Khoá luận tốt nghiệp rèn kĩ năng sử dụng tính từ cho học sinh tiểu học - Pdf 30

NGUYỄN THỊ T HANH HẬU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ
RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG
TÍNH TỪ CHO HỌC
NỘI 2
SINH TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC


• • •

Chuyên ngành:Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Ngưòi hưóng dẫn khoa học ThS. Vũ Thị Tuyết

HÀ NỘT, 2015
NGUYỄN THỊ T HANH HẬU

RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG TÍNH TỪ CHO HỌC
SINH TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC


• • •

Chuyên ngành:Phương pháp dạy học Tiếng Việt



LỜI CẢMƠN


DANHMỤCNHỮNGTỪVIÉTTẮT

GV
HS

Giáoviên
Họcsinh

HSTH

Học sinh Tiểu học

SGK

Sáchgiáokhoa

NXB

Nhàxuấtbản

TT

Tính từ

DT

Danh từ

học nhằm tạo cho học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt, văn hóa và hiện đại để suy
nghĩ, giao tiếp và học tập. Thông qua việc học Tiếng Việt rèn cho học sinh năng lực
tư duy, phương pháp suy nghĩ giáo dục cho các em tư tưởng, tình cảm trong sáng.
Có như vậy mới thực hiện được nhiệm vụ đào tạo học sinh thành những con người
phát triển toàn diện.
Dạy học Luyện từ và câu không thể thiếu được hệ thống từ loại tiếng Việt.
Tính từ là một trong những từ loại quan trọng trong hệ thống từ loại. Tính từ có một
số lượng tương đối lớn trong hệ thống từ vựng và có một vị trí hết sức quan trọng
trong cơ cấu ngữ pháp.


Trên thực tế, thời gian dạy học tính từ trong chương trình Tiểu học lại chưa
nhiều, chưa có đủ thời gian đế học sinh vận dụng vào trong thực tế. VI vậy, việc
nghiên cứu để tìm ra giải pháp, rèn kĩ năng sử dụng tính từ cho học sinh Tiếu học là
một vấn đề cần được quan tâm hiện nay. Thực tế, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu
tìm hiểu về vấn đề này nhưng những người viết vẫn thấy cần phải đi sâu nắm chắc
được vấn đề cần rèn luyện các kĩ năng sử dụng tính từ cho học sinh Tiếu học một
cách có hiệu quả hơn.
Đe tài còn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc học tập của sinh viên khoa Giáo
dục Tiểu học trong hiện tại và việc dạy học của tác giả khóa luận trong tương lai.
Qua việc thực hiện khóa luận, chúng tôi có điều kiện tìm hiểu tỉ mỉ, sâu sắc hơn
những kiến thức về từ loại tính từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt rất đa dạng và
phong phú. Sự nghiên cứu về đề tài còn củng cố, nâng cao sự hiểu biết cho sinh
viên về tính từ, cách vận dụng những kiến thức đó vào dạy học. Ngoài ra,sự nghiên
cứu về đề tài còn giúp sinh viên có tài liệu tin cậy về từ loại tính từ trong tiếng Việt
và các biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng tính từ cho học sinh Tiểu học. Giúp
những giáo viên dạy ở các trường tiểu học có tài liệu tham khảo về nội dung,
phương pháp rèn kĩ năng sử dụng tính từ cho học sinh Tiểu học.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Rèn kĩ năng sử dụng
tính từ cho học sinh Tiểu học” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình.

- Giáo trình Tiếng Việt 3 - Lê A (chủ biên) - Phan Phương Dung - Đặng Kim
Nga. Đây là một cuốn sách viết đầy đủ về ngữ pháp tiếng Việt, những nội dung nằm
trong chương trình dạy học cấp Tiếu học được cung cấp đầy đủ và có thể áp dụng
vào thực tiễn.
Dựa trên những công trình nghiên cứu đã trình bày ở trên, tôi tìm hiều và
nghiên cứu để thực hiện đề tài “Rèn kĩ năng sử dụng tính từ cho học sinh Tiểu học”.
3. Đối tưọng nghiên cún
Các biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng tính từ cho học sinh Tiếu học.


4. Mục đích nghiên cún
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong tìm ra các biện pháp rèn luyện kĩ năng
sử dụng tính từ cho học sinh qua đó nâng cao khả năng sử dụng tính từ cho HSTH.
5. Nhiệm vụ nghiên cún
- Xác định cơ sở lí luận cho đề tài.
- Các biện pháp rèn luyện, nâng cao kĩ năng sử dụng tính từ cho học sinh Tiểu
học.
- Thực nghiệm.
6. Phạm vi nghiên cún
Kĩ năng sử dụng tính từ của một số lóp học sinh trường Tiểu học Đống Đa,
thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Phương pháp nghiên cửu
- Phương pháp điều tra khảo sát
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp tổng hợp
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Ket luận, phần Nội dung của khóa luận được tổ
chức làm 3 chương:

chuấn này chủ yếu dùng vào việc phân biệt thực từ với hư từ, thực từ có khả năng
này, hư từ không có khả năng này.
Ví dụ: Tính từ, động từ, danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm
danh từ, cụm động từ, cụm tính từ. Nhưng quan hệ từ, phụ từ... lại không có khả
năng này.
- Có khả năng kết hợp với những hư từ chuyên dùng để xác định từ loại cho từ
đang được xét. Hư từ được dùng để xác định từ loại cho một từ nào đó được gọi là
từ chủng (từ làm chứng cho tư cách từ loại của một từ). Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn về

khả năng kết hợp được đánh giá như là tiêu chuẩn hình thức của việc định loại từ
tiếng Việt.
Ví dụ: Các phụ từ về mức độ như: rất, hơi, quá,... có khả năng đứng trước tính
từ đế bố sung ý nghĩa cho tính từ. Đó là các từ chứng được dùng để xác định từ loại
của từ trong thực tế sử dụng chính xác.
Chang hạn trong câu: Bạn Lan lớp em rất nhí nhảnh.
Ta có thể nhận biết ngay được rằng, đứng sau từ rất, từ nhí nhảnh là một tính
từ.
1.1.2.3. Chức vụ cú pháp
Theo Diệp Quang Ban trong cuốn: “Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt - tập 1”,
chức vụ cú pháp là các từ thuộc cùng một từ loại thì thường giữ một chức vụ trong
câu. Hay hiểu theo cách khác, chức vụ cú pháp chính là khả năng và cách thức thể
hiện các chức năng ngữ pháp của từ trong câu.


Các từ thuộc một lóp nào đó có thể đảm đương nhiều chức vụ cú pháp trong
câu. Trong các chức vụ cú pháp đó thường có một hoặc hai chức vụ nối lên rõ hơn
tiêu biểu cho lóp từ đó.
- Tính từ thường làm vị ngữ trong câu, với vai trò làm chủ ngữ thì ít hơn.
Ví dụ:


và chuyển sang một từ loại khác. Đó là hiện tượng chuyên loại của từ.


Ví dụ:
Tôi còn nhiều khó khăn chưa vượt qua được.
DT
Tôi khó khăn lắm mới thuyết phục được em gái đi học.
TT
Đe nhận biết được hiện tượng chuyển loại từ, có thể dựa vào các đặc điểm của
hiện tượng này:
- Từ chuyển loại có hình thức đồng âm. Một từ thuộc từ loại này khi chuyển
thành một từ thuộc từ loại khác vẫn giữ nguyên vỏ ngữ âm, chúng là hai từ đồng âm
khác từ loại.
- Từ chuyến loại có yếu tố nghĩa từ vựng chung. Yeu tố nghĩa từ vựng chung là
cơ sở của ý nghĩa từ loại và cùng là thành phần trong ý nghĩa khái quát của từ.
- Từ ban đầu có khả năng kết họp và chức năng ngữ pháp khác với từ chuyển
loại, mặc dù không phải lúc nào cũng xác định hoặc phân biệt được một cách dứt
khoát.
Trong tiếng Việt, thường gặp một số trường họp chuyến loại sau đây:
*Chuyển loại trong nội bộ thực từ:


Chuyển loại động từ
Ví dụ: Vùng đồng bằng là một vùng trù phú, đông dân, nhiều của.
DT
Sách của thư viện.
QHT
Ngoài ra, một số danh từ chỉ vị trí: trên, dưới, trong, ngoài,... chuyển thành
quan hệ từ: ngồi trên ghế, đi dưới nước, họp trong phòng, ăn ngoài quán,...


Chuyển loại động từ
Phân loại tính từ

Tính từ là một lớp từ đa dạng về ý nghĩa, khả năng kết hợp, nên có thể được
phân thành nhiều lớp nhỏ theo các tiêu chí khác nhau. Các nhà nghiên cứu đều có
cách phân loại trong các công trình của họ, song giữa các nhà nghiên cứu vẫn có
nhận định chung về sự phân loại tính từ:
- Tính từ chỉ chất và tính từ quan hệ
- Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ và tính từ chỉ đặc trưng không xác
định thang độ.
a. Tính từ chỉ tính chất và tính từ quan hệ


Tính từ tính chất

*Tính từ tính chất được hiểu là những tính từ vốn mang ý nghĩa tính chất chứ
không phải vay mượn nó ở lóp từ khác. Ý nghĩa tính chất ở đây phong phũ về nội
dung.
Ví dụ:
- Ý nghĩa các loại phẩm chất: tốt, xấu, đúng, đẹp, sai,...
- Ý nghĩa về lượng: nhiều, ít, cao, thấp, đắt,...


Tính từ quan hệ

Tính từ chỉ quan hệ là tính từ mà ý nghĩa chỉ tính chất của chúng được vay
mượn ở ý nghĩa thực tế của danh từ.
Tính từ chỉ quan hệ có thể có gốc là danh từ chung, cũng có thể có gốc là danh
từ riêng.
Ví dụ:
- Tính từ có quan hệ với danh từ riêng: con người (rất) Việt Nam, giọng (rất)

chuyển hóa trong nội bộ thực từ. Ta có thể thấy sự chuyển loại giữa động từ, tính từ


và danh từ, thường gặp đối với lớp từ đa tiết ghép gốc Hán Việt: quần chúng, ý thức,
khuyết điểm, hòa bình, công chúa,...
Ví dụ:
Сопя chúa là con gái của vua.

DT
Bạn Lan trông như с ông chúa.
TT
Ngoài ra, ta còn gặp sự chuyển loại của tính từ và danh từ.
Ví dụ:
Anh ta leo núi hết sức khó khăn.
TT
Cô sẽ vượt qua moi khó khăn để đến với anh.
DT
Sự chuyển loại từ danh từ sang tính từ:
Ví dụ:
Huế là một thành phố thơ mộng.

DT
Cô gái ấy có giọng nói rất Huế.
TT
Như vậy, chuyển loại là quá trình động,là một hiện tượng tích cực trong ngôn
ngữ, là một biểu hiện của quá trình tự điều chỉnh hệ thống ngôn ngữ, là một trong
các phương thức cấu tạo từ và là cơ sở để tạo ra từ mới. Sự chuyến loại của tính từ
rất phong phú, tùy vào từng trường hợp ta có thể nhận biết nó chuyển loại từ từ loại
nào.


cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh Tiểu học lĩnh hội các chuấn mực quy tắc


đạo đức của hành vi. Sự lĩnh hội trên tạo ra những biến đối cơ bản trong sự phát tri
en tâm lí của học sinh Tiểu học. Chúng không chỉ đảm bảo cho các em những bước
ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuối thiếu niên - lứa tuối có xu thế vươn lên làm
người lớn. Chức năng được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa
tuồi này - sự tuân thủ tuyệt đối và những người có uy tín với các em (đặc biệt là
thầy, cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi ngây thơ đối với
các đối tượng mà các em được tiếp xúc.
Khả năng tưởng tượng của học sinh Tiểu học cũng đã phát triển hơn so với trẻ
mầm non nhờ có bộ não phát triến và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn. Tuy
nhiên, tưởng tượng của các em vẫn có một số đặc điểm nổi bật: ở đầu tuối tiếu học,
hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền và dễ thay đối; ở cuối tiếu học, tưởng
tượng tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở
cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,... Đặc
biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này chi phối mạnh mẽ bởi xúc cảm,
tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình
cảm của các em.
Trí nhớ trực quan - hình tượng và trí nhớ máy móc của HSTH phát triến hơn
trí nhớ logic - từ ngữ. Các em ghi nhớ, giữ gìn và nhớ lại các hiện tượng, hình ảnh
tốt hơn là các câu chữ có hình tượng khô khan. Dưới ảnh hưởng của hoạt động học
tập, trí nhớ có chủ định, trí nhớ từ ngữ - logic xuất hiện, phát triển nhưng không biệt
lập với trí nhớ máy móc, trí nhớ trực quan - hình
tượng.
Chú ý không chủ định được phát triến mạnh và chiếm ưu thế ở học sinh Tiểu
học. Chú ý của học sinh chưa bền vững, nhất là học sinh đầu lớp tiểu học. Do khả
năng tống hợp nên sự chú ý của học sinh còn phân tán, vì thiếu khả năng phân tích
nên dễ bị cuốn vào hình ảnh trực quan gợi cảm. Sự chú ý của học sinh thường
hướng vào bên trong, vào tư duy và hoạt động trí óc. Chú ý có chủ định được phát

bài: Từ chỉ đặc điểm. Câu kiểu Ai thế nào?( tuần 15, trang 122, tập 1) và bài: Từ chỉ
tính chất. Kiếu câu Ai thế nào? (tuần 16, trang 133, tập l);ở lớp 3 cũng là dạng bài


thực hành, bài: Ôn tập về từ chỉ đặc điếm. Ôn tập câu Ai thế nào? (tuần 14, trang 117,
tập 1) và bài: Ôn tập về từ chỉ đặc điểm, ôn tập câu Ai thế nào? Dấu phẩy (tuần 17,
trang 145, tập 1). Dạng bài lí thuyết được dạy và học ở lớp 4, bài: Tính từ (tuầnl 1,
trang 110, tập 1) và bài: Tính từ (tiếp theo) (tuần 12, trang 123, tập 1). Lớp 5 các em
có duy nhất 1 bài ôn tập: Ôn tập về từ loại (trang 142, tập 1).
Như vậy, ta thấy tính từ được dạy trong chương trình Tiếu học chưa nhiều và
kết hợp dạy với các nội dung khác như: câu, dấu câu... Chính vì vậy mà nội dung về
tính từ chưa được khai thác sâu để học sinh hiểu rõ kiến thức này để vận dụng nó
vào các bài tập và sử dụng tính từ trong học tập cũng như trong đời sống. Qua đây,
chúng tôi nhìn nhận được vấn đề cần phải được xem xét và nghiên cứu để đưa ra
được các biện pháp phù hợp nâng cao kĩ năng sử dụng tính từ cho học sinh Tiểu
học.
1.3.2.

Thực trạng xác định và sử dụng tính tù'của học sinh Tiểu học
Qua thời gian ba tháng thực tập, tuy không được trực tiếp giảng dạy nhiều tiết

Luyện từ và câu nhưng chúng tôi được dự giờ các tiết dạy của giáo viên hướng dẫn
cùng với dự giờ giáo sinh thực tập tại trường Tiểu học Đống Đa - thành phố Vĩnh
Yên - tỉnh Vĩnh Phúc. Trong đó chúng tôi được dự tiết dạy “Ôn tập về từ chỉ đặc
điểm và ôn tập câu Ai thế nào?” - một tiết dạy điển hình về dạy học tính từ ở Tiểu

học lớp 2, lớp 3. Chúng tôi thấy rõ một phần thực trạng của việc dạy học tính từ của
giáo viên và học sinh trường Tiểu học.
Đe tìm hiểu thực trạng việc dạy học tính từ cho học sinh ở các trường Tiểu
học, chúng tôi đã trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với các giáo viên. Chúng tôi cũng

chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng nhận biết và sử dụng tính từ của học sinh
lớp 4A1 tại trường Tiểu học Đống Đa bằng cách sử dụng các phiếu hỏi (phụ lục).
Ket quả thu được như sau:
- Ở phiếu số 1


a. Tỉ lệ xác định đúng các tính từ trong phiếu điều tra
Không có học sinh nào xác định đúng 100% số tính từ trong phiếu.
Có 3 học sinh xác định được 90%- 99% tính từ trong phiếu chiếm 6.9% tổng
số học sinh tham gia khảo sát.
Có 11 học sinh xác định được 80%- 89% tính từ trong phiếu chiếm 26%.
Có 9 học sinh xác định được 70%-79% tính từ trong phiếu chiếm 20,9%.
Có 7 học sinh xác định được 60%-69% tính từ trong phiếu chiếm 16,2%.
Có 6 học sinh xác định được 50%-59% tính từ trong phiếu chiếm 13,9%.
Có 4 học sinh xác định được 40% - 49% tính từ trong phiếu chiếm 9,3%.
Có 3 học sinh xác định được 30% - 39% tính từ trong phiếu chiếm 6,9%.
b. Tỉ lệ học sinh nhầm lẫn các từ loại khác là tính từ
Có 18% học sinh không nhầm lẫn khi xác định tính

từ trongphiếu,

chiếm 42% tổng số học sinh tham gia khảo sát.
Có 15 học sinh nhầm lẫn từ 1% - 10% các từ loại khác

là tínhtừ trong

phiếu, chiếm 35%.
Có 3 học sinh nhầm lẫn từ 11 % - 20% các từ loại khác là tính từ trong
phiếu, chiếm 6,9%.
Có 2 học sinh nhầm lẫn từ 21% - 30% các từ loại khác là tính từ trong phiếu,




DỤNG TÍNH TỪ CHO HỌC SINH TIẺU HỌC
2.1.
2.1.1.

Nâng cao năng lực hiểu biết về tính từ cho giáo viên và học sinh
Nâng cao năng lực hiểu biết về tính từ cho giáo viên tiểu học
Giáo viên là người giữ một vai trò quan trọng trong bất cứ một quá trình giáo

dục nào, đồng thời giáo viên cũng là người quyết định tới chất lượng và hiệu quả
dạy học trong phân môn Luyện từ và câu nói chung và dạy học về tính từ nói riêng.
Trong giờ dạy học về tính từ, nếu bản thân người giáo viên tiếu học không nắm chắc
kiến thức về tính từ thì khó có thế giúp học sinh lĩnh hội được nội dung bài học một
cách khoa học. Giáo viên cũng khó có thể giải thích cho học sinh một cách thỏa
đáng, thuyết phục về các hiện tượng ngôn ngữ có thể gặp trong bài học. Do đó, để
nâng cao được hiệu quả dạy học về tính từ, người giáo viên tiểu học phải không
ngừng hiểu, nghiên cứu và bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt của bản thân.


Trích đoạn Nâng cao năng lực hiểu biết về tínhtừ cho giáo viên tiểu học Giúp học sinh nắm chắc tí thuyết về tínhtừ Vận dụng sáng tạo quy trình dạy học Luyện từ và câu kiếu bài hình thành khái niệm Rèn luyện kĩ năng sử dụng tínhtừ cho học sinh tiểu học thông qua xây dụng hệ thống bài tập về tính từ Kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status