, nhân vật gần với truyện cổ tích để phù hợp với tâm
lý và sở thích của học sinh lứa tuổi này nhằm lôi kéo sự chú ý, thích thú của học sinh.
- Hãy bảo vệ nụ cười trẻ thơ: Thông điệp này có nội dung hướng đến tất cả các đối tượng
trong cộng đồng, mang tính chất kêu gọi hành động CSRM cho trẻ em.
Dựa trên những kết quả phân tích và thu thập được, nhóm đã tổng kết, đưa ra định
hướng và ý tưởng để có thể xây dựng được những thông điệp phù hợp với kế hoạch truyền
thông của nhóm.
II.Hình thành các thông điệp truyền thông
II.1. Ý tưởng về nội dung, hình thức của các thông điệp truyền thông
Từ những căn cứ và phân tích trên, nhóm đã đưa ra ý tưởng về nội dung và hình thức
của các TĐTT.
Nội dung của TĐTT: Các thông điệp sẽ tập trung vào truyền tải nội dung VSRM và
đánh răng đúng cách (gồm các tiêu chí đánh răng 3 mặt, 3 phút mỗi lần, 3 lần mỗi ngày).
Từ ngữ của thông điệp: Sử dụng từ ngừ đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có tính
chất khuyến khích các em làm theo thông điệp. Những thông điệp cũng có thể xây dựng như
những câu thơ vần điệu giúp các em dễ thuộc, dễ nhớ, có nội dung nhẹ nhàng nhắc nhở, khích
lệ học sinh VSRM và đánh răng đúng cách hàng ngày.
Hình ảnh sử dụng trong thông điệp: Sử dụng những hình ảnh ngộ nghĩnh, vui nhộn, hấp
dấn và gây được sự chú ý, ấn tượng cho học sinh như nhân vật truyện tranh, hoạt hình
Đoremonđược các em yêu thích.
Đối tượng học sinh thường hiếu động, thích tham gia vào các hoạt động vui nhộn, hài
hước nên nhóm có ý tưởng xây dựng cuộc thi tìm hiểu về CSRM cho học sinh tại trường học
gồm 3 phần (kiến thức, thực hành và tài năng), có các tiểu phẩm nội dung về CSRM và phòng
bệnh sâu răng để gây được ấn tượng và sự chú ý của học sinh.
loa phát thanh hoặc tờ rơi có nội dung về CSRM và phòng bệnh sâu răng. Ngoài ra, giáo viên
còn có thể nhận được thông tin này thông qua các buổi tập huấn.
II.4. Ý tưởng về thiết kế sản phẩm truyền thông (Chi tiết xem phụ lục 38 trang 119 )
- Tổ chức cuộc thi tìm hiểu về CSRM và phòng bệnh sâu răng cho học sinh.
- Truyền thông qua tranh ảnh có nội dung về CSRM và phòng bệnh sâu răng cho học sinh.
- Truyền thông qua sách mỏng có nội dung về CSRM và phòng bệnh sâu răng cho học sinh
dựa theo nội dung truyện tranh “Sư tử lemony”.
- Truyền thông về CSRM và phòng bệnh sâu răng trên loa phát thanh trường.
- Truyền thông về CSRM và phòng bệnh sâu răng trên loa phát thanh xã.
- Truyền thông qua tờ rơi có nội dung về CSRM và phòng bệnh sâu răng cho PHHS.
III. Kế hoạch thử nghiệm thông điệp truyền thông về CSRM và phòng bệnh sâu răng
Đối tượng học sinh chịu ảnh hưởng và tác động từ phía phụ huynh và giáo viên, hơn nữa
giáo viên và PHHS cũng là người hiểu rõ tâm lý, sở thích của các em. Do đó các TĐTT cần
được thử nghiệm trong nhóm giáo viên và PHHS.
Để xác định được TĐTT phù hợp sử dụng cho chương trình can thiệp, nhóm đã tiến
hành thử nghiệm trên 70 đối tượng (CBTYT, CBVH xã, giáo viên, PHHS và học sinh). Sau khi
tiến hành thử nghiệm các TĐTT, nhóm đánh giá kết quả thử nghiệm thông qua 70 bảng kiểm
thu được kết hợp với TLN và PVS các đối tượng.
Bảng kiểm thử nghiệm TĐTT được xây dựng bao gồm các tiêu chí mức độ gây chú ý
và ấn tượng, mức độ hấp dẫn, mức độ dễ hiểu, dễ nhớ của thông điệp, mức độ rõ ràng của
thông điệp và mức độ khuyến khích, khích lệ làm theo thông điệp.[2].Các tiêu chí trong bảng
kiểm sẽ được chấm điểm theo các mức độ rất tốt, tốt, tạm được, kém và rất kém. (Chi tiết xem
phụ lục 29 trang 94, phụ lục 30 trang 95).
Dựa trên kết quả bảng kiểm thu được, nhóm tiến hành tính điểm trung bình cho từng
tiêu chí. Điểm của mỗi thông điệp sẽ được tính bằng tổng điểm trung bình của các tiêu chí chú
ý/ấn tượng+hấp dẫn+dễ hiểu+dễ nhớ+rõ ràng+khuyến khích, khích lệ làm theo thông
điệp. (Chi tiết xem phụ lục 32 trang 98).
III.1. Mục tiêu thử nghiệm thông điệp truyền thông
- Chỉnh sửa lại các thông điệp (về từ ngữ và nội dung) cho phù hợp với đối tượng của chương
trình can thiệp.
III.4. Thời gian thử nghiệm thông điệp truyền thông: Từ ngày 12/01/09 đến ngày 06/02/09.
III.5. Địa điểm thử nghiệm thông điệp truyền thông
- Trạm y tế xã, UBND xã Hùng Sơn.
- Trường tiểu học xã Hùng Sơn và các hộ gia đình tại xã Hùng Sơn.
3.6. Kế hoạch thử nghiệm thông điệp truyền thông chi tiết (Chi tiết xem phụ lục27 trang89)
IV. Kế hoạch đánh giá kết quả thử nghiệm thông điệp truyền thông (Chi tiết xem phụ lục 28
trang 92)
V. Kết quả thu được
V.1. Kết quả đạt được sau hoạt động thử nghiệm, đánh giá thông điệp truyền thông
Dựa trên kết quả bảng kiểm thu được, nhóm đã tổng hợp điểm trung bình của các thông điệp.
Các thông điệp có điểm trung bình cao nhất là thông điệp 3, 8, 9, 11. (Chi tiết xem phụ lục 33
trang 103).
Tổng hợp ý kiến đóng góp của các đối tượng qua TLN và PVS, nhóm đã chỉnh sửa lại từ
ngữ của một số thông điệp cho phù hợp và dễ hiểu hơn, kết quả thu được:
Thông điệp thử nghiệm
Thông điệp 3: Vì nụ cười
xinh hãy đánh răng 3 lần, 3
mặt, 3 phút mỗi ngày.
Nội dung cần chỉnh sửa
Đổi trật tự của “đánh răng 3 lần,
3 mặt, 3 phút mỗi ngày” thành
“đánh răng 3 mặt, 3 phút, 3 lần
mỗi ngày” để không hiểu lầm cho
học sinh là chỉ đánh răng 3 phút
mỗi ngày.
Thông điệp 8: Chải răng 3 Nên ghép thông điệp 8 và thông
25
Thông điệp sau chỉnh sửa