tiểu thuyết phố của chu lai từ góc nhìn thể loại - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN


NGUYỄN THÚY TÀI
MSSV: 6116149

TIỂU THUYẾT PHỐ CỦA CHU LAI
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI

Luận văn tốt nghiệp
Ngành Ngữ văn

Cán bộ hướng dẫn: Ths. BÙI THANH THẢO

Cần Thơ, năm 2014


ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Mục đích – yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT
1.1 Vài nét về thể loại tiểu thuyết

3.5 Bản chất tổng hợp của tiểu thuyết Phố

PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong loại hình văn xuôi nghệ thuật, tiểu thuyết là một thể loại chiếm vị trí
quan trọng. Với dung lượng lớn và những đặc trưng về thể loại, tiểu thuyết đã khẳng
định vị trí ưu việt của mình không chỉ ở việc tái hiện lại thời kì chiến đấu máu lửa của
dân tộc mà còn phản ánh được cuộc sống thường nhật thời hậu chiến. Từ chất liệu về
những vấn đề bức bối của xã hội trong cuộc sống đời thường, thể loại tiểu thuyết đã và
đang không ngừng tiến đến những thành tựu vẻ vang mà trước đó, các nhà văn chưa
thật sự quan tâm và đạt được trong những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa. Vì
thế, nghiên cứu, tìm hiểu về tiểu thuyết đặc biệt là tiểu thuyết hiện đại thời kì đổi mới
là việc làm quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc.
Tiểu thuyết thời kì đổi mới không ngừng vận động và biến đổi. Phương diện nội
dung tiểu thuyết thời kì này chủ yếu hướng vào phản ánh đời sống con người cá nhân
trước nhịp sống bề bộn sau chiến tranh. Vì thế, tiểu thuyết thời kì đổi mới đã có bước
chuyển mình sâu sắc từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư. Có thể thấy,
việc tìm hiểu tiểu thuyết thì có rất nhiều cách và việc tìm hiểu tiểu thuyết dựa trên cơ
sở thể loại cũng là việc làm có ý nghĩa hiện nay. Hơn nữa, nghiên cứu tiểu thuyết từ
góc độ thể loại sẽ mở ra một cái nhìn mới lạ hơn về tiểu thuyết. Dựa vào nền tảng lý
luận văn học, nghiên cứu đặc trưng của thể loại tiểu thuyết sẽ góp phần đánh giá
những thành công về mặt nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết, bên cạnh đó thấy
được những ưu thế của thể loại tiểu thuyết khi sáng tác một tác phẩm.
Trong dòng chảy chung của tiểu thuyết Việt Nam những năm đổi mới, tiểu
thuyết của Chu Lai phần nào đã mang lại sức hấp dẫn từ trang viết của một đời đam

tranh – người lính trong chiến đấu hay ở thời hậu chiến và nét riêng của nhà văn khi đi
sâu vào phản ánh đề tài này. Sau đây chúng tôi xin đưa ra một số nhận định về tiểu
thuyết của Chu Lai nói chung và ý kiến về tác phẩm Phố nói riêng để có thể minh
chứng cho luận điểm vừa nêu. Chúng tôi tạm chia các nhận định, các ý kiến thành hai
mảng cụ thể như sau:
Mảng thứ nhất gồm ý kiến của các nhà nghiên cứu trên báo chí về tác giả Chu
Lai, hay những cuộc trả lời phỏng vấn cũng như những cuộc trò chuyện của chính nhà
văn với độc giả:
Chu Lai là nhà văn thủy chung với đề tài chiến tranh và người lính. Trên Tạp
chí Văn nghệ Quân đội, tháng 2/1993 Bùi Việt Thắng trong bài viết Một đề tài không
cạn kiệt cho rằng: “Tiểu thuyết Chu Lai giới thiệu nhiều vấn đề đáng quan tâm trên đề
tài chiến tranh với ý nghĩa như một đề tài lịch sử” [15; tr.104], “Chu Lai làm người
đọc bất ngờ vì những khám phá nghệ thuật của mình: nhân vật trong tác phẩm Chu


Lai thường tự soi tỏ mình, khám phá mình, khám phá một bản ngã hay là một con
người trong con người” [15; tr.104]. Trong bài viết trên, Bùi Việt Thắng đã chỉ rõ
được đề tài chủ đạo trong tiểu thuyết của Chu Lai, đặc biệt, ông đã khẳng định được
thành công của ngòi bút Chu Lai khi vận dụng, thể hiện “yếu tố đời tư” một trong
những đặc trưng thể loại tiểu thuyết vào trong sáng tác. Trong bài viết Người chiến sĩ
viết văn hôm nay – đội ngũ kế tục những nhà văn chiến sĩ, Trần Quốc Huấn đi vào
khẳng định phẩm chất người lính: “Trong truyện Chu Lai, vốn tri thức văn hóa, trí tuệ
sáng suốt của người lính trẻ đã thấm nhuyễn một cách tự do vào từng chi tiết nhỏ của
truyện, trong từng phán đoán nhạy bén, quả quyết, để dẫn đến chiến thắng cuối cùng ở
nhân vật” [11; tr.117]. Viết về Người lính sau hòa bình trong tiểu thuyết chiến tranh
thời kì đổi mới, Nguyễn Hương Giang nhận xét: “sự thật về chiến tranh hôm nay được
nhìn lại là một sự thật đã trải qua những năm tháng day dứt trăn trở trong tâm hồn
nhà văn Chu Lai, hơn thế, nó thật sự là những nếm trải của người “chịu trận” “người
trong cuộc”. [3]. Lý Hoài Thu cũng khẳng định: “Dù trực tiếp viết về dĩ vãng mịt mù
bom đạn hay chuyển dịch sang tiếp cận những “kênh” thông tin xô bồ của thời hiện

chiêm nghiệm ...” [16;tr.64 - 65]. Trên cơ bản, qua bài viết, Bùi Việt Thắng đã khẳng
định được những đóng góp của Chu Lai vào thể loại tiểu thuyết cũng như sự vận dụng
những đặc trưng thể loại vào hành trình tạo tác tác phẩm. Thế nhưng, những vấn đề mà
ông đưa ra thì mang tính sơ nét và điển hình.
Trong những công trình khác các nhà nghiên cứu cũng đã bàn luận về các tác
phẩm của Chu Lai với các bài viết: Tiểu thuyết Việt Nam năm 2005 – Những tín hiệu
tốt lành của Nguyễn Hòa, Tiểu thuyết Việt Nam trong những năm đầu thời kì đổi mới
của Phan Cự Đệ… Đánh giá về Chu Lai và tiểu thuyết của ông, các ý kiến, nhận định
đều đã khẳng định được khả năng đào sâu hiện thực và con người trong tác phẩm của
Chu Lai, vấn đề đổi mới nghệ thuật của tiểu thuyết, đánh giá được thành tựu ở đề tài
số phận người lính thời hậu chiến. Tuy nhiên chưa có ý kiến, nhận định nào thật khái
quát nhìn từ đặc trưng thể loại tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai.
Thủy chung với đề tài chiến tranh, chính nhà văn cũng tâm sự: “…dù có ngả
sang bất cứ một hướng đề tài nào nhưng rồi cuối cùng cũng vẫn quay về đề tài người
lính và chiến tranh cách mạng như là một đề tài quen thuộc, gần gũi nhất mà người ta
chỉ có thể viết tâm huyết được những gì người ta sờ thấy…” [24]. Có thể thấy, những
năm tháng chiến tranh đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn.
Không những vậy, chất liệu từ hiện thực cuộc sống sau chiến đấu cũng được khai thác
sâu trong từng tác phẩm, như có ý kiến đã nhận xét: “Hiện thực trong những tác phẩm
của ông được đẩy đến tận cùng của sự trần trụi và tàn khốc, bên cạnh những trang
viết về những mối tình người lính lãng mạn như những bài thơ… Song Chu Lai cũng


gặt hái được những thành công nhất định khi thể hiện cái nhìn sắc sảo của mình về đề
tài kinh tế thị trường.” [21].
Trong một bài phỏng vấn bàn về hình tượng người lính giữa thời chiến và thời
bình, Chu Lai nhận xét: “Người lính đại diện cho phẩm cách dân tộc, mà người lính
không chỉ bộc lộ phẩm cách trong chiến tranh. Gần đây, trong cơ chế thị trường người
lính cũng đóng góp lớn về ý chí và nghị lực làm kinh tế(…). Họ vừa biết đánh giặc,
vừa biết làm kinh tế. Và đánh giặc quen rồi, khi làm kinh tế họ phải chuyển đổi toàn

gần gũi hơn và thật hơn.
Mảng thứ hai là những ý kiến về tiểu thuyết Phố:
Trong bài viết Chu Lai: “Phố”, sự vặn mình thay đổi của khu phố lính được
chú ý. Với giọng kể “đều đều nghiêm túc như một thước phim chính luận quay chầm
chậm, góc quay lia hết các ngả, các ngóc ngách của các gia đình” [28], Phố hiện lên
“không phô trương, màu mè, không bi tráng, lãng mạn, không thô tục (…), là nơi tập
hợp những ngôi nhà binh, những giao tranh của giá trị cũ – cái truyền thống và các
giá trị mới trong thời buổi đất nước mới mở cửa chuyển mình từ cơ chế bao cấp sang
cơ chế thị trường. Cái chất tình người lính với nhau cũng như nhịp đập nhanh gấp,
trầm lắng của mọi người trong khu phố. Các xung đột luôn được đẩy nhanh, mừng
vui, bi kịch… chuyện của nhân vật chính, phụ. Tất cả các chi tiết đan xen với nhau tạo
nên “Phố” hay một bức tranh chung của toàn xã hội.” [28]. Phố không chỉ thể hiện sự
thay đổi của phố nhà binh mà đó còn là nghĩa tình người lính. Và đâu đó còn nổi bật
lên là bi kịch của một thế hệ đi qua chiến tranh. Tất cả đã toát lên được tính chân thực
hiện thực cuộc sống cũng như những trăn trở của nhà văn về những vấn đề nóng bỏng
của xã hội.
Với bài Người lính sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới,
Nguyễn Hương Giang chỉ ra rằng: “Phố của Chu Lai là một cuốn tiểu thuyết trong
tiểu thuyết: Một cuốn về gia đình Thảo – Nam với sự phá vỡ và làm tan nát những giá
trị truyền thống, một cuốn khác về cuộc đời Lãm, một người lính từ hai bàn tay trắng
đi lên, bảo vệ và tha thiết gìn giữ những giá trị ấy. Cái chết thương tâm của Thảo,
Lãm ở cuối tác phẩm đẩy suy nghĩ của người đọc về hai hướng khác nhau nhưng đều
thấm một nỗi buồn cao cả” [3;tr.110]. Qua bài viết, Nguyễn Hương Giang cũng chỉ
dừng lại nhận định ở phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết Phố. Nhìn chung chưa
có sự khái quát cho tất cả các phương diện, những vấn đề nhà nghiên cứu nêu ra vẫn
còn mang tính chất chung chung và sơ nét chưa nổi bật lên những vấn đề về thể loại.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu cũng như các bài báo, cuộc phỏng vấn
đều đi đến khẳng định sự son sắt, thủy chung của nhà văn với mảng đề tài chiến tranh,
đặc biệt là hình tượng người lính trong và sau chiến tranh, song, vẫn chưa có một nhận


phương pháp loại hình để tìm ra những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết biểu hiện
trong tác phẩm Phố.
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để
phân tích đặc trưng của thể loại tiểu thuyết biểu hiện trong tác phẩm Phố. Từ đó có thể
nhận định được những ảnh hưởng cùng với sự đóng góp của thể loại tiểu thuyết trong
quá trình sáng tác. Sau khi phân tích đặc trưng của thể loại tiểu thuyết cũng như tìm


hiểu những vấn đề của xã hội, hoàn cảnh xã hội có ảnh hưởng đến tác phẩm Phố,
chúng tôi dùng phương pháp tổng hợp để trình bày khái quát về nội dung đã nghiên
cứu.
Phương pháp xã hội: Sử dụng phương pháp xã hội sẽ giúp cho việc lí giải cơ sở
thực tiễn và hiện thực mà nhà văn đã phản ánh qua ngôn từ nghệ thuật. Hoàn cảnh lịch
sử trong tác phẩm Phố chính là hoàn cảnh đất nước trong giai đoạn đầu đổi mới, thời
kì hậu chiến. Vấn đề này có ảnh hưởng ít nhiều đến thể loại và sáng tác của nhà văn.
Chúng tôi tìm hiểu những đặc trưng của tiểu thuyết có trong tác phẩm Phố và xem xét
những tác động của hoàn cảnh xã hội đối với văn học để có cái nhìn toàn diện.
Ngoài ra khi nghiên cứu vấn đề này chúng tôi còn sử dụng thao tác chứng minh,
giải thích… nhằm mục đích sáng tỏ vấn đề rõ ràng, thuyết phục.


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT
1.1 Vài nét về thể loại tiểu thuyết
1.1.1 Khái niệm và sự hình thành thể loại tiểu thuyết
Tiểu thuyết là một hình thức tự sự cỡ lớn, tiểu thuyết có những khả năng riêng
trong việc tái hiện với một qui mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó
chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con người, của lịch
sử đạo đức, của phong tục… Nghĩa là tiểu thuyết có năng lực phản ánh hiện thực một
cách bao quát và sinh động theo hướng tiếp cận trên cả bề rộng lẫn chiều sâu của

Theo Trần Đình Sử “Có người nói tiểu thuyết là công trình của Châu Âu”
[14;tr.292], song có lẽ không hẳn như vậy. Tiểu thuyết phương Đông cũng xuất hiện
sớm ở Trung Quốc. Tên gọi “tiểu thuyết” xuất hiện trong thư tịch Trung Quốc từ rất
sớm. Tuy tiểu thuyết xuất hiện sớm nhưng mãi đến thời Đường, tiểu thuyết mới bắt
đầu chú ý đến đời sống riêng tư của cá nhân thông qua loại tiểu thuyết truyền kì. Thời
Tống, tiểu thuyết có sự phát triển hơn với tiểu thuyết thoại bản. Đến thời Thanh (thế
kỷ XIV – XIX), sự ra đời của tiểu thuyết chương hồi đã góp phần vào sự phát triển
đỉnh cao của văn học Trung Quốc. Những tiểu thuyết nổi tiếng như Tam quốc diễn
nghĩa của La Quán Trung, Thủy Hử của Thi Nại Am, Tây du ký - Ngô Thừa Ân, Hồng
lâu mộng – Tào Tuyết Cần… là sự kết tinh của văn xuôi Trung Quốc từ chất liệu yếu
tố lịch sử đến vấn đề thế sự, đời tư con người. Và khái niệm tiểu thuyết hiện đại phải
đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX mới có ở Trung Quốc, gọi là tiểu thuyết trường
thiên, tiểu thuyết trung thiên, tiểu thuyết đoản thiên.
Ở Việt Nam, tuy tiểu thuyết xuất hiện có phần muộn hơn nhưng mầm mống sơ
khai tiểu thuyết đã có từ thế kỷ XIV – XVI trong các sáng tác cổ xa xưa Việt Điện u
linh, Lĩnh Nam chích quái… Thế kỷ XIX xuất hiện tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê
nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, tiểu thuyết đánh dấu được sự phát triển của văn
xuôi thời phong kiến tuy chưa khai thác sâu vào đời sống cũng như số phận con người.
Đến đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ ra đời thì mới có sự đầy đủ về ý
nghĩa của thể loại tiểu thuyết. Từ đó tiểu thuyết Việt Nam đã bước vào thời kỳ phát
triển và ngày càng khẳng định vị thế của thể loại này cho nền văn học nước nhà.

1.1.2 Đặc điểm tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại văn học có dung lượng lớn vì vậy nó có khả năng bao
quát bức tranh cuộc sống một cách chân thực và sinh động nhất theo cả chiều rộng của
không gian và chiều dài của thời gian. Tiểu thuyết tái hiện lại cuộc đời với tất cả sự bề
bộn vốn có. Đây là ưu điểm của tiểu thuyết trong việc phản ánh tối đa hiện thực, giúp
người đọc hình dung được toàn diện bối cảnh, cốt truyện, nội dung tác phẩm. Bên cạnh
đó, tiểu thuyết còn chứa đựng những vấn đề triết lý, đạo đức, nhân sinh quan con


hình văn học đều mang một màu sắc thẩm mỹ đặc trưng nhưng với tiểu thuyết thì
không có quá trình chọn lựa màu sắc thẩm mỹ. Đó là vì tiểu thuyết luôn tiếp nhận và
hướng đến phản ánh hiện thực. Điểm này liên quan đến chất văn xuôi của tiểu thuyết.


Tóm lại chất văn xuôi đã mở ra một vùng tiếp xúc tối đa với thời hiện tại đang sinh
thành làm cho tiểu thuyết không bị giới hạn nào trong nội dung phản ánh và chất văn
xuôi có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo sự đa dạng các màu sắc thẩm mỹ cho tiểu
thuyết.
Bên cạnh đó, tiểu thuyết còn chứa nhiều yếu tố nằm ngoài cốt truyện hay còn
gọi là yếu tố thừa. Tiểu thuyết có dung lượng lớn nên bên cạnh cốt truyện chính thì
tiểu thuyết còn chứa đựng bao nhiêu cái “thừa”. Đó là cái chính yếu thể hiện những
suy nghĩ triết lý về cuộc sống của nhân vật, về đời người, giải thích cặn kẽ về các
chuyển biến trong dòng tâm tư tình cảm con người hoặc giới thiệu chi tiết về quan hệ
giữa người với người, về lai lịch của sự vật, không gian, thời gian trong tác phẩm…
Những điều đó tạo được một chỉnh thể nghệ thuật vượt hơn sự đầy đủ cho tiểu thuyết,
nên mạch truyện của tiểu thuyết không lệ thuộc vào cốt truyện. Sống mòn của Nam
Cao đã thể hiện suy nghĩ của Thứ về mọi vấn đề như: về nghề, về đồng nghiệp, về ước
mơ, về cái đói, về thói thành kiến nghi kị, về bản thân, về tính yếu đuối của con
người…, những tình tiết về San, về Mô, về đôi vợ chồng nhà lá, về bữa ăn… đều
không thiết thực cho một cốt truyện nào nhưng nó phơi bày ra toàn bộ xã hội cuộc
sống. Chính những yếu tố thừa đó tạo nên sự linh hoạt trong giọng điệu tiểu thuyết,
đồng thời những phần thừa được xen lẫn vào tác phẩm sẽ thể hiện rõ hơn tư tưởng tác
phẩm, suy nghĩ của nhà văn và làm đậm chất tiểu thuyết hơn cho tác phẩm thuộc thể
loại này, cho nên gọi là thừa nhưng lại không thể thiếu trong tác phẩm.
Và nhân vật trong tiểu thuyết là con người nếm trải tư duy. Nhân vật không
phải có nhiều đau khổ là nếm trải mà đó là kiểu nhân vật được đặt vào những thử
thách và thông qua biến cố để có sự trưởng thành về tư duy, nhận thức, tâm lý hoặc
hành động… Họ phải chịu đựng những sóng gió, trải qua những thăng trầm mới có
phát triển hay nói cách khác cuộc đời sẽ dạy nhân vật trong tiểu thuyết trưởng thành.

đặc biệt là tiểu thuyết có yếu tố lịch sử dân tộc, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh thì
chất ký đậm đặc. Không chỉ vậy, trong tiểu thuyết còn xuất hiện những nhân vật có
tâm tư tình cảm mang sự rung động tinh tế của thơ ca và chính lúc ấy nhân vật tiểu
thuyết sẽ trở thành nhân vật trữ tình giàu cảm xúc. Trong những lúc tiểu thuyết đi đến
cao trào của mâu thuẫn, xung đột thì đó chính là hình thái của kịch. Bên cạnh đó, tiểu
thuyết còn có khả năng tổng hợp thủ pháp của các loại hình nghệ thuật ngoài văn học
hay gọi là loại hình phi văn học: âm nhạc, hội họa, điêu khắc… Những hiện tượng
tổng hợp đó làm cho bản thân tiểu thuyết cũng đang vận động, không đứng yên. Đồng
thời những bức tranh thiên nhiên được phác họa với những gam màu sống động,
những tiếng ngân nga xúc cảm, những âm thanh cuộc sống tất cả là kết quả của khả
năng tổng hợp trong tiểu thuyết.


Với những đặc trưng của thể loại, có thể nhận định: “tiểu thuyết là thể loại tự
sự dân chủ, năng động, giàu khả năng phản ánh đời sống nhiều mặt bất nhất trong các
thể loại văn học” [14;tr.307].

1.2 Vài nét về tác giả Chu Lai
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương
Chu Lai tên thật là Chu Văn Lai, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1946 tại xã Hưng
Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, tuy nhiên, gia đình ông chuyển lên Hà Nội sống
từ lâu. Từ đó, nhà văn không chỉ được sở hữu cái dịu mát, thanh bình và ngọt ngào của
đồng quê Hưng Yên mà còn lẫn cốt cách thanh lịch của con người ở vùng đất Hà
Thành. Bên cạnh đó, ông là con trai của nhà viết kịch Học Phi, vì thế chất nghệ sĩ và
tâm hồn văn chương của nhà văn đã được nuôi dưỡng từ bé.
Chu Lai nhập ngũ khi ông kết thúc năm đầu tiên tại Đại học Quân y. Trong thời
gian đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Chu Lai xin nhập ngũ và được
công tác trong Đoàn Kịch nói Tổng cục Chính trị. Tuy nhiên, nhà văn vẫn chưa thỏa
nguyện với vai trò người diễn viên mặc áo lính nên ông xin cầm súng trực tiếp chiến
đấu, và trở thành chiến sĩ đặc công hoạt động trong vùng ven Sài Gòn. Sau 1975, ông

Bãi bờ hoang lạnh (1990)



Khúc tráng ca về biển (1991)




Ăn mày dĩ vãng (1992)



Phố (1992)



Gió xanh (1988)



Ba lần và một lần (1999)



Cuộc đời dài lắm (2001)



Khúc bi tráng cuối cùng (2004)




Vùng đất xa xăm (1981)



Út Teng (1983)



Truyện ngắn Chu Lai, Vũ Thị Hồng (1986)



Phố nhà binh (1992)



Truyện ngắn Chu Lai (2005)

Từ những cống hiến trên bước đường nghệ thuật, nhà văn đã đạt được nhiều
giải thưởng trên văn đàn văn học nước nhà như: Giải thưởng Hội đồng Văn học chiến
tranh Cách mạng và Lực lượng vũ trang (Hội Nhà văn Việt Nam) với tiểu thuyết Ăn
mày dĩ vãng năm 1993, giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng năm 1994, giải thưởng
tiểu thuyết Nhà xuất bản Hà Nội với tiểu thuyết Phố năm 1993, giải thưởng Nhà nước
về Văn học nghệ thuật năm 2007.

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật và nguồn cảm hứng chính
Với Chu Lai, văn chương là duyên nợ, là cuộc sống, là tình yêu. Tác phẩm là sự

người, nhà văn đi sâu vào số phận cá nhân, len vào ngõ ngách sâu kín của tâm hồn để
bước lên những tầng bật tâm lí, tiềm thức… [22]. Qua đó, nhân vật được trải lên trên
trang văn với những đau đớn bi kịch với những khát khao bản năng dồn nén. Hơn nữa,
Chu Lai đã đi sâu vào những cá nhân riêng lẻ, đời sống, số phận riêng và thế giới riêng
đầy bí ẩn. Với quan niệm mới mẻ về con người, Chu Lai xây dựng nên thế giới nhân


vật trong tiểu thuyết là những con người có tính cách riêng biệt. Nhà văn đặt nhân vật
trong nhiều mối quan hệ để nhân vật bộc lộ tận cùng bản chất rất “người” của mình.
Nhiều năm trải qua chiến tranh, Chu Lai viết về nó như là nợ, là nghiệp, là ân
tình. Trả lời phỏng vấn nhà văn tâm sự “không phải tôi tới với văn học mà sự cam go
và nỗi cô đơn của cuộc chiến đã đem văn học đến với tôi” [26]. Hay có lần nhà văn
bộc bạch: “Còn sống, còn viết chiến tranh để đền đáp ân tình đồng đội..” [26]. Và từ
đó chiến tranh đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong ngòi bút của nhà văn. Cảm
hứng này in đậm trên từng trang viết dưới những chủ đề khác nhau. Đó là viết về
người lính cách mạng mang đậm chất sử thi Nắng đồng bằng, Gió không thổi từ biển,
Sông xa, Khúc bi tráng cuối cùng và Người im lặng... Bên cạnh cảm hứng chiến tranh
ở ngòi bút Chu Lai vẫn toát lên được cảm hứng từ những cuộc sống thường nhật thời
hậu chiến trong cuộc vật lộn mưu sinh. Cảm hứng này được xuất hiện trong các tác
phẩm như Phố, Hùng Karô, Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng Ba lần và một lần,
Cuộc đời dài lắm… Đó là số phận người lính thời hậu chiến mang bi kịch lạc thời, cô
đơn, phải đối diện với cơ chế thị trường. Vinh quang của ngày hôm qua còn đấy,
những người lính của ngày hôm nay nào là Nam, Thảo, Lãm, Sáu Nguyện, Hai
Hùng… bị vùi dập, thương tích bởi vòng xoay của đồng tiền, của trắng - đen, xấu - tốt.

1.3 Vài nét về tiểu thuyết Phố
Tiểu thuyết Phố của nhà văn Chu Lai viết về cuộc sống con người Hà Nội giai
đoạn đầu đổi mới. Đây là quyển tiểu thuyết được xem là đặc sắc nhất của Chu Lai viết
về cuộc sống của người lính, người bộ đội sau chiến tranh. Được sáng tác năm 1992
dựa trên truyện ngắn Phố nhà binh, lúc đầu Chu Lai đặt tên cho quyển tiểu thuyết là

phúc như cù lao bình yên của vợ chồng họ cứ ngỡ là mãi mãi nhưng không hẳn vậy.
Đời sống khó khăn, chật vật đã vây lấy ngôi nhà hạnh phúc bé nhỏ kia. Bởi lẽ, Nam
vốn chiến đấu dũng cảm ở chiến trường nhưng lại hiền lành, không biết tính toán và
thụ động trước nhịp sống sau chiến tranh. Cũng vì cuộc sống mưu sinh quá khó khăn
khiến Thảo phải quyết định sang Đức lao động kiếm tiền. Nam sống cảnh gà trống
nuôi con và chờ ngày vợ hết hạn lao động trở về.
Không chỉ riêng gia đình Nam, Phố còn xoay quanh cuộc sống của gia đình
Lãm. Lãm gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, sau khi giải ngũ anh bị bố anh - ông
Khang, vốn là một hiệu trưởng trường Đảng, đuổi khỏi nhà vì cưới một cô gái người
miền xuôi có nhiều điều tai tiếng. Hai vợ chồng anh phải sống tạm bợ ngay trên vỉa hè
của con phố Lý Nam Đế. Họ đã cho ra đời hai đứa con ngay chính trên con phố này.
Cuộc sống khó khăn nhưng Lãm đã vươn lên từ chính bàn tay của mình. Anh làm rất
nhiều công việc với hy vọng có thể có nhiều tiền để trang trải, để nuôi sống gia đình.
Lãm đã trải qua rất nhiều khó khăn và cuối cùng anh đã tạo dựng được cơ ngơi danh


tiếng. Về sau, ông Khang tuổi ngày càng cao cùng với tình thương con bất tận nên ông
tìm và mong Lãm quay trở về.
Trong thời gian vắng vợ, Nam vẫn giữ vẹn lòng son sắt thủy chung với Thảo.
Những lúc cô đơn, anh thường tâm sự cùng với Trọng Bình – đạo diễn phim, cựu
phóng viên quay phim chiến trường và là bạn thân của Nam. Bình luôn quan tâm đến
người khác và nói rất hay về triết lý cuộc sống nhưng lại có cuộc sống riêng không
hạnh phúc. Vợ Bình ly dị chỉ sau một thời gian ngắn chung sống với lý do anh chỉ làm
tình nhân chứ không thể trở thành người chồng. Từ đó, Bình sống một mình và luôn né
tránh tình cảm của Loan – em gái Thảo. Bình cũng là cha nuôi của bé Niên Thảo, rất
thương bé Niên Thảo, mỗi lần đến nhà thường hay có quà cho bé. Cũng nhờ vậy, mà
Niên Thảo đỡ nhớ mẹ hơn. Bé Niên Thảo thường qua nhà ngoại chơi, ở bên đó có dì
Loan cũng hết mực yêu thương. Khi chị của mình đi xa thì Loan cũng thường qua nhà
Nam, giúp anh đi chợ, nấu ăn. Loan là một cô gái có cá tính thẳng thắn, mạnh mẽ và
có những nhận xét tinh tế về những người xung quanh. Cũng có đôi lần, Loan suy nghĩ

TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
2.1 Bức tranh hiện thực rộng lớn và đa dạng trong tiểu thuyết Phố
2.1.1 Hiện thực về khu phố Lý Nam Đế thời kì mở cửa


Tiểu thuyết là một thể loại không hạn chế về dung lượng, nó có khả năng phản
ánh tối đa cuộc sống trên nhiều phương diện khác nhau đúng với bản chất và chiều sâu
hiện thực. Với Phố của Chu Lai, nhà văn đã tái hiện chân thật nhất cuộc sống của
những người lính hậu chiến tại khu phố Lý Nam Đế - Phố lính. Dù trong nền khung
cảnh ở một khu phố, nhưng đó chính là một xã hội thu nhỏ nổi bật lên toàn vẹn bức
tranh hiện thực cuộc sống thời hội nhập để góp phần cho sự phản ánh mọi bề bộn của
toàn xã hội.
Có thể nói, Phố là một bức tranh toàn cảnh về khu phố Lý Nam Đế, mà ở đấy
tập trung những cơ quan quan trọng và còn là khu tập thể bộ đội “Đây là khu phố bộ
đội, là tòa soạn báo, là toàn những cơ quan quan trọng cả… là cái phố có nhiều các
đồng chí sĩ quan cao cấp…” [8;tr.38]. Thoạt đầu, khu phố Lý Nam Đế hiện lên trong
bản phác thảo của đạo diễn Trọng Bình vốn dĩ là một nơi yên bình và trầm lắng “Có
một thời, không, mới cách đây vài ba năm chứ mấy, cảnh sắc nơi đây còn thâm trầm
ắng lặng lắm… hầu như tất cả các căn hộ cao thấp, to nhỏ, ngắn dài vẫn bảo nhau
khinh khỉnh xây lưng ra mặt đường, khiến cho dãy phố đã tăm tối lại càng hun hút nỗi
đe dọa…” [8;tr.9]. Thế nhưng, khi thời kì chuyển sang nền kinh tế thị trường được bắt
đầu manh nha thì đồng loạt khu phố ấy cũng bắt đầu chuyển mình như mọi khu phố
khác. Đó như là quy luật tất yếu phải thay đổi để kịp với nhịp náo nhiệt của thời đại
“sau vài đêm hối hả đục tường, trổ cửa, nới mái…phắp một cái, các căn hộ đã bắt đầu
rùng rùng chuyển động… bao mảnh tường rêu phong tựa hồ bị quên lãng… bỗng phát
khởi thành những khuôn sáng vuông tròn méo lệch…” [8;tr.9]. Nếu như trước đó, khu
phố Lý Nam Đế tỏ thái độ “khinh khỉnh” quay lưng trước sự biến thiên của vạn vật thì
giờ đây, nó cũng hòa vào nhịp huyên náo để đổi mới. Hiện thực về khung cảnh khu
phố đã được nhà văn thể hiện chân thật. Trước hết, sự thay đổi được bắt đầu ngay từ
tên gọi của khu phố “Hà Nội dạo này sinh ra lắm cái tên kép cho những con đường…

trường thời kì mở cửa tồn tại cả hai mặt tốt – xấu đan xen nhau, những mặt tích cực,
những tiêu cực, nghịch lí. Đồng thời, cơ chế kinh tế mới của nền kinh tế thị trường đã
tạo ra những cơ hội và thách thức cũng như những thuận lợi và khó khăn. Tất cả đã
được thể hiện qua sự thay đổi của phố nhà binh. Sự thay đổi đó có tác động sâu sắc
đến đời sống con người, mặc dù cũng có chiều hướng tích cực nhưng thực tế trong tác
phẩm lại thấy những mặt tiêu cực. Chu Lai đã nhìn thẳng vào hiện thực để mổ xẻ,
xoáy sâu, để bày tỏ và để phê phán. Từ những cảnh thay đổi của khu phố, những con
đường trải nhựa bằng phẳng không còn lầy lội, vùng trũng đến mùi vị no ấm lan tỏa
khắp phố đã được nhà văn thể hiện cụ thể và toàn diện. Chính thể loại tiểu thuyết đã
giúp Chu Lai tái hiện lại toàn diện hiện thực phố nhà binh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status