Nghiên cứu thành phần loài sâu hại rau họ hoa thập tự và hình thái, sinh học của loài sâu khoang (spodoptera litura fabricius) hại rau tại xuân hòa phúc yên vĩnh phúc - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
===£o|Ilo3===

NGUYỄN THỊ TỐ QUYÊN

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI SÂU HẠI RAU
HỌ HOA THẬP TỤ VÀ HÌNH THÁI,






7

SINH HỌC CỦA LOÀI SÂU KHOANG
(SPODOPTERA LITURA FABRICIUS) HẠI RAU
TẠI XUÂN HÒA - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
••

Chuyên ngành: Động yật học

HÀ NỘI - 2015

••


Bằng tấm lòng biết ơn và sự kính trọng em xin gửi tới:
PGS.TS. Trương Xuân Lam - Trưởng phòng Côn trùng học thực nghiệm Viện Sinh
Thái và Tài Nguyên Sinh Vật


1.
PHỤ LỤC
Bảng 1. Thành phần côn trùng hại trên rau Họ hoa thập tự tại địa điểm nghiên


Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Ở các nước trên thế giới từ rất sớm của những năm đầu thế kỉ XX việc sản xuất
các sản phấm nông nghiệp an toàn cho sức khỏe con người và môi trường là hướng
ưu tiên hàng đầu của ngành nông nghiệp, trong đó rau xanh là sản phẩm được quan
tâm đặc biệt về vệ sinh an toàn thực phẩm. Việc sản xuất rau sạch, rau an toàn trong
nông nghiệp đô thị đã trở thành nhu cầu cấp thiết của xã hội trong quá trình đô thị
hóa, ngoài yếu tố bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng còn có ý nghĩa rất lớn về kinh tế
và khoa học vì hướng tới một nền nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu khai thác lợi
dụng thiên địch tự nhiên để phòng chống sâu hại hiệu quả là một hướng quan trọng
trong phát triến biện pháp sinh học. Đây cũng là biện pháp chủ đạo của hệ thống
phòng trừ dịch hại tổng hợp và là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển nông nghiệp
bền vững.
Rau họ thập tự được trồng rộng rãi phổ biến ở khắp thế giới, nó là những loài cây
thực phấm rất quan trọng đối với đời sống của con người, được sử dụng rộng rãi làm
thức ăn cho người và gia súc. Chúng chiếm khối lượng lớn, trong tổng số các loài
cây làm thực phẩm thường ăn của chúng ta. Cây thập tự chiếm vị trí quan trọng bậc
nhất trong ngành rau nhờ chủng loại phong phú, sản lượng cao, thích nghi rộng rãi
với điều kiện thời tiết, đất đai khác nhau, dễ vận chuyển, dễ ăn, dễ chế biến và nấu
nướng. Rau họ thập tự không những có ý nghĩa kinh tế cao mà còn có giá trị về mặt
dinh dưỡng, cung cấp các chất vitamin, chất khoáng và các chất vi lượng không thể
thay thế. Các giống rau họ hoa thập tự được tiêu thụ với số lượng rất lớn. Tầm quan
trọng của rau trong cuộc sống đã được ông cha ta thừa nhận trong câu ca dao: “Cơm
không rau như đau không thuốc”.

(IPM) và bảo vệ cân bằng sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp.
Đe phòng trà có hiệu quả một loài sâu hại nói chung, sâu khoang hại rau họ hoa
thập tự nói riêng thì trước hết phải hiểu được tập tính sống và đặc điểm sinh học,
sinh thái của chúng cũng như mối quan hệ và khả năng hạn chế sự phát triển sâu hại
của thiên địch trong sinh quần rau họ hoa thập tự.

6


Xuất phát từ mục đích muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về sâu khoang hại rau họ hoa
thập tự và sử dụng chế phẩm sinh học để phòng trừ chúng không gây ảnh hưởng đến
môi trường và sức khỏe con người chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thành
phần ỉoàỉ sâu hại rau họ hoa thập tự và hình thái, sinh học của loài sâu khoang
(Spodoptera lỉtura Fabricius) hại rau tại Xuân Hòa- Phúc Yên - Vĩnh Phúc 20142015.”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần loài sâu hại họ hoa thập tự và đặc diểm hình thái, sinh
học của loài sâu hại phố biến là sâu khoang, nhằm tìm ra biện pháp phòng trừ tốt
nhất một số loài sâu hại phổ biến trên rau họ hoa thập tự bảo đảm tăng năng suất cây
trồng và bảo vệ môi trường.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1.

Ỷ nghĩa khoa học
Ket quả điều tra nghiên cứu góp phần bổ sung thêm những dẫn liệu nghiên cứu

về thành phần sâu hại, sinh học loài sâu khoang (Spodoptera litura F) hại rau họ hoa
thập tự tại vùng trồng rau Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc nhằm đề xuất biện
pháp ít độc trong phòng trừ sâu hại rau ở tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2.


Hệ sinh thái nông nghiệp truyền thống đa dạng và bền vững(được tự nhiên chọn
lọc qua nhiều năm mang những đặc tính di truyền quý hiếm như chịu được điều kiện
bất lợi của ngoại cảnh, chống chịu tốt với sâu bệnh,...) được thay thế dần bằng hệ
sinh thái mới có năng suất cao nhưng khiếm khuyết, không bền vững, dễ phát sinh
sâu bệnh. Do đó đẩy mạnh sử dụng biện pháp sinh học phòng trừ sâu bệnh làm giảm
nhẹ thiệt hại do sâu bệnh gây ra, góp phần đảm bảo an toàn lương thực, thực phấm
cho xã hội là điều cần thiết (Nguyễn Văn Đĩnh, 2006) [14].
1.2.
1.2.1.

Tình hình nghiên cứu sâu hại rau họ hoa thập tự ngoài nước
Nghiên cứu về thành phần sâu hại trên rau họ hoa thập tự
Ở vùng bán đảo Thái Bình Dương sâu tơ là loại gây hại phổ biến nhất, các loại

khác như Crocidolomia binotalis, Hellula undalis cũng khá phố biến nhưng ít quan
trọng hơn so với sâu tơ (Water house, 1992) [33]. Ở Jamaica có 17 loài sâu hại,
trong đó có 7 loài sâu hại chính, riêng sâu tơ Plutella xylostella L. và sâu khoang
Spodoptera lìtura F gây hại 74-100% năng suất bắp cải (Alam, 1992) [19]. Nhật
Bản có 5 loài (Koshihara, 1985) [28], Trung Quốc có 7 loài. Tuy số loài gây hại chủ

8


yếu có khác nhau nhưng sâu tơ, sâu khoang, bọ nhảy đều được coi là những đối
tượng gây hại quan trọng ở hầu hết các nước (Bhala và Buibey 1995) [22].
1.2.2.

Những nghiên cứu về loài sâu khoang Spodoptera litura
Sâu khoang là đối tượng gây hại phân bố rộng ở nhiều nước thuộc khu vực nhiệt


9


Chelliah và Srinivasan (1985) xác định việc trồng xen hành tỏi, lúa mạch, thì là,
hướng dương và bắp cải có thể làm giảm mật độ sâu tơ còn 20-50%. Xen canh bắp
cải với cà chua thì mật độ còn 49% so với sâu tơ trên bắp cải trồng thuần. Việc
trồng cà chua xen bắp cải, làm giảm việc phun thuốc trừ sâu từ 9 lần xuống còn 2
lần/vụ và đưa năng suất bắp cải tăng 2,3 tấn/ha so với không trồng xen.
Không xử lí cỏ dại khi gieo cải lá vào cuối tháng 7 đã làm giảm rõ rệt năng suất
chất khô so với việc dọn sạch cỏ cùng tàn dư cây trồng. Bởi bọ nhảy sinh sản nhanh,
tỷ lệ sống sót cao, gây hại nặng cho cây trồng khi có cỏ dại và rác thực vật trên đồng
ruộng.
Bầy cây trồng là biện pháp canh tác quan trọng trong phòng trừ sâu hại rau. Theo
Srinivasan và Krishma (1992) loại cải mù tạt Ấn Độ Brassica juncea là ký chủ mà
sâu tơ và một số loại sâu hại khác trên rau rất ưa thích đến đẻ trứng. Các tác giả này
đều đề xuất biện pháp trồng xen cải mù tạt với cải bắp với tỷ lệ hợp lí (một luống
cải mù tạt xen một luống cải bắp) để thu hút bướm sâu tơ và các loại sâu hại khác
vào cải mù tạt sau đó tiêu diệt chúng bằng thuốc hóa học. Việc làm này giúp mật độ
sâu và giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng trên bắp cải, góp phần đảm bảo chất lượng
rau đồng thời làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.
Ket quả nghiên cứu của Nakahara et al. (1985) cũng cho thấy biện pháp tưới
phun mưa còn làm giảm đáng kể lượng trưởng thành sâu tơ từ 20 con/20 vợt xuống
còn 0,2 con/20 vợt, góp phần làm tăng năng suất cải xoong lên 93%, chi phí lao
động và thuốc trừ sâu giảm 89%
1.2.3.2.

Biện pháp cơ giới vật ỉí

Một số biện pháp cơ giới vật lí như bẫy dính màu vàng, bẫy đèn, quây lưới xung
quanh ruộng rau, cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

được tiến hành dưới hai phương thức: nhân thả tràn ngập với số lượng đủ gây áp lực
khống chế số lượng quần thể sâu hại. nhân thả bổ sung nhằm tạo lập quần thể tự
nhiên.
1.2.3.4.

Biện pháp hóa học

Cho đến nay việc dùng thuốc trừ sâu hóa học vẫn là biện pháp quan trọng để trừ
sâu hại các loại rau ở nhiều nước trên thế giới. Biện pháp hóa học vẫn giữ vị trí chủ
đạo về quy mô và hiệu quả sử dụng, nếu sử dụng đúng biện pháp hóa học sẽ đem lại
hiệu quả kinh tế to lớn, góp phần ốn định năng suất cây trồng.

1
1


UKS và Harris (1996) khẳng định biện pháp hóa học phải được áp dụng theo
chiến lược điều khiến tính kháng thuốc và được đặt trong hệ thống chương trình
phòng trừ tổng hợp nhất định. Một số tác giả cho rằng biện pháp sử dụng thuốc hóa
học hữu hiệu nhất để trừ sâu tơ và các loại sâu hại khác trên rau họ hoa thập tự là
phải lựa chọn một bộ thuốc có cơ chế kháng khác nhau, sử dụng luân phiên các loại
thuốc đó và xen kẽ với các chế phẩm sinh học.
Hoàn thiện biện pháp hóa học là việc làm cấp thiết hiện nay, trên cơ sở dùng
thuốc hóa học một cách hợp lí. Đẻ khắc phục tác hại của thuốc hóa học gây ra cho
môi trường, người ta đã đưa vào sử dụng nhiều loại thuốc hóa học với nhiều ưu
điếm như: tính chọn lọc cao, lượng thuốc dùng ít, không lưu tồn lâu trong môi
trường, ít độc với động vật máu nóng và môi sinh nhưng có hiệu lực đối với dịch hại
(Barbara, 1993) [21].
1.3. Tình hình nghiên cứu sâu hại rau họ hoa thập tự trong nước
1.3.1.

quanh năm từ tháng 1 đến tháng 12. Trong năm 2000, trên cây cải ngọt bọ nhảy phát
sinh mạnh vào tháng 5 đến tháng 10, mật độ từ 100-135 con/m 2. Nhưng năm 2011
bọ nhảy phát sinh mạnh vào tháng 3, mật độ trưởng thành bọ nhảy là 107,5 con/m 2.
Bọ nhảy gây hại nặng trên cải xanh, cải củ hơn bắp cải, xu hào. Vùng chuyên canh
bị bọ nhảy hại nặng hơn vùng xen canh. Mật độ bọ nhảy giảm mạnh khi có mưa lớn
hoặc mưa kéo dài.
1.3.2.

Những nghiên cứu về sâu khoang Spodoptera ỉỉtura

Ở Việt Nam các nghiên cứu của Nguyễn Duy Nhất công bố vào năm 1970 [10]
cho đến nay là một nghiên cứu khá đầy đủ về sâu khoang. Khi nhiệt độ không khí
dưới 20°c thời gian phát dục của sâu bị kéo dài và ẩm độ dưới 78% thì quá trình
phát dục của sâu cũng bị ảnh hưởng, nhất là sâu tuổi 1-2. Điều kiện nhiệt độ thích
hợp cho phát dục của sâu là 28-30°C và ẩm độ không khí là 85-92% . Ngoài ra độ
ẩm thích hợp cho sâu hóa nhộng khoảng 20%, nếu bị ngập nước 4-5 ngày thì nhộng
chết 100%.
Sâu khoang có tiềm năng sinh sản cao, một ngài cái đẻ từ 2,3 - 6,4

0

trứng và

tống số lượng trứng đẻ từ 123,3 - 1605,0 trứng. Tác giả cho rằng thức ăn là điều
kiện chủ yếu quyết định số lượng phát sinh của quần thể sâu khoang trên đồng
ruộng. Neu bắp cải trồng mật độ dày làm ẩm độ trong tầng lá cao từ 84 - 89% thì

1
3



trưởng thành sâu tơ khi di chuyển đến luống rau bắp cải để đẻ trứng. Các tác giả đều

1
4


nhấn mạnh biện pháp luân canh, xen canh cây trồng và tưới phun mưa vào chiều tối
có tác dụng làm giảm số lượng sâu tơ trên cải bắp (Nguyễn Đình Đạt, 1980).
Nguyễn Quý Hùng và ctv (1994) tưới phun mưa vào buối tối có tác dụng làm giảm
số lượng sâu tơ trên rau
Nguyễn Quý Hùng và cộng tác viên đã thử nghiệm trồng xen 2 hàng cây cà
chua vào 4 hàng bắp cải, tiến hành trong vụ đông xuân năm 1992-1993 trên diện
tích 60m2 ở vùng rau thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy trên bắp cải, ở
ruộng trồng xen cà chua, sâu tơ có mật độ cao nhất là 80 trứng và 105 sâu non/ cây,
so với 134 trứng và 187 sâu non/cây ở ruộng trồng thuần.
Lê Văn Trịnh và cộng tác viên, 1997 đã thực hiện mô hình trồng xen cà chua
với bắp cải với tỷ lệ 2 luống cà chua với 4 luống bắp cải thì ở lứa sâu 1 có sự sai
khác giữa trồng xen và trồng thuần. Nhưng ở đỉnh cao sâu rộ lứa 2 trên ruộng trồng
xen chỉ bằng 43,2% ruộng trồng thuần và tương ứng ở lứa 3 chỉ bằng 47% nghĩa
ỉ.3.3.2. Biện pháp sinh học
Trước hiện tượng sâu tơ kháng thuốc hóa học và hậu quả của chúng khi sử
dụng thuốc hóa học nên biện pháp sinh học ngày càng được chú ý. Nhiều tài liệu đã
thế hiện rõ 3 định hướng nghiên cứu phát triển biện pháp sinh học trong phòng trò
tổng hợp sâu hại rau họ hoa thập tự đó là:


Duy trì bảo vệ và tạo điều kiện để các thiên địch tự nhiên phát triển



và sâu khoang, từ đó có cơ sở dự báo sâu non phát sinh gây hại thông qua theo dõi
số lượng cá thể trưởng thành vào bẫy để chủ động tổ chức phòng trừ đạt hiệu quả
cao. ỉ.3.3.3. Biện pháp hóa học
Theo Phạm Văn Lầm (1994) [16] thuốc hóa học bảo vệ thực vật là biện pháp
không thể thiếu trong thâm canh cây trồng.
Việc sử dụng thuốc hóa học để trừ sâu hại rau họ hoa thập tự ở Việt Nam đã
được chú ý từ những năm 60, đã tiến hành khảo nghiệm hiệu lực trừ sâu tơ của các
loại thuốc nhóm Clo hữu cơ.
Theo Nguyễn Duy Trang (1996), nguyên nhân của các hiện tượng này là do trình
độ hiểu biết về dịch hại và kĩ thuật sử dụng thuốc của người dân còn quá thấp nên
họ thường phun rất tùy tiện, phun định kì, phun theo tập quán. Ngoài ra 100% số hộ
nông dân vùng trồng rau thường hỗn hợp các loại thuốc trừ sâu trong quá trình sử
dụng theo nhận định của nông dân, việc pha trộn thuốc là biện pháp nâng cao hiệu
lực của thuốc, mở rộng phố tác động, giảm giá thành. Do hỗn họp theo cảm tính liều

1
6


lượng thường áng chừng nên lượng thuốc thực tế cao hơn 2-3 lần so với khuyến
cáo. Từ các kết quả nghiên cứu về thuốc hóa học trừ sâu hại rau họ hoa thập tự
Nguyễn Quý Hùng, Lê Trường và ctv đã chỉ rõ 2 nguyên tắc sử dụng thuốc hóa học:
Lựa chọn một bộ thuốc thích hợp, có tính chọn lọc để sử dụng luân phiên với
nhau và xen kẽ với chế phấm sinh học Bt và chế phẩm thảo mộc.
Ấn định một phương pháo dùng thuốc họp lí, chỉ dùng thuốc
khi các biện pháp khác không còn hiệu quả khống chế sâu ở
dưới mức an toàn và phải phun thuốc đều trên cây khi sâu ở
tuổi 1 và tuổi 2.
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM,
THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG

Đối tượng nghiên cứu
Các loài sâu hại rau họ hoa thập tự chú trọng vào: sâu tơ (Pỉutella xylostella

L.), sâu khoang (Spodoptera lỉtura F.), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.), sâu
xám (Agrotỉs segetum Schifferuler), sâu đo xanh (Chrysodeỉxỉs eỉosoma
Doubleday), sâu đục nõn cải (Helỉula undalis Fabricaus). Đặc biệt là đi sâu nghiên
cứu về sâu khoang (Spodoptera lỉtura Farb.).
2.2.2.

Vật liệu nghiên cứu

-

Cây trồng: 1 số loại rau thuộc họ hoa thập tự

-

Dụng cụ bắt sâu bọ: Vợt, khung, hộp đựng mẫu, túi nilon.

1
7


-

Dụng cụ nuôi sinh học: Hộp nuôi sâu, lồng lưới nuôi sâu, đĩa petri, chậu trồng cây,
giấy thấm, bút dạ.
-

Dụng cụ thí nghiệm: Ống đông, bình phun thuốc.

hoa thập tự vụ Đông Xuân 2014 tại Xuân Hòa-PhúcYên-Vĩnh
Phúc.
a) Điều tra thu thập sâu hại
Điều tra định kì 1 ngày/tuần, mỗi đợt điều tra từ 25-30m 2 trên các vùng trồng
rau ở khu vực Xuân Hòa-Phúc Yên-Vĩnh Phúc từ khi gieo trồng cho đến khi thu
hoạch.
Ket hợp với điều tra tự do, càng nhiều điểm càng tốt, điều tra bổ sung tại một
số ruộng rau họ hoa thập tự lân cận. Khi xác định điểm điều tra, quan sát tổng thế
trên ruộng rau phát hiện sâu hại, tiến hành điều tra thu thập các mẫu vật có liên quan
đến triệu tráng gây hại ở tất cả các bộ phận của cây.
Lấy mẫu cho vào một lọ nhỏ đựng cồn công nghiệp, ghi rõ thông tin về địa
điểm, thời gian lấy mẫu, giai đoạn phát triển của cây, thời tiết, đem về phòng để
theo dõi và phân loại.

1
8


Tại mỗi điếm điều tra, tiến hành điều tra sơ bộ để xá định và chọn lựa các điểm
điều tra có tính chất đại diện cho vúng nghiên cứu. chọn các điểm ngẫu nhiên tại các
khu vực điều tra. Thu thập sâu hại, côn trùng bắt mồi trên lá, thân cây rau, ở dưới
đất và ở khu vực xung quanh theo các phương pháp thu mẫu thông thường bao gồm:
thu mẫu bằng tay để thu bắt toàn bộ các loài côn trùng hại, sâu hại xuất hiện trên
ruộng rau điều tra ở các điểm đã lựa chọn. Song song với phương pháp kể trên, sử
dụng bẫy hố để thu bắt một loài côn trùng bắt mồi sống dưới đất. Bầy hố là các lọ
nhựa có đường kính 12cm, cao 15 cm chôn xuống đất với số lượng 5 bẫy/ruộng, bẫy
được chôn rải đều trên ruộng, miệng lọ nhựa thấp hơn mặt ruộng 1 cm, trên phủ lá
rau cải bắp để thu hút chúng vào ẩn nấp và rơi xuỗng bẫy. Tiến hành thu mẫu sau
khi đặt bẫy 2 ngày. Bắt mẫu trực tiếp bằng tay.
Ghi chép số liệu vào sổ điều tra để xử lý về các loài sâu hại, côn trùng bắt mồi,

* Phương pháp nghiên cứu sinh học
Nuôi sâu khoang trong hộp nuôi nhỏ theo phương pháp cá thể. Tiến hành thu
thập sâu tuổi lớn (tuổi 4, tuôi 5). Khi trưởng thành, tiến hành ghép đôi trong lồng
lưới đã chuẩn bị sẵn chậu cải với thức ăn là mật ong nguyên chất. Khi trưởng thành
cái đẻ trứng sau 6 tiếng thì chuyển trưởng thành sang lồng khác để tiến hành thu
trứng nuôi cá thế.
Chuẩn bị đĩa petri để chuyển trứng vào như sau: lót một lóp giấy thấm nước
không màu, không mùi, đặt chiếc lá cải ngọt sạch lên bề mặt giấy và dùng bút lông
chuyển nhẹ nhàng từng quả trứng vào đĩa petri đã được đánh số.
Theo dõi và ghi chép số liệu 2 lần/ngày ( vào 6 sáng và 6 chiều tối cùng ngày)
từ khi trứng nở đến khi trưởng thành vũ hóa và đẻ quả trứng đầu tiên đế xác định
đặc điểm hình thái, vòng đời và đặc điểm sinh thái học của loài sâu khoang
(Spodoptera ỉitura). Hằng ngày thay lá cải mới và xịt nước ấm vào giấy thấm để giữ
nguồn thức ăn luôn tươi và mới, khi tiến hành làm vệ sinh hộp nuôi chú ý không gây
ảnh hưởng đến sâu non.
Quan sát khi sâu non tuổi 6 ngừng ăn và chuyển động chậm chạp, lúc này tiến
hành chuyển sâu non tuổi 6 vào hộp nuôi sâu kích thước 15

X

20cm đã chuẩn bị sẵn

một lớp đất tơi xốp và được đánh dấu cùng số thứ tự với đĩa petri nuôi cá thể để sâu
tiến hành hóa nhộng.
Khi trưởng thành vũ hóa, tiến hành phân biệt đực cái dựa vào kích thước, đặc
điếm hình thái để ghép đôi. Chuyển hộp của trưởng thành đực, trưởng thành cái vào
trong lồng lưới đã chuẩn bị sẵn chậu cải ngọt với thức ăn là mật ong nguyên chất.
Mở nắp hộp để trưởng thành tự bay ra, tránh làm xây xước đến trưởng thành ảnh
hưởng đến thí nghiệm.


Mật độ sâu (con/m ) =
—:-------------------:—
Tông diện tích điêu
Số lần bắt gặp đối tượng
Mửc độ phô biên
Tân suât xuat hiện
>

Ký hiệu
Mức thang
quy định

A

A

A

1 • /V

0-5%

+

It phô biên

>5-20%

++



Kích thước trung bình của cơ thể:

i=I

---------- Y

X=N

X : giá trị kích thước trung bình của cơ thể.
Xji giá trị kích thước của cá thể
thứ i N : tổng số cá thể thoi dõi
N

±x,-n>

_;=]____
N

- Thời gian phát dục của một cá thể :

X=N

Trong đó: X : thời gian phát dục trung
bình Xj: thời gian phát dục ở
ngày thứ i nj : số cá thể phát
dục ở ngày thứ i
* Độ lệch chuẩn:
Trong đó:



*1







o

Trong các loài sâu hại đã phát hiện được ở các địa điểm điều tra, chúng tôi thấy
thành phần sâu hại trên đồng ruộng với mức độ rất phổ biến và tỷ lệ các nhóm loài
có trong các bộ, họ. Ket quả điều tra ngoài đổng ruộng tại địa điểm nghiên cứu.
Danh sách thành phần loài và mức độ phổ biến ghi nhận được thể hiện ở bảng 1.
Bảng ỉ: Thành phần côn trùng hại trên rau Họ hoa thập tự tại địa điếm
nghiên cứu
STT
Tên Việt Nam

Tên Khoa Học

I. Bộ cánh vảy

Mức độ phô biên

Lepidoptera

l.Họ ngài đen



-

3.Họ Ngài đêm

Noctuidae

5.

Sâu xám

Amsacta lactỉnea

Agrotis ypsilon

+

-

++

(Rotte.1777)
6.

Sâu đo xanh

Plusia eriosoma

++



Pieridase

Sâu xanh bướm trăng

Pỉerỉs rapae (Sparrman,

++

-

+++

1758)
11.

Bướm cải trăng nhiêu

Pỉerỉs canidia (Sparrman,

đốm
5.Họ ăn lá

1768)
Pyralidae

12.

Sâu ăn lá



++

1787)
16.

17.

18.

Châu châu nâu cánh ngắn

Trỉlophỉdỉa annulata

2.Ho Dê mèn

(Thunbr., 1815)
Gryllidae

Dê mèn lớn

Brachitrupes portentosus

3.Ho Dê dũi

(Licht, 1796)
Gryllidae

Dê dũi



Aphididae
Myzus persicae (Sulz, 1776)

Brevicoryne brassicae

22.

Bọ xít xanh

Bemisia tabaci (Gennadius,

Bọ xít gai

Pentatomidae
Nezava viridula (Linnaeus,

Bọ nhảy sọc cong

++

1758)
Coridae
Cletus punctiger (Dallas,

+

1852)
Coleoptera


Phyllostreta rectilineata

+++

(Chen, 1939)
26.

Bọ bâu vàng

VI. Bo hai cänh

27.

Aulacophora femoralis

++

(Mootschulsky, 1857)
Diptera

l.Ho Ruôi đuc lá

Agromyzidae

Ruôi đục lá

Liriomyza sativae
(Blan., 1938)

2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status