MỸ THUẬT VIỆT NAM THỜI KỲ DỰNG
NƯỚC
Giai đoạn Phụng Nguyên (Phú Thọ) cách ngày nay 4000 năm.
- Chưa tìm thấy những tác phẩm mỹ thuật
- Đã có nghệ thuật làm đồ đá
- Xuất hiện những đồ gốm có hoa văn trang trí tương đối đặc sắc làm cơ sở cho
nền văn hoá Đông Sơn sau này. Kỹ thuật làm gốm bằng bàn xoay. Hoa văn chữ S, đường
tròn đồng tâm.
- Đã có một số tượng gà, bò bằng đất nung xinh xắn.
Giai đoạn Đồng Đậu (Vĩnh Phú) từ 3070 đến nửa sau của thiên niên kỷ II TCN
- Có thêm nhiều đồ đồng thau
- Đồ đá có cải tạo về hình dáng, hình dáng của những hoa tai, vòng đeo tay… cân
đối hơn, hài hoà hơn.
- Đồ gốm có độ nung cao hơn, kích thước lớn hơn.
Giai đoạn Gò Mun (Phú Thọ, Hà Nội, Hà Tây) nửa đầu thiên niên kỷ I TCN.
- Đồ đồng nhiều hơn : rìu lưỡi xéo, lưỡi hái…
- Gốm được nung ở nhiệt độ cao hơn, nên chắc hơn
Hoa văn đơn giản hoá thành các hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật… và sẽ
ảnh hưởng đến các hoa văn của đồ đồng thời kỳ Đông Sơn.
Thời kỳ Đông Sơn (Thanh Hoá) 500 năm TCN đến thế kỷ I SCN. Giai đoạn phất triển
cực thịnh của nền văn hoá thời kỳ dựng nước. Đặc biệt là đồ đồng.
- Những di vật được phát hiện ở bờ sông Mã (Thanh hoá) và một số trống đồng
loại nhỏ có hoa văn trang trí giống như trống đồng lớn ở chùa Ngọc Lũ, Hà Nam.
- Những khám phá trong khảo cổ từ sau năm 1954 đã chứng minh cho sự phát triển
lôgíc của nền văn hoá Đông Sơn nói chung và trống đồng nói riêng.
- Thời kỳ này vai trò của đồ đá và đồ gốm đã không còn như xưa nữa. Vị trí quan
trọng nhất thuộc về đồ đồng.
- Giai đoạn đầu mang tính chất bản địa như : trống Ngọc Lũ, càng về sau càng xuất
Hoa văn vẫn phong phú nhưng :
+ Phong cách đã hoàn toàn cách điệu, biến hình bằng hoa văn cờ,
+ Trên mặt thường có hoa văn hình gấp khúc thành hình quả trám, hoạ tiết hình
nêm và 4 chú cóc.
Loại IV (D)
Thân chia làm 3 phần không rõ rệt, không cân đối giữa chân và thân
- Mặt chồm khỏi tang trống.
- Hoa văn truyền thống (trống làng Vạc, Na dương, Hà giang…)
* Nét độc đáo của trống đồng :
+ Mỹ thuật trang trí đồ hoạ, sử dụng đường nét
Do kỹ thuật đúc đồng đã đạt đến trình độ cao, tạo những nét nổi, chìm ở 4 phần
trống : mặt, tang, lưng và chân trống.
Trên mặt trống :
+ Hình mặt trời, người : múa đánh trống, gão gạo, thổi kèn
+ Cảnh các con vật như chim đang bay, chim đăng đứng, con hươu, con nai,
cầy, cáo…
+ Cảnh nhà sàn có mái cong : nhà cầu mùa… Trên tang trống.
Thường có hình người đang múa, hình con bò có u nổi cao.
Con người luôn chiếm vị trí trung tam của sự miêu tả thế giới khách quan và được
diễn tả ở thế động và hài hoà với mọi vật.
Tất cả các hoạt động được mô tả xung quanh mặt trời, kể cả ngôi nhà mái cong
giữa những hình chuyển động cũng bị cuốn hút, bố cục xoay tròn. Tất cả các hoạt động
được mô tả xung quanh như trời, kể cả ngôi nhà mái cong giữa những hình chuyển động
cũng bị cuốn hút vào bố cục xoay tròn.
+ Lối diễn tả hình độc đáo : Giống như trong nghệ thuật Ai Cập cổ đại : ngực thì
mô tả trực diện, chân và đầu – trắc diện. Chim bay : thân, cánh và đuôi thì như nhìn từ
trên xuống, đầu nhìn nghiêng.
+ Tính khái quát cao :
- Vành số 6 : là hình hươu và chim lạc xen kẽ nhau. Bằng những nét đơn giản
nhưng rất sống đôinh và rất thực.
- Vành số 4 : là vành hoa văn quan trọng nhất : mô tả lễ hội giống như lễ chiêu hồn
kéo dài 7 ngày, mà ngày nay ở một số bản Mường còn duy trì sinh hoạt này. Trên vành
hoa văn này mô tả cảnh nhà sàn có mái vòm 1 người đang đánh vào một vật giống như cái
chiêng đang xua đuổi một con chim bay ra, 2 người giã gạo bằng tay, nhà mái cong (như
ở Tây Nguyên).
NGHỆ THUẬT CHAMPA
Theo các thư tịch cổ Trung quốc. Một số bia tìm thấy ở Võ Cạnh, Nha Trang thì
nhà nước Champa được thành lập vào thế kỷ 2 SCN.
Dân tộc Champa cũng lật đổ Hán lập nên vương quốc Champa.
Thế kỷ thứ 13 hai dân tộc Việt, Champa cũng liên minh phá tan âm mưu của
Nguyên Mông mượn đất Champa để đánh Việt.
Thế kỷ 18 người Champa cùng người Việt đánh đuổi quân Thanh (Quang Trung,
Xiêm).
Ngày nay dân tộc Champa có khoảng 80.000 người sống tập trung ở Phan Rang,
Phan Thiết, An Giang. Ngoài ra còn có ở Đồng Nai, Tây Ninh, Tp. HCM.
Vẫn có những nét đặc trưng riêng trên 2 vùng cư trú chính :
+ Ở miền Trung thì nghề nông là chủ yếu,
+ Ở An giang thì nghề đánh các là chủ yếu.
Làm gốm truyền thống, dệt vải,
¾ dân số theo đạo Balamon, ¼ theo đạo Hồi.
1. Đặc điểm chung của nghệ thuật điêu khắc Champa.
Do nét đặc trưng của kiến trúc, dùng loại gách giống nhu đất sét, không cần các
loại chất kết dính đã tạo điều kiện cho nghệ thuật chạm khắc đạt những thành tựu đáng kể,
là những tác phẩm đầy sức sống.
tai to và tròn, một chiếc kiềng đơn dính tua, hoặc kéo để trơn, tóc búi 3 tầng hình chóp,
cánh tay, cổ chân đeo vòng.
“Siva múa” trang trí trên lá chắn ở Mỹ Sơn.
“Điệu múa vũ trụ” ở Bích La có 5 đôi tay biểu hiện cho 5 hoạt động của vũ trụ :
sáng tạo, bảo toàn, phá huỷ, hoá thân, giải thoát.
Đây là giai đoạn ra đời kiểu tháp Chàm khoẻ khoắn, đường bệ với những trụ ốp
cao đỡ lấy các vòm cửa hình quả bầu rậm rịt hoa lá với những gờ lược mạnh mẽ, táo bạo.
Thời kỳ của vương triều Parduragan.
Thánh thất Pônagar, Nha trang cũng được xây dựng trong thời kỳ này (cuối Tk 8).
Đầu Tk 9 xuất hiện bia ký viết bằng chữ Chàm cổ.
GIAI ĐOẠN ĐỒNG DƯƠNG – CUỐI THẾ KỶ 9
Là thời kỳ để nhận thấy điêu khắc Champa một phong cách độc đáo, là một trong
các giai đoạn đỉnh cao của điêu khắc Chàm. Đặc điểm :
+ Tính thống nhất, thể hiện mạnh mẽ về tính cách, nội tâm con người, tràn trề sức
lực. Nghệ thuật thời này cũng – Nhân chủng học có tính dân tộc rõ nét : môi dày có viền
quanh, ria mép dày, rậm có khi che lấp cả môi trên, lông mày dày, nổi cao, nối liền nhau,
mũi tẹt, cánh mũi to.
+ Dải thắt lưng dài có khi đến cổ chân, gấp nếp dọc như bậc cấp trên đầu, vạt chéo
như lưỡi đao. Đồ trang sức nặng nề : đặc biệt là hoa tai hình tròn có đoá hoa lớn hoặc hai
đầu rắn ở giữa. Trang trí lá sâu đo kết hợp với lá móc câu cuộ tròn sang phải, những bông
hoa lá để ở những bức chạm và tượng tròn.
GIAI ĐOẠN TRÀ KIỆU – CUỐI TK 9 ĐẦU TK 10
Tác phẩm chủ yếu thu thập được ở Trà Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng Dương, Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa thiên.
So với thời kỳ Đồng Dương thì Trà Kiệu – nghệ thuật tinh tế hơn, trang nhã,
thoáng đãng, mềm mại hơn, duyên dáng hơn và nét hài hoà càng thể hiện rõ hơn.
Đặc điểm :
+ Cung mày vẫn chạm nổi nhưng thanh hơn và tách rời nhau – Mắt dài hình hạnh
nhân nằm ngang mày, không viền quanh.
+ Nụ cười nhẹ như thoáng qua.
Các chi tiết được tỉ tót li ti, cầu kỳ, tạo vẻ đẹp trưởng thành, chững chạc, hơi gân
guốc.
Những động vật vẫn phát huy tính chất hóm hỉnh, kích thước lớn hơn, chúng như
đang làm việc, nhạy cảm, sống động vô cùng.
Tượng Dravapala, chân dung hiện thực được lý tưởng hóa : mắt mở viền to, tròng
mắt lồi ra, cánh mũi phập phồng, ria mép vểnh lên, râu quai nón tỉa tót, cổ nồi gân – nét
tài ba của nhà điêu khắc.
Mô típ núm vú : 23 hoặc 40 núm vú căng tròn, mịm màng ôm lấy tượng – rất thật
và táo bạo, gợi lên sự sống chứ không phải sắc dục, cũng như những cột linga. Đài thờ nữ
thần Uroja. Theo truyền thuyết là gốc rễ của vương triều.
Uroja – tiếng Champa lag nhũ hoa, là bệ thờ 23 nhũ hoa tròn trịa đầy đặn, rắn chắc.
Nhũ hoa là tượng trưng của thần Uroja – mẹ đất, cầu mong cho đất đai phì nhiêu và được
mùa. Những người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong gia đình, xã hội. Đây cũng là tín
ngưỡng phổ biến của cư dân nông nghiệp vùng Đông Nam Á.
Biểu tượng nhũ hoa và hoa sen là tinh thần tín ngưỡng kết hợp giữa Nữ thần
Laksmi và Uroja.
Linga chia làm 3 phần :
- Chân vuông – tượng trưng cho thần Brama
- Thân – 8 cạnh tượng trưng cho Visnu
- Đầu – tròn, có gân – tượng trưng cho thần Siva
- Yoni – âm vật nao giờ cũng đi với linga
- Âm vật – khay đá hình vuông, chữ nhật, hoặc tròn, có vòi và rãnh cho nước chảy,
tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở.
Trang trí hoa lá sinh động : những đường xoắn mãnh liệt, dồn dập kết thúc bằng
những xoáy tròn ốc nổi như sóng cồn
Po Klaung Garai (Gia Lai – Kom tum, thế kỷ XIII – XIV)
Vẫn có tính khoẻ khoắn, nhưng thể hiện sự bứt rứt, cam chịu với những đặc điểm :
+ Mắt dướn lên với mi nằm ngang
Bình thứ tư.
Chùa Giạm (Lâm Sơn tự - Hà Bắc) xây năm Quảng Hựu thứ hai – 1086.
Chùa Chương Sơn, Hà Nam xây năm Long Phù nguyên hóa thú năm – 1105. Chùa
Bà Tấm (Sùng Phúc tự - Gia Lâm, Hà nội) xây năm Hội tường Đại Khánh thứ sáu (1115),
Chùa Hương Lâm (Thạch Quang Tự, Văn Lâm, Hải Hưng…
Các di tích Vĩnh Phúc, Cống Vị, Kim Mã, vùng Quần ngựa, Ngọc Hà, Bách Thảo,
Khu Ba Đình – Hà Nội.
Kiến trúc cung đình và kiến trúc Phật giáo phát triển tạo điều kiện cho nghệ thuật
điêu khắc phát triển và hội họa lúc ấy. Chỉ tiếc rằng vì những lý do khác nhau cho đến nay
chẳng còn lư giữ được một tác phẩm nào của hội họa, ngoài những gì ghi chép, kể lại
trong sách.
Hình thành các trung tâm Phật giáo theo phái Đại thừa.
+ Chùa Phật Tích : xây năm 1057 gồm lớp nền sâu theo triền núi các cấp có độ
cao 4-5m. Nền thứ nhất là nền rộng 60m, sâu 32m, nền thứ 2, 3 rộng 60m x 100m. Chúng
được nối với nhau bởi các bậc thang đá có 5 đối tượng thú : ngựa, sư tử, rồng cao khoảng
1.2m, 1.5m.
HOA VĂN TRANG TRÍ THỜI LÝ
1. Hình ảnh con người được thể hiện ở một số dạng nhất định
- Nhạc sỹ thiên thần (Ganharvas) trong điệu múa vũ trụ.
- Vũ trụ thiên thần – vũ nữ múa, được sinh ra từ biển cả.
- Kinari – đầu người mình chim
- Các thần kim cương đứng cạnh cửa tháp
- Người bé nhỏ gắn với dây leo.
CON RỒNG
Thời xưa (thời An Dương Vương) chưa thấy nói tới con rồng.
Bắt đầu xuất hiện từ thời Đinh và Lê
Con rồng tượng trưng cho vua (Lê Đại Hành).
Sang thời nhà Lý rồng đã có mối quan hệ chặt chẽ, là đồng nhất với vua, đem lại
- Lá đề - tượng trưng cho Phật giáo, có khi trong lòng chạm một cặp rồng, cây
tháp, cụm hoa lá cách điệu, vài vân dấu hỏi (?) nối nhau.
- Hoa dây – kết hợp nhiều biểu tượng : hoa cúc nhỏ, chi tiết được trau chuốt kỹ (bệ
tượng chùa Phật Tích).
- Dấu hỏi, chữ S, số 3 ngửa – nghệ thuật hoá của chớp, nguồn nước.
Tượng Phật Adiđà ở chùa Phật tích, Hà Bắc.
Cao 1,85m, Phật ngồi toà sen trên bệ bát giác – là loại tượng phổ biến của nghệ
thuật thời Lý, áo quần mỏng, bó sát người cổ cao và thon, mắt nhìn thẳng.
Là tác phẩm điêu khắc duy nhất toàn vẹn thời Lý còn lại cho đến nay.
Tượng để đặt ở tầng dưới cùng của 4 ngôi tháp bằng đá và gạch vào năm 1057.
Tháp bị đổ tượng bị vùi trong đống gạch vụn, cây cỏ mọc che khuất cho đến cuối
thế kỷ XVII khi dựng lại chùa trên núi Tiên Du người ta mới thấy và đặt tên cho chùa
Phật Tích.
GỐM THỜI LÝ
Là thời kỳ tạo ra được nhiều hiện vật gốm có giá trị : gốm men ngọc, men da lươn,
men lục, men trắng ngà là những báu vật đặc biệt và có nhiều dạng khác nhau. Đặc điểm :
+ Xương gốm mỏng, nhẹ, độ lửa cao
+ Nét khắc chìm phủ lên men đều, bóng, mịn có độ trong sâu.
+ Đề tài trang trí thường sử dụng những hoa văn hoa sen, bông sen, đài sen.
THỜI TRẦN (thế kỷ 13 -14)
Nhà Trần được lập ra từ khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần
Cảnh.
Đây là thời kỳ lịch sử vẻ vang của dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc,
ba lần đánh tan quân Nguyên – Mông.
Kinh tế ổn định
Các chùa được xây dựng với qui mô nhỏ hơn
Điêu khắc Phật giáo phát triển khiêm tốn hơn thời Lý.
Sử sách có ghi chép về những tác phẩm điêu khắc nhưng lại không mô tả kỹ, mà
phần tượng. Phù điêu chủ yếu được tạc bằng gỗ trang trí các đề tài.
Dây hoa,
Tấn nhạc
Với các nhân vật trung tâm là vũ nữ, vũ công, kinari lối bố cục và bút pháp giống
nhau.
Tiên nữ giáng hương các cô được tạc một tư thế giống nhau : đầu hơi nghiêng ra
sau, tay kính cẩn dâng liên hoa đẩy về phía trước cánh chim dang rộng xung quanh có
những hoa văn xoắn ốc (… và mây), khuôn mật đẹp, trầm tư, sự êm đềm, tĩnh lặng vẻ dịu
dàng của tác phẩm, tạo một vẻ đẹp khỏa khoắn. Chắc chắn mà vẫn mềm mại. Điêu khắc ở
chùa Phổ Minh, chùa Dâu.
* Đặc điểm của điêu khắc thời Trần : Hình khối và đường nét mập, khỏe, những
khối tròn, những đường thanh và mạnh, tinh lọc và giản dị, vững chãi mà không nặng nề.
Vẫn còn đọng lại đường nét tinh tế, trau chuốt của điêu khắc thời Lý. Thể hiện tinh thần
thượng võ của một thời.
NGHỆ THUẬT THỜI LÊ SƠ (1428 – 1527)
Bối cảnh lịch sử
Sau khi chiến thắng quân Minh, đất nước hoang tàn
- Nhiều di sản mỹ thuật cũng bị tàn phá
- Nho giáo được đề cao, Phật giáo bị chèn ép.
- Sự đề kháng và phát triển văn hóa dân tộc vẫn tồn tại trong thời kỳ đô hộ của
quân Minh, mặc dù trên thực tế vẫn có một số ảnh hưởng. Nhìn chung nghệ thuật dân gian
– cái gốc của nền mỹ thuật Việt Nam, vẫn được bảo lưu vững vàng. Tấm bia ghi công Lê
Lợi ở Lam Sơn, Thanh hóa là sản phẩm mẫu mực, kế thừa và tiếp thu những nét đẹp tinh
hoa của nghệ thuật Lý, Trần trước đó. Hình ảnh những con giống trang trí ở lăng Lê Lợi –
hổ, lân, tê giác càng làm sáng tỏ những thí dụ trên.
Sau khi đất nước được phục hưng, văn hóa được quan tâm nhưng từ thời Lê Thánh
những lông ở đầu cánh có đường cong xoắn lại.
- Phù điêu trang trí với đề tài mô tả cuộc sống của con người dân thường.
- Điêu khắc Phật giáo – đẩy cao hình tượng quan thế Âm Bồ tát – người nghe tiếng
kêu thống khổ của chúng sinh, người có khả ăng cứu độ chúng sinh. Sự xuất hiện hàng
loạt các tượng Phật 1000 mắt, 1000 tay, Quan Âm nam hải ; là chuyệ tất yếu. Những
tượng này biểu tượng cho sự thiêng liêng, niềm by vọng của dân đen.
- Gốm Mạc là một giai đoạn mới so với thời Lý, Trần. Các đề tài trang trí thì
không thay đổi, nhưng cách biểu hiện rất đa dạng. Chúng được đắo nổi, chạm bong, chạm
lộng, áp khuôn, in hình nổi, kết hợp với nét vẽ hoa lam, hoặc phủ men lục, da lươn, trắng
ngà, trắng vàng, đặc biệt là lò gốm Bát Tràng.
MỸ THUẬT THẾ KỶ XVII
- Năm 1592 Trịnh Kiểm vào Thăng Long Vương.
- Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 17 – khoảng 30 năm đầu thế kỷ 18 dưới thời Lê Trung
Hưng ( Lê Trịnh) chuyển sang một hình mẫu mới và thực tế chúng còn có những phong
cách và đặc điểm khác nhau của từng giai đoạn.
- Giai đoạn xác lập bản đồ Việt Nam hiện đại, cơ cấu tinh thần văn hoá.
- Kinh tế có những bước phát triển lớn : nông nghiệp, nhất là việc khẩn hoang ở
đàng trong (1698), năng xuất lúa cao, thủ công phát triển mạnh; các làng nghề, phường
thợ, thị trường trong nước mở rộng, mở mang giao lưu với nước ngoài. Đời sống tư
tưởng, tinh thần cũng trở nên phức tạp hơn, sâu sắc hơn.
Nho giáo thống trị xã hội (cai trị, ứng xử) văn hoá.
- Phật giáo, đạo giáo thịnh hành lại từ cuối thế kỷ 16 cùng phát huy tác động sâu
sắc đến mọi tầng lớp nhân dân các làng. Phật ở làng chứ không phải ở trên núi và cung
đình.
- Kitô giáo cũng bắt đầu vào Việt Nam, chữ quốc ngữ ra đời.
- Các ngành văn nghệ phát triển, trước hết là mỹ thuật đạt đến trình độ cổ điển; văn
hoá, sân khấu cũng phát triển. Đây là thời kỳ bùng nổ và hoàn thiện của điêu khắc cổ Việt
năm trước khi vua tái triều (Lê Thần Tông nhường ngôi cho Lê Chân Tông, nhưng Lê
Chân Tông chết năm 1649).
Cấu trúc nội công ngoại quốc với nhiều công trình : tam quan – Gác chuông –
Tiền đường – Thiên hương – Thượng điện – Cầu đá – Toà thích thiện am – Sân – Nhá
chung – Phủ thờ - Hậu đường.
Hai hành lang gắn cụm kiến trúc trong một tổng thể. Bên trái có nhà thổ và tháp
Bảo nghiêm, sau chùa có tháp đá Tôn Đức cùng 2 tháp nhỏ Tâm hoa và Ni chân. Không
gian nủa đóng nửa mở, nửa kín, nửa hở, thiên nhiên xen kẽ trong công trình nhân tạo,
nhìn ngoài thì nhỏ, vào trong thấy rộng, giới hạn giữa chùa với làng không quá tách biệt.
Ở các góc chùa có nhiều cây cao kết hợp các cây ăn quả thấo, lá rậm, tán dày, tròn, nên
nhìn xa chùa như chìm trong rừng cây, các công trình dàn cách xa phải thoáng đãng tạo
cảm giác thanh tịnh.
ĐIÊU KHẮC PHẬT GIÁO
Hệ thống tượng trong các chùa đã hình thành có qui mô rõ ràng tương ứng với kiến
trúc. Tượng căn bản được chia các loại theo hệ thống bàn thờ (như chùa Thầy).
+ Bộ tượng Di đà tam tôn bằng gỗ phủ sơn là có niên đại sớm nhất trong Điện thờ
Từ Đạo Hạnh, nhóm tượng cân đối có tính thần bí.
Di đà – ngồi giữa cao 1,75cm
Đại thế chí Bồ tát – bên phải, cao 1,51cm
Quan thế Âm bồ tát – bên trái, cao 1,17cm
+ Bộ tượng chân dung, phù điêu gần như tượng tròn, nổi cao cá tính rõ nét :
Cao Thi
Công chúa Minh Châu
Diệu Tuệ
Vương thân Trịnh Thị Ngọc Chả
- Nhóm tượng chan dung ở chùa Mía : Trịnh Thị Ngọc Trúc, Ngọc Diệu… nhóm
phù điêu chân dung : Từ Đạo Hạnh, Đức thánh Mẫu, Đức Thánh phụ, Sư Giác Hải – là
những tượng ít kiểu cách, gần với thực tế, đặc biệt chân dung nhà sư Nguyễn Minh
Không.
- Nhóm tượng chân dung ở chùa Lý Quốc Sư : 4 tượng công chúa, 4 tượng quan.