TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN
HOÀNG THỊ LƯƠNG
THÀNH TỐ VĂN HÓA TRONG NGHĨA
CỦA CÁC ĐƠN VỊ TỪ VựNG TIẾNG
VIỆT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học TS. ĐỎ
THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI- 2015
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã nhận
được sự giúp đờ của thầy cô và bạn bè. Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới
TS. Đỗ Thị Thu Hương - người cô đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
LỜI CẢM ƠN
Em xin được chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc
biệt là các thầy cô trong tố Ngôn ngữ khoa Ngữ văn đã giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian
qua.
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên đã góp ý và ủng hộ tôi hoàn thành khóa luận này.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh
khỏi nhừng thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, thảng 5 năm 2015 Người thực hiện
Việt Nam lại là “sự không chối từ” các nền văn hóa khác. Cởi mở trong việc tiếp
nhận văn hóa nước ngoài, tiếp thu tinh hoa của mọi nền văn hóa làm giàu cho văn
hóa mình, đó là một hằng số của văn hóa Việt Nam. Nhìn ở phương diện xã hội,
nông dân, nông nghiệp lúa nước và xóm làng là ba nhân tố cơ bản của nền văn minh
thôn dã Việt Nam, bên cạnh đó ngôn ngữ cũng là một nhân tố tạo nên các nét đặc sắc
của văn hóa Việt.
Văn hóa và ngôn ngữ có liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Ngôn ngừ là
phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ. Người ta nói
rằng ngôn ngừ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhò' ngôn ngữ và văn tự đế
được lưu truyền và trong tương lai, nền văn hóa cũng nhờ vào ngôn ngữ đế phát
trien. Sự biến đối và phát trien ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với biến đối và
phát triển văn hóa. Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu ngôn ngữ,
và tất nhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa.
Trong ngôn ngữ, bộ phận phản ánh đậm nét nhất đặc thù của văn hóa chính là
nghĩa của các đơn vị từ vựng bao gồm từ và ngữ cố định. Nghĩa của các đơn vị từ
vựng bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa và ngược lại qua việc tìm hiếu nghĩa của các
đon vị tù’ vựng, ta thấy được phần nào bức tranh văn hóa của dân tộc Việt.
Xuất phát từ lí do nói trên, chúng tôi chọn đề tài “Thành to văn hóa trong
nghĩa của các đơn vị từ vụng tiếng Việt” đế nghiên cứu, với hi vọng kết quả nghiên
cứu sẽ giúp chúng ta thấy được nhiều nét văn hóa Việt Nam được chứa đựng trong
các lớp từ vựng tiếng Việt.
5
2. Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ và văn hóa là vấn đề đã được các nhà văn hóa học dân tộc, ngôn
ngữ học... quan tâm đến trong những năm gần đây. Ớ Nga và các nước phương Tây,
các vấn đề về nhân cách ngôn ngữ, bức tranh ngôn ngữ về thế giói, ngôn ngữ và con
người, ngôn ngữ và nhân học... đã được đưa ra bàn luận rất nhiều. Ớ Trung Quốc và
cách giao tiếp. Cũng bàn về mối quan hệ giữa ngôn ngừ và văn hóa, PGS Nguyễn
Đức Tồn trên bài Nghiên cứu đặc trưng văn hỏa dân tộc qua ngôn ngữ và tư duy
qua ngôn ngữ đã thế hiện quan điếm của mình. Theo ông, đặc trưng văn hóa dân tộc
được biếu hiện ở tất cả các quá trình ngôn ngữ như ý nghĩa từ, sự phạm trù hóa hiện
thực và “bức tranh ngôn ngữ về thế giới ” quá trình định danh sự vật, quá trình
chuyên nghĩa tên gọi.
Như vậy có thể thấy, các tác giả đi trước đều thống nhất cho rằng trong mối
quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa thì hiện tượng ngôn ngữ chịu sự quy định rất lớn
từ đặc trưng văn hóa dân tộc. Đặc biệt trong ngôn ngữ luôn chứa đựng rất nhiều nét
văn hóa. Các nét văn hóa thế hiện ở nhiều cấp độ ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp...
Trên đây là những nhận định khái quát về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn
hóa. Những nhận định này, mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp lí thuyết nói chung.
Vận dụng những kết quả nói trên, đề tài của chúng tôi tìm hiểu những biếu hiện cụ
thể của mối quan hệ ngôn ngữ và văn hóa trong nghĩa của các đon vị từ vựng tiếng
Việt.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cún
3.1.
Mục đích
Đe tài tìm hiểu những thành tố văn hóa chứa đựng trong nghĩa của một số
đơn vị từ vựng tiếng Việt. Từ đó góp phần khang định thêm mối quan hệ giữa văn
hóa và ngôn ngữ, văn hóa có tác dụng thúc đấy sự phát triển của từ vựng nói riêng và
ngôn ngừ học nói chung.
Ket quả của việc xem xét nghiên cứu trên sẽ giúp người Việt có thêm vốn
hiếu biết về văn hóa dân tộc trên bình diện ngôn ngữ.
4.2 Phạm vi
-
Khóa luận chú ý đến những biếu hiện của yếu tố văn hóa trong nghĩa của các
từ nhiều nghĩa, một số từ ghép và thành ngữ tiếng Việt.
-
Đe phục vụ cho mục đích nghiên cứu, ngừ liệu được khảo sát trong Từ đỉến
tiếng Việt và Từ đỉến thành ngữ, tục ngữ Việt Nam do Vũ Duy, Vũ Thúy
Anh, Vũ Quang Hào biên soạn, Thành ngữ tiếng Việt do Nguyễn Lực, Lương
Văn Đang biên soạn.
5. Phương pháp nghiên cún
Với đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
-
Phương pháp thống kê, phân loại
Thống kê các từ trong từ điển Tiếng Việt và thành ngữ trong Từ điến Thành
ngữ tiếng Việt có chứa yếu tố văn hóa, sau đó phân loại theo đặc trưng.
- Phương pháp phân tích - tông hợp
Sau khi đã thống kê, phân loại chúng tôi tiến hành phân tích các yếu tố văn
hóa chứa đựng trong từ và ngữ.
Sau đó, chúng tôi thực hiện tống hợp lại những đặc trưng chung về văn hóa
trong nghĩa của các đon vị từ vựng.
8
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
Việc tìm ra những nét văn hóa trong các đơn vị từ vựng Tiếng Việt, giúp ích
cho việc nghiên cứu văn hóa nói chung và nghĩa của từ vựng nói riêng.
Ket quả nghiên cứu của bài khóa luận sẽ được vận dụng trong các chuyên để
giảng dạy về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, đồng thòi cũng giúp ích trong
giảng dạy nghĩa của từ.
7. Bố cục
Khóa luận gồm 2 chương:
ChưoTLg 1: Cơ sở lí luận
ChưoTLg 2: Một vài thành tố văn hóa của người Việt trong nghĩa của từ và
thành ngữ tiếng Việt.
CHƯƠNG 1. CO SỎ LÍ LUẬN
1.1.
Nghĩa của từ
1.1.1.
Khái niệm
9
Trong tiếng Việt, có nhiều loại đon vị khác nhau về chức năng trong ngôn
ngữ. Âm vị là những đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, tự thân không có nghĩa, được dùng đế
tạo ra vở âm thanh cho các đơn vị có nghĩa.
Hình vị là nhừng đơn vị được tạo ra từ các âm vị, tự thân có nghĩa nhưng
không được dùng trực tiếp đế giao tiếp, tức không trực tiếp được dùng để kết hợp với
không còn đơn vị nào cũng có hình thức ngữ âm và ý nghĩa cụ thế mà lại lớn hơn từ.
- Từ là đơn vị nhỏ nhất ở trong câu, là đơn vị trực tiếp nhỏ nhất để tạo câu.
Hình vị cũng là đơn vị nhở nhất có âm, có nghĩa nhưng không được sử
dụng độc lập để tạo câu, chúng chỉ là các đơn vị được dùng đế cấu tạo nên từ.
1
0
Từ đó có thế thấy, nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà tù’ biếu hiện, nó
được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố. Trong số đó có nhũng
nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ. Nhân tố ngoài
ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng.
Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn
ngữ.
1.1.2.
Các thành phần ý nghĩa của từ
Tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có
những thành phần ý nghĩa sau:
- Ý nghĩa biếu vật ứng với chức năng biếu vật
- Ý nghĩa biếu niệm ứng với chức năng biêu niệm.
- Ý nghĩa biếu thái ứng với chức năng biếu thái.
Các thành phần ý nghĩa này thường được gọi chung là ý nghĩa từ vựng; ý
nghĩa từ vựng thường được đối lập với thành phần ý nghĩa thứ tư là:
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngừ pháp.
1.1.2.1.
lập nên theo sự phân loại lô-gic, ít nhiều phù hợp với nhận thức khoa học:
như loại “đồ đạc” gồm các sự vật như bàn, ghế, giường, tủ, đối lập với các
loại “dụng cụ” như kìm, búa, vồ, giũa, đục, cưa,... cũng có những loại mà sự
khái quát dựa vào những tiêu chí rất hình thức , không bản chất như loại “củ”
bao gồm cả rễ, cả thân ngầm,thân nổi và cả gốc lá,...
Mỗi ngôn ngữ có các kiếu cấu tạo từ và hệ thống các hình vị cấu tạo không
giống nhau, cho nên mỗi ngôn ngừ có những kiếu ý nghĩa cấu tạo khác nhau. Chúng
hoặc sẽ tạo điều kiện thuận lợi, làm xuất hiện kiếu ý nghĩa biểu vật này, hoặc cản trở
không cho xuất hiện kiểu ý nghĩa biểu vật kia trong một ngôn ngừ nào đấy.
Ví dụ: các ý nghĩa biêu vật của các từ láy, từ ghép hợp nghĩa, từ ghép phân
nghĩa sắc thái thái hóa... không có trong tiếng Nga và tiếng Nga không sử dụng các
kiểu cấu tạo đó. Nhưng với sự sử dụng rộng rãi phương thức phụ gia và hệ thống các
phụ tố cấu tạo từ, tiếng Nga lại có thế tạo ra hàng loạt các ý nghĩa biếu vật mà tiếng
Việt không có từ tương ứng.
1.1.2.2.
Ỷ nghĩa biếu niệm
Với thuật ngữ nét nghĩa, chúng ta có thế xác định thêm một bước rằng ý
nghĩa biếu niệm là tập họp của một số nét nghĩa.
Ví dụ: “bàn”: đồ dùng, có mặt phẳng được đặt cách mặt nền một khoảng đủ
lớn bởi các chân, bằng nguyên liệu rắn, dùng đế đặt các đồ vật khác hay sách vở khi
viết lách hay nghiên cứu.
1
2
“bủa”: dụng cụ, gồm một khối nguyên liệu rắn có trọng lượng đủ lớn; có cán
Ngữ cố định là các cụm từ đã cố định hóa nên có tính chặt chẽ, sẵn có, bắt
buộc, có tính xã hội như từ.
Ví dụ: ngữ cố định chờ hết nước hết cái, cụm từ này nói lên sự chờ đợi đã kéo
dài khá lâu vượt mức nhẫn nại của người phải chờ, khiến cho người đó phải sốt ruột,
bực dọc.
1
4
Nói khác đi, chúng ta lĩnh hội nghĩa của ngữ này theo cách chúng ta lĩnh hội
nghĩa của một cụm từ chính phụ thông thường: lĩnh hội nghĩa của từ trung tâm và
lĩnh hội nghĩa bố sung của các từ phụ.
Trong ngữ cố định, người ta chia làm hai loại: quán ngữ và thành ngữ. Nhưng
trong hệ thống từ vựng, các thành ngữ xuất hiện nhiều hon và mang nhiều ý nghĩa
văn hóa hơn. Vì vậy mà, trong đề tài này chúng tôi sẽ chủ yếu đề cập tới mảng thành
ngữ tiếng Việt.
Theo tác giả Hoàng Văn Hành trong cuốn Thành ngữ học tiếng Việt, thành
ngữ là một loại tố họp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng
bấy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong
ngôn ngữ [6; 27]
1.2.2.
Đặc điểm
1.2.2.1
Kết cấu
Thành ngữ tiếng Việt có các kết cấu sau:
Ngữ nghĩa
Do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có
tính thành ngữ. Tính thành ngữ được định nghĩa như sau: cho một tố hợp có nghĩa s
do các đơn vị A, B,
c...
mang ý nghĩa lần lượt s[l], s[2], s[3]... tạo nên nếu như
nghĩa s không thế giải thích bằng các ý nghĩa s[l], s[2], s[3] thì tổ họp A, B, c có tính
thành ngữ.
Ví dụ: hết nước hết cái là tố hợp có tính thành ngữ vì ý nghĩa quá dài, quá
mức chịu đựng, bực dọc, sốt ruột của nó không thế giải thích được bằng các nghĩa
của hết nước hết cái...
Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa là nói chung. Sự thực trong các
ngữ cố định, có nhiều ngữ có hình thức cấu tạo là các câu như: chuột sa chĩnh gạo,
cha truyền con nối, chó ngáp phải ruồi, ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng... Bởi vậy,
cái quyết định đế xác định các ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về
chức năng tạo câu. Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải chúng
có tính sẵn có, bắt buộc... như từ mà còn vì ở trong câu chúng có thể thay thế cho
một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu.
Những đon vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do như: nói khác đi,
nói tóm lại, một mặt thì, mặt khác thì... Tính chất cụm từ tự do của các ngữ này đã
quá rõ ràng về ý nghĩa cũng như về hình thức. Đây là các cụm từ tự do đã được cố
định hóa do nội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyên phải lặp đi lặp lại vì
cần thiết cho suy nghĩ và cho sự diễn đạt.
Nói ngừ cố định có tính chặt chẽ, cố định không có nghĩa là chúng không biến
đối trong câu văn cụ thế. Ngay cả các từ phức, những đơn vị mà ý nghĩa có tính chất
thống nhất rất cao cũng còn có những biến thể lời nói, huống chi các ngữ cố định vốn
cùng sào. Đó là tình thế của những kẻ hèn kém bị dồn vào đường cùng, không lối
thoát mặc dù đã xoay xở hết cách.
Tính dân tộc: tính dân tộc ở các ngữ cố định hiện ra thứ nhất ở chính nội dung
của chúng. Như đã nói, các ngữ cố định phản ánh các biểu hiện, các sắc thái khác
nhau của sự vật, hiện tượng... đã có tên gọi hoặc chua có tên gọi. Thấy được biếu
hiện nào, sắc thái nào đáng chú ý đế ghi giữ chúng lại. Điều này tùy thuộc vào đời
1
7
sống, kinh nghiệm và cách nhìn của từng dân tộc. Thứ hai ở các tài liệu, tức là các
vật thực, việc thực... mà ngữ cố định đã dùng làm biếu trưng cho nội dung của chúng
.
Con mèo, con chuột, con chó, con ong, ngôi chùa, pho tượng, tấm áo, manh
quần, cảnh hai gái lấy một chồng, sự bám dai như con đỉa..., tất cả là những tài liệu
mang đậm màu sắc quê hương, xứ sở Việt Nam trong xã hội nông nghiệp xưa được
quan sát một cách tài tình, liên hệ một cách độc đáo mà đúng đắn, tinh tế... với
những hiện tượng nhân sinh. Những tài liệu này của ngữ cố định Việt Nam khiến cho
chúng không thể lẫn được bất cứ ngữ cố định nào của các dân tộc khác.
Tỉnh hình tượng và tính cụ thê: tính hình tượng của thành ngữ là kết quả tất
yếu của tính biểu trưng. Do chỗ tài liệu của các ngữ cố định là sự vật, sự kiện cảm
giác được, quan sát được cho nên nhắc tới một ngữ cố định trước hết là tái hiện lại
chính những hình ảnh về các sự vật, hiện tượng tài liệu đó. Nhờ tính hình tượng mà
các ngữ cố định thường gây ra những ấn tượng mạnh mẽ, đột ngột, tác dụng của
chúng đậm đà và sắc, càng ngẫm càng thú vị. Ớ tính chất này, ngữ cố định mang tính
chất của các sáng tác văn học, đó là những phác thảo văn học đã có định hóa thành
phương tiện giao tiếp.
Tính biểu thái: nói các ngữ cố định không thế dùng cho bất cứ hạng người
nào cũng được thì cũng tức là nói đến tính biếu thái của chúng. Các ngữ cố định
Theo nghĩa rộng mang tính thuật ngừ thì “văn hóa” bao gồm tất cả từ những
sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động. Tuy
nhiên ngay cả với cách hiếu rộng này trên thế giới cũng có hàng trăm cách định
nghĩa khác nhau. Cho tới nay, người ta đã thống kê có hon 400 định nghĩa về “văn
hóa”. Điều đó chứng tỏ việc xây dựng một định nghĩa có tính khoa học với tư cách là
một thuật ngữ cho khái niệm về “văn hóa” không phải dễ dàng.
Trong bài nghiên cứu này chúng tôi lấy định nghĩa “văn hóa” của tác giả Trần
Ngọc Thêm làm điểm xuất phát về lý luận đế nghiên cứu: “Văn hóa là một hệ thống
hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá
trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên
và xã hội”. [13; 10]
Khái niệm về văn hóa này chứa đựng 4 đặc trưng cơ bản: tính hệ thống, tính
giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh.
1
9
Tính hệ thống cho phép văn hóa thực hiện chức năng tố chức xã hội và là cơ
sở để xem nó là đối tượng của một khoa học riêng biệt.
Tính giá trị cho phép văn hóa thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội, phân
biệt các hiện tượng văn hóa và phi văn hóa. Theo mục đích phục vụ, các giá trị văn
hóa có thể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần tương ứng với hai tiếu văn
hóa hợp thành: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Tính nhân sinh cho phép phân biệt giá trị văn hóa với giá trị tự nhiên nghĩa là
xem văn hóa như toàn bộ các kết quả và quá trình hoạt động xã hội của con người
đối lập với hoạt động tự nhiên bên ngoài - những điều kiện tồn tại của con người,
không phụ thuộc vào con người.
Tính lịch sử cho phép phân biệt văn hóa với văn minh và một số hiện tượng
xã hội. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, đúc kết thành những khuôn mẫu xã
các tri thức khoa học. Tuy nhiên, các tri thức khoa học hiện đại đã là sản phấm của
văn minh, phần lớn chúng trở thành tài sản chung của nhân loại, vì vậy chúng ta sẽ
không nói tới.
Các tư tưởng nhận thức Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, dù là
nguồn gốc cố xưa (như Âm dương, Ngũ hành) hay mới được bồi đáp trong giai đoạn
về sau (như các tư tưởng về Nho - Phật - Đạo), đều là những sản phẩm đặc thù của
lối tư duy tống hợp và trọng quan hệ (biện chứng) của người nông nghiệp. Cho nên
chúng đều là nhừng tư tưởng mang tính Triết Lí của nền Đạo học phương Đông, chứ
không phải là những hệ thống Triết Học như ở khoa học phương Tây. ĩ.3.2.2. Văn
hỏa tô chức cộng đồng
Thành tố quan trọng thứ hai của văn hóa là văn hóa tố chức cộng đồng, với
hai bộ phận tố chức đời sống tập thể và tổ chưc đời sống cá nhân.
Tố chức đời sống tập thể bao gồm những vấn đề thuộc tầm vĩ mô, liên quan
đến cuộc sống của cộng đồng, trong đó quan trọng nhất là ba lĩnh vực: quốc gia nông thôn - đô thị.
Đó là bức tranh chung của mọi nền văn hóa. Đối với mọi nền văn hóa gốc
nông nghiệp điến hình như Việt Nam thì tố chức nông thôn là lĩnh vực quan trọng
nhất. Nó chi phối cả truyền thống tố chức quốc gia lẫn tố chức đô thị, cả diện mạo xã
hội lẫn tính cách con người. Nắm vững những đặc thù của tố chức nông thôn tức là
nắm được chìa khóa văn hóa tố chức đòi sống cộng đồng của người Việt Nam.
Tố chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tố chức cộng đồng.
Nó bao gồm những vấn đề vĩ mô, liên quan đến cuộc sống của từng cá nhân.
2
1
Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng tuân theo những phong tục lâu đời.
Khi trình độ hiếu biết còn thấp, họ tôn sùng những thần thánh do họ nghĩ ra (tín
ngưỡng). Từ tự phát lên tự giác, tín ngưỡng có thế trở thành tôn giáo, song điều đó
đã không xảy ra ở xã hội Việt Nam cố truyền, là nơi mạnh về tư duy tổng hợp mà
2
2
văn hóa Ấn Độ theo cách của mình, ta có nền văn hóa Chăm độc đáo và một nền
Phật giáo Việt Nam. Tiếp thu văn hóa Trung Hoa, ta có Nho giáo và Đạo giáo, văn
hóa phương Tây đem lại Ki to giáo cùng những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần
mới mẻ.
Có thế nói văn hóa Việt Nam là nền văn hóa không chối từ những nền văn hóa
khác. Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc cùng với nền văn hóa bản địa, văn hóa
Việt Nam luôn luôn biết tiếp thu những tinh hoa của các nền văn hóa khác trên thế
giới. Tất cả nó tạo nên một nền văn hóa đa bản sắc mang những nét riêng của con
người Việt.
Tiêu kêt
Từ vựng của một ngôn ngừ là một hệ thống đa dạng và phức
tạp bao gồm hàng trăm vạn đơn vị khác nhau. Nó là tấm
gương phản ánh trực diện văn hóa của một cộng đồng ngôn
ngữ nhất định. Thành phần quan trọng nhất trong từ là ý
nghĩa của từ. Ý nghĩa này là sự phản ánh hiện thực khách
quan vào ý thức và “tồn tại dưới dạng một cơ cấu, do một chùm những
thành tố có quan hệ hữu cơ với nhau, được tỏ chức theo tôn tỉ trật tự nhât định”.
Trong ý nghĩa của từ có những thành phần ý nghĩa khác
nhau: những thành phần ý nghĩa thuộc nội tại ngôn ngữ (ý
nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biếu thái) và
thuộc phạm vi ngoài ngôn ngữ (ý nghĩa hành vi, ý nghĩa
liên hội) Lâu nay các nhà nghiên cứu từ vựng - ngữ nghĩa
thường quan tâm nhiều tới việc nghiên cứu nghĩa của từ
trong nội tại ngôn ngữ mà tách rời chúng khỏi quá trình
tâm lý xã hội, văn hóa, lịch sử, tách rời khỏi những quan
2.2.1.
Khái niệm nghĩa chuyên
Từ lúc mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa biếu vật. Sau
mộtthờigian
được sử dụng, nó có thể thêm những nghĩa biểu vật mới. Các nghĩa biếu
vật
mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biếu niệm của nó càng có khả năng biến
đổi.
Trong quá trình giao tiếp nghĩa của từ được hiện thực theo hướng cụ thể hóa
và có sự nảy sinh nghĩa mới, đó là sự chuyển biến ý nghĩa của từ.
Nghĩa chuyển là nghĩa của từ được nảy sinh trên cơ sở từ nghĩa gốc tạo ra các
từ nhiều nghĩa.
Ví dụ:
Từ “nhà ” có nghĩa gốc là “công trình kiến trúc đế ở”, từ nghĩa này nó
chuyến nghĩa sang đế chỉ các đối tượng khác.
-
Chỉ người trong gia đình (cả nhà)
-
Chỉ một triều đại phong kiến (nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần....)
(màu sắc đẹp)... Tương đồng về vị trí như “cội”- gốc cây to, lâu năm và “cội”
trong cội nguồn, cội rễ” chỉ nơi xuất phát (chung vị trí: khởi đầu)... Tương
đồng về kích thước như “cây” - thực vật có thân cao, lá, rễ và “cây” trong
“cây cột, cây rơm, cây đèn” (chung nét nghĩa: chiều cao).
-
Tương đồng về nét nghĩa cách thức: