Trình bày giải thích các bước của chu trình phát triển chương trình một
môn học/chuyên đề. Phân tích mối quan hệ giữa các bước, từ đó nêu và giải
thích vai trò của nhà quản lý trong chương trình giáo dục.
1
PHẦN BÀI LÀM
I. Trình bày giải thích các bước của chu trình phát triển chương
trình một môn học/chuyên đề
* Chương trình giáo dục
Để hiểu được các bước của chu trình phát triển chương trình một môn
học/ chuyên đề, trước hết chúng ta cần phải hiểu thế nào là chương trình giáo
dục. Đây là thuật ngữ xuất hiện từ khá lâu (năm 1820) và được sử dụng một
cách chuyên nghiệp ở Hoa Kỳ cùng một số nước có nền giáo dục phát triển từ
giữa thế kỷ 20.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này, về cơ bản chúng ta có
thể hiểu chương trình giáo dục là kế hoạch tổng thể, hệ thống về toàn bộ hoạt
động giáo dục tại nhà trường. Nó bao gồm mục đích giáo dục, mục tiêu,
chuẩn đầu ra, nội dung giáo dục (với độ rộng và sâu tương ứng với chuẩn đầu
ra), phương thức giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục (với các phương
pháp, phương tiện, công cụ dạy học phù hợp), phương thức đánh giá kết quả
giáo dục (trong so sánh, đối chiếu với chuẩn đầu ra của chương trình).
Trong các yếu tố này thì mục đích, mục tiêu và chuẩn đầu ra là yếu tố
quan trọng nhất của chương trình, quyết định chất lượng chương trình. Từ
mục đích, mục tiêu, chuẩn đầu ra của chương trình sẽ xây dựng nội dung,
phương thức, hình thức tổ chức giáo dục và phương thức đánh giá kết quả
giáo dục. Kiểm tra đánh giá sẽ quyết định chất lượng thực thi chương trình.
* Phát triển chương trình giáo dục
Phát triển chương trình giáo dục là một quá trình liên tục nhằm hoàn
thiện không ngừng chương trình giáo dục. Theo quan điểm này chương trình
- Bối cảnh dạy học
- Những ưu tiên của cơ sở đào tạo
a. Mối quan hệ giữa môn học với mục đích, mục tiêu của cả
chương trình giáo dục
3
Khi thiết kế chương trình một môn học, việc quan trọng là phải
nghiên cứu mối quan hệ của nó với các môn học khác trong chương trình của
cả bậc học.
Để làm việc này giáo viên phải nghiên cứu chương trình môn học,
chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo các
loại. Đồng thời tìm hiểu các môn học gần (văn sử, địa, GDCD; toán, lí hóa,
sinh,…) có khả năng hỗ trợ học tốt môn học. Ví dụ phát triển chương trình
môn Toán lớp 10 thì giáo viên cần xem xét trong mối quan hệ với Toán lớp 7,
8, 9 và Toán lớp 11, 12; cùng với đó là xem xét trong quan hệ với môn Lý,
Hóa. Với các môn ở đại học cần xác định vị trí môn học đó trong khối kiến
thức nào trong chương trình giáo dục đại học
Quá trình nghiên cứu sẽ giúp giáo viên trả lới các câu hỏi sau:
- Để học tốt môn học người học cần những kiễn thức kĩ năng gì đã học
trước đó?
- Những nội dung nào của môn học có thể tích hợp với các môn khác
(liên môn)?
- Những nội dung nào của môn học có thể tích hợp với mục tiêu giáo
dục (mục tiêu thái độ)?
- Sau khi học xong môn học người học có thể có những kiên thức kĩ
năng, thái độ như thế nào?
- Người học có thể dùng những kiến thức kĩ năng ấy để làm gì khi học
lên hoặc đi vào cuộc sống lao động?
mới tạo ra động lực và hứng thú trong học tập cho người học.
d. Bối cảnh dạy học
Tìm hiểu những điều kiện để dạy môn học đó ở trường mình
Những đặc điểm của địa phương có những gì có thể vận dụng vào dạy
môn học đó
Mục đích: tìm hiểu khả năng vận dụng kiến thức môn học với đặc điểm
của địa phương, cũng như các điều kiện dạy học có thể sử dụng trong quá tình
5
dạy môn học, đây là cơ sở cho việc thiết kế, làm cho môn học/ chuyên đề trở
nên gần gũi hơn, dễ tiếp nhận hơn với người học.
e. Những ưu tiên của cơ sở đào tạo
Mỗi cơ sở đào tạo đều phải gắn với một cộng đồng và đều có những ưu
tiên đào tạo đặc thù của cơ sở đó. Trong trường hợp này, những đặc điểm
riêng của nhà trường sẽ có ảnh hưởng nhất định đối với việc xác định mục
đích, mục tiêu của một chương trình giáo dục, chính sách tuyển sinh v.v.
* Ý nghĩa.
Kết quả của quá trình phân tích nhu cầu là cơ sở để xác định mục đích,
mục tiêu và chuẩn đầu ra của môn học/ chuyên đề.
2. Xác định mục đích và mục tiêu
- Mục đích của chương trình giáo dục là sự diễn đạt khái quát cái đích
chung nhất của chương trình giáo dục phải đạt tới định hướng cho toàn bộ
quy trình đào tạo về năng lực chuyên môn, phẩm chất hành vi.
- Mục tiêu đào tạo là sự mô tả cụ thể những gì người học có khả năng
thực hiện được sau khi hoàn tất một khóa học hay môn học.
- Mục đích của CTGD cho ta một hình mẫu cụ thể của người học sau
khi ra trường, nhưng đã xác định những phương hướng cơ bản trong thiết kế
chương trình giáo dục.
một tổng thể thành các bộ phận và phân biệt được các yếu tố, mối liên hệ qua
lại giữa các yếu tố và nguyên lý tổ chức các yếu tố.
- Tổng hợp : Nhận thức ở mức độ này liên quan tới việc sắp xếp các
bộ phận với nhau để tạo ra một dạng mớicủa chỉnh thể, một cuộc giao tiếp
trọn vẹn một kế hoạch hành động hoặc một hệ thống các mối liên hệ trừu
tượng.
Đánh giá : Nhận thức ở mức độ này là mức độ cao nhất của thang bậc
nhận thức. Mục tiêu ở mức này là nhằm đánh giá tới những chứng cứ nội tại
hay sự kiên định lôgic và những chứng cứ ngoại hay sự kiên định với những
sự kiện phát triển ở một nơi khác.
b. Mục tiêu tình cảm
7
Bao gồm 05 mức độ khác nhau :
- Tiếp nhận (Receiving)
Đề cập tới sự nhạy cảm của người học tới sự hiện diện của một tác
nhân kích thích
Thí dụ, khi nghiên cứu các nền văn hoá khác nhau của phương Đông,
người học, có nhận thức về các yếu tố thẩm mĩ trong trang phục, nội thất, kiến
trúc ... của người phương đông.
- Hồi đáp ( Responding)
Đề cập tới sự chú ý tích cực của người học tới các tác nhân kích thích.
Thí dụ, người học thể hiện sự hứng thú về chủ đề một cuộc trò chuyện
bằng cách tích cực tham gia vào một công trình nghiên cứu.
- Tạo giá trị ( Valuing)
Đề cập tới niềm tin và thái độ của người học về các giá trị.
Thí dụ, Người học có quan điểm rõ ràng về ưu điểm và nhược điểm
của năng lượng nguyên tử.
- Sự tổ chức (Organization)
- Các mục tiêu phức hợp cần phải được xác định theo kiểu phân tích và
đủ cụ thể để không còn nghi ngờ đối với kiểu hành vi được kỳ vọng hay cái
mà hành vi được áp dụng.
- Các mục tiêu phải xây dựng có tính phân hoá giữa những người học,
đạt được những hành vi khác nhau.
- Mục tiêu có tính phát triển, thể hiện các con đường đi tới chứ không
phải là các điểm cuối cùng.
- Mục tiêu phải thực tế và chỉ bao gồm những gì được hiện thực hoá
thành kinh nghiệm trong lớp học.
- Phạm vi của các mục tiêu phải đủ rộng để chứa đựng tất cả các kết
quả đầu ra mà cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm.
* Ý nghĩa của việc xác định mục tiêu dạy học
- Là cơ sở để người học tự tìm cách phù hợp nhất với mình để chiếm
lĩnh mục tiêu của bài học, môn học và tự đánh giá mức độ đạt mục tiêu.
9
- Là cơ sở để giáo viên lựa chọn nội dung dạy học, hình thức tổ chức
dạy học, phương pháp dạy học.
- Mục tiêu còn là chuẩn để đánh giá được sự tiến bộ của người học
trong quá trình học tập.
- Là cơ sở để đánh giá được hiệu quả, giá trị của một bài dạy, một khoá
dạy hay cả một chương trình.
Ý nghĩa của mục tiêu giáo dục là cơ sở hình thành các cách thức, hình
thức, nội dung, phương pháp dạy học. Những yếu tố này chi phối toàn bộ nội
dung dạy học.
Có mục tiêu giáo dục, nhưng việc cần xác định mức độ, phạm vi dạy
học đến đâu sẽ quy định toàn bộ các hoạt động đứng sau nó từ việc lựa chọn
nội dung dạy học, phương pháp dạy học đến đánh giá kết quả dạy học.
3. Thiết kế chương trình giáo dục
Bruner năm 1960):
- Từ đơn giản đến phức tạp
- Xoắn ốc
- Tuyến tính
- Toàn bộ
- Niên đại
- Theo chiều dọc
- Theo chiều ngang
iii) Tích hợp nội dung theo cách tổng hòa các khái niệm, kiến thức, kỹ
năng và giá trị nhiều môn học để giúp học sinh thấy hình ảnh thống nhất về
các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, chứ không rời rạc, phân mảnh và tách
rời từng nội dung.
iv) Những ý tưởng, chủ đề và các kỹ năng của CT cần liên tục, tức là
được lặp lại dọc theo các lớp học, cấp học. Điều này là bởi học sinh không thể
am hiểu các khái niệm, thành thạo các kỹ năng chỉ trong một lần thực hành.
Ví dụ, học sinh tiểu học được học các nguyên tắc viết bài luận, các nguyên tắc
này sẽ liên tục lặp lại trong những năm tiếp theo, với mức độ sâu và phức tạp
11
tăng dần. Hoặc làm thí nghiệm là một kinh nghiệm học tập được lặp lại trong
suốt tiến trình giảng dạy môn Khoa học ở cả bậc học, với mức độ ngày càng
phức tạp và trừu tượng hơn.
b. Xác định các hình thức tổ chức dạy - học
Có 2 hình thức tổ chức dạy học cơ bản
Hình thức tổ chức dạy học có mặt giáo viên có thể có các hình thức,
như: lớp đông, làm việc nhóm, xemina, tại phòng thí nghiệm, phòng bộ môn,
đi dã ngoại…..
Hình thức tổ chức dạy học không có mặt giáo viên có thể có các hình
học được coi là hợp lý và hiệu quả khi phương pháp này:
Nhằm đến mục tiêu dạy học rõ ràng
Tương thích: Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể, đặc thù của từng
môn học, bài học, từng vấn đề cụ thể; từng giai đoạn cụ thể trong tiến trình
giờ học v.v.
Khả thi: Phù hợp với năng lực, trình độ, sở thích, hứng thú, kinh
nghiệm của người dạy lẫn người học, phù hợp với các điều kiện dạy học v.v.
Do đó, việc lựa chọn phương pháp dạy học sẽ bị qui định bởi:
- Mục tiêu, nội dung dạy học (môn học, chương mục, bài học, từng nội
dung cụ thể trong các giai đoạn triển khai giờ học v.v.);
- Nguyên tắc dạy học;
- Đặc điểm tâm, sinh lý, khả năng, trình độ, hứng thú của người học,
trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của người dạy.
d. Lựa chọn và sử dụng phương tiện, công nghệ dạy học
Trong giáo dục phổ thông sách giáo khoa và các sách hướng dẫn, tham
khảo, các tài liệu in ấn đã và vẫn đang là học liệu cơ bản.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, thì việc
lựa chọn máy tính là phương tiện, được sử dụng nhiều nhất và đã mang lại rất
nhiều thành công trong giảng dạy. Tuy nhiên cũng không nên bỏ qua những
13
công nghệ thấp nhưng hiệu quả cao( Tài liệu phát tay, đồ dùng dạy học tự
tạo).
Khi lựa chọn các phương tiện hãy lưu ý:
- Chỉ chọn các phương tiện hiệu quả nhất cho mục tiêu học tập của giờ học.
- Phải đảm bảo thiết bị là có sẵn.
- Phương tiện càng dễ sử dụng càng có hiệu quả cao.
- Nếu yêu cầu học sinh sử dụng máy vi tính ngoài lớp học phải đảm bảo
- Một đề cương tốt có thể thực hiện các mục đích sau:
+ Xác định trách nhiệm cá nhân của sinh viên một cách rõ ràng nhất
để sinh viên hoàn thành tốt khoá học.
+ Giúp sinh viên cải tiến việc ghi chép trên lớp. Đề cýõng hýớng dẫn
chi tiết vấn đề nào là quan trọng, nguồn học liệu cần để tham khảo v.v.
+ Giảm bớt sự căng thẳng do thi cử, nâng cao kĩ năng làm bài kiểm tra
Sinh viên biết trước các hình thức tổ chức thực hiện khoá học.
+ Cung cấp tài liệu quí hiếm qua các handout của giảng viên.
+ Toàn bộ những thông tin có trong đề cương giúp nâng cao đáng kể
hiệu quả, hiệu suất làm việc của giảng viên và sinh viên.
b. Xây dựng kế hoạch bài dạy
Theo một mẫu nào đó với mục tiêu càng chi tiết, càng cụ thể càng tốt
c. Lập hồ sơ môn học
*Hồ sơ môn học bao gồm:
- Chương trình môn học - Đề cương môn học - Kế hoạch bài dạy
- Các tài liệu học tập có liên quan kể cả các tài liệu của thầy.
- Kết quả học tập của sinh viên các khoá sau khi học xong môn học.
- Ý kiến phản hồi của sinh viên sau khi học xong môn học.
- Ý kiến của đồng nghiệp sau dự giờ.
- Ý kiến đánh giá của cựu sinh viên (nếu có).
- Ý kiến đánh giá của giảng viên sau khi dạy xong môn học.
- Mẫu các loại bài kiểm tra (tuần, tháng v.v.)
- Một số bài thi, kiểm tra của sinh viên.
15
- Hồ sơ môn học sẽ được cập nhật sau mỗi khoá học và đổi mới sau
mỗi năm ít nhất là 15 - 20 %.
Như vậy, sau khi thực thi chương trình giáo dục, người học có thể
16
- Xác định chương trình có thực sự vận hành đúng như kế hoạch đã đề
ra hay không.
- Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục một cách thường xuyên và khẳng
định uy tín của cơ sở giáo dục trong xã hội.
* Lợi ích của đánh giá chương trình
- Nâng cao chất lượng giáo dục để đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội
- Cung cấp những so sánh hợp lý giữa các chương trình để quyết định
chương trình nào nên được giữ lại.
- Giúp chúng trở nên hiệu quả và kinh tế hơn
- Giám sát và mô tả đầy đủ các chương trình hiệu quả để có thể áp dụng
ở những nơi khác
- Tạo thuận lợi cho việc quản lý những ý tưởng về toàn bộ nội dung của
chương trình bao gồm các mục tiêu, phương pháp thực hiện các mục tiêu và
cách thức để biết mục tiêu có được thực hiện hay không.
- Đối với sự phát triển của hệ thống trường tư, đánh giá chương trình
giúp khẳng định vị trí của nhà trường, thu hút học viên
* Đánh giá chương trình giáo dục chú ý tới những tiêu chí
- Tính trình tự (sequenced).
- Tính gắn kết (Coherent).
- Tính thích hợp (phù hợp) (Relevant).
- Tính cân đối (Balanced).
- Tính cập nhật (Current).
- Tính hiệu quả (Effective).
* Đánh giá chương trình giáo dục dựa vào những nguồn thông tin
sau:
- Học sinh, sinh viên: Đánh giá việc học tập của bản thân, xác định giá
nhu cầu xã hội và càng có cơ hội tồn tại. Từ mục đích, mục tiêu và chuẩn đầu
ra sẽ thiết kế chương trình để thực hiện được mục đích, mục tiêu và chuẩn đầu
ra đó và để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội cũng như thị trường lao động.
18
II. Xác định mục
đích và mục tiêu
Các bước phát triển
I. Phân tích
nhu cầu
III. Thiết kế
chương trình giáo dục
IV. Thực thi
V. Đánh giá
Chúng ta không thể tách rời từng bước riêng rẽ hoặc không xem xét
đến tác động hữu cơ của các bước khác. Chẳng hạn, khi bắt đầu thiết kế một
chương trình giáo dục cho một khoá học nào đó người ta thường phải đánh
giá chương trình giáo dục hiện hành (bước đánh giá chương trình giáo dục),
sau đó kết hợp với việc phân tích tình hình cụ thể - các điều kiện dạy và học
trong và ngoài trường, nhu cầu đào tạo của người học và của xã hội v..v..
(bước phân tích tình hình) để đưa ra mục tiêu đào tạo của khoá học. Tiếp đến,
dựng chương trình là một quá trình chứ không phải là một trạng thái hoặc một
giai đoạn tách biệt của quá trình đào tạo. Đặc điểm của cách nhìn nhận này là
luôn phải tìm kiếm các thông tin phản hồi ở tất cả các bước về chương trình
giáo dục để kịp thời điều chỉnh từng bước của quá trình xây dựng và hoàn
thiện chương trình nhằm không ngừng đáp ứng tốt hơn với yêu cầu ngày càng
cao về chất lượng đào tạo của xã hội.
- Một chương trình giáo dục có chất lượng tốt thì đòi hỏi mọi bước
trong chu trình phát triển đều tốt, bước này làm tốt là cơ sở để thực hiện tốt
bước tiếp theo. Xác định mục đích, mục tiêu, chuẩn đầu ra sẽ quyết định chất
20
lượng chương trình. Kiểm tra đánh giá quyết định chất lượng việc thực thi
chương trình. Vì vậy làm tốt 2 bước này sẽ quyết định chất lượng cả quá trình
phát triển chương trình giáo dục.
III. Vai trò của nhà quản lý trong phát triển chương trình giáo dục
- Trước hết, tự bản thân người quản lý phải nhận thức được tầm quan
trọng của phát triển chương trình giáo dục đối với sự tồn tại phát triển của
đơn vị mình cũng như ảnh hưởng của nó đến chất lượng đầu ra của quá trình
đào tạo, có như vậy mới luôn có ý thức chú trọng phát triển chương trình giáo
dục.
- Nhà quản lý có trách nhiệm huy động các chuyên gia và tạo ra các
chuyên gia cho quá trình phát triển chương trình giáo dục ở đơn vị mình. Bất
cứ hoạt động nào trong nhà trường cũng luôn đòi hỏi có một đội ngũ chuyên
nghiệp để thực hiện, có như vậy chất lượng đội ngũ mới được đảm bảo. Bên
cạnh đó, nhà quản lý phải tạo điều kiện giúp giáo viên biết cách phát triển
chương trình giáo dục, bằng cách hướng dẫn giáo viên, cho giáo viên tham
gia bồi dưỡng, tạo cơ hội cho giáo viên được thể hiện mình…
- Nhà quản lý có trách nhiệm huy động sức mạnh tập thể và tạo điều
cần triển khai theo các bước sau:
- Xác định rõ các lĩnh vực và cách thức phát triển chương trình.
- Nghiên cứu đặc điểm của địa bàn trường đóng, đặc điểm của học sinh,
nhu cầu học tập của học sinhqua đó xác định lĩnh vực có thể phát triển
chương trình.
- Tổ chức phát triển chương trình về lĩnh vực đã xác định.
- Lập kế hoạch dài hạn và kế hoạch năm học, chi tiết tới từng tuần.
- Tổ chức để giáo viên tích hợp vào kế hoạch dạy môn học.
- Tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm cho kỳ sau, năm sau.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Bài giảng: Những quan
điểm giáo dục hiện đại.
22
2. Nguyễn Đức Chính- Tập bài giảng: Phát triển chương trình giáo
dục.
23