Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn toán của trường THCS nguyễn bỉnh khiêm, huyện vĩnh bảo, thành phố hải phòng bối cảnh hiện nay - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN NHƢ HIỀN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN
Ở TRƢỜNG THCS NGUYỄN BỈNH KHIÊM, HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN NHƢ HIỀN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN
Ở TRƢỜNG THCS NGUYỄN BỈNH KHIÊM, HUYỆN VĨNH BẢO,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Từ Đức Văn



1.2.2. Quản lý giáo dục

12

1.2.3. Quản lý nhà trƣờng

14

1.2.4. Hoạt động dạy và học

18

1.3. Hoạt động dạy học môn toán ở trƣờng THCS

18

1.4. Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trƣờng THCS

25

1.4.1. Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên

25

1.4.2. Quản lý hoạt động học tập của học sinh

30

1.4.3. Quản lý CSVC và phƣơng tiện dạy học môn Toán


43

Khiêm, huyện Vĩnh Bảo
2.3.1. Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên

44

2.3.2. Thực trạng về hoạt động học tập của học sinh

51

3


2.4. Thực trạng quản lý hoạt động day học môn toán ở trƣờng THCS Nguyễn

55

Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng

55

2.4.1 Thực trạng quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên

55

2.4.2. Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh

69


79

3.1.3. Nguyên tắc đảm bào tính đồng bộ

80

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả

80

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trƣờng THCS

81

Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay.
3.2.1. biện pháp 1: Tăng cƣờng quản lý việc thực hiện nội dung chƣơng trình

81

môn Toán đáp ứng mục tiêu môn học và nhiệm vụ của từng năm học.
3.2.2. Biện pháp 2: Thƣờng xuyên chỉ đạo việc đổi mới phƣơng pháp dạy

83

học của giáo viên và bồi dƣỡng phƣơng pháp học tập cho học sinh.
3.2.3. Biện pháp 3: Quản lý sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, phƣơng tiện dạy

85



99

Tiểu kết chƣơng 3

104

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

105

1. Kết luận:

105

2. Khuyến nghị.

106

2.1. Đối với UBND TP Hải Phòng, Sở GD & ĐT Hải Phòng.

106

2.2. Đối với UBND huyện Vĩnh Bảo, Phòng GD&ĐT huyện Vĩnh Bảo.

107

2.3. Đối với cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên Toán của trƣờng THCS

107

Mặc dù đã đạt đƣợc những thành tựu trên nhƣng hệ thống Giáo dục và Đào
tạo nƣớc ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nƣớc
trong thời kỳ CNH-HĐH. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khoá VIII đã khẳng
định:“Giáo dục nước ta vẫn còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy mô lẫn cơ cấu và
nhất là chất lượng ít hiệu quả, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao về nhân
lực và công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội, xây dựng bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Để giải
quyết mâu thuẫn trên đòi hỏi chúng ta phải thay đổi quan niệm, nhận thức về giáo
dục, phải hƣớng tới chất lƣợng giáo dục, điều đó đồng nghĩa với việc phải chú
trọng nâng cao có hiệu quả hoạt động dạy và học trong các nhà trƣờng.
6


Giáo dục THCS là một trong những cấp học của giáo dục phổ thông trong hệ
thống giáo dục của nƣớc ta, cấp THCS là cấp học cơ bản, là giai đoạn trung gian
giữa Tiểu học và THPT. Ở giai đoạn này, học sinh đƣợc cung cấp kiến thức cơ bản
nhất, giáo dục và hình thành nhân cách, gắn với tâm sinh lý của lứa tuổi này cũng
nhiều biến động. Nhƣ vậy, các hoạt động dạy học ở các trƣờng THCS là vô cùng quan
trọng, là cơ sở cho các cấp học, bậc học cao hơn.
Những năm gần đây sự nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện Vĩnh Bảo nói
chung và của trƣờng THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm là trƣờng chất lƣợng cao của
huyện Vĩnh Bảo nói riêng đã có những thay đổi mạnh mẽ, cơ bản và sâu sắc, luôn
dẫn đầu khối ngoại thành về các phong trào giáo dục. Bên cạnh những thành tựu
cũng còn không ít những hạn chế, yếu kém nhiều mặt, trong đó nguyên nhân cơ
bản là những hạn chế về quản lý nhà trƣờng nói chung và quản lý hoạt động dạy và
học nói riêng, không theo kịp thực tiễn phát triển giáo dục của đất nƣớc.
Môn Toán là môn học quan trọng ở trƣờng THCS, môn học có số tiết nhiều
nhất trong tuần. Công tác quản lý chất lƣợng dạy học nói chung, quản lý chất lƣợng
dạy học môn Toán ở trƣờng THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đạt đƣợc một số kết quả
nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế. Vì thế, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc dạy học, quản lý hoạt động dạy học môn
Toán cấp THCS .
5.2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động dạy học, quản lý hoạt
động dạy học môn Toán của trƣờng THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo,
thành phố Hải Phòng.
5.3. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã tìm hiểu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt
động dạy học môn Toán của trƣờng THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo,
thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc các biện pháp quản lý hoạt động dạy học
môn Toán của trƣờng THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải
Phòng từ năm 2010 đến năm 2013
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

8


Nghiên cứu và phân tích các nguồn tƣ liệu, số liệu có sẵn về khoa học giáo
dục, khoa học quản lý giáo dục và các tài liệu có liên quan để xây dựng cơ sở lý
luận chủ yếu của đề tài
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Gồm phiếu dành cho cán bộ
quản lý; dành cho giáo viên; dành cho học sinh nhằm thu thập thông tin về thực
trạng quản lý dạy học môn Toán của trƣờng THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh
Bảo, thành phố Hải Phòng

7.2.2. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Tham khảo các bản báo
cáo tổng kết năm học, kế hoạch năm học của trƣờng, ngành và một số báo cáo hội
thảo về công tác chuyên môn nhằm tổng kết các kinh nghiệm quản lý dạy học bộ

mà xã hội loài ngƣời không ngừng vận động và phát triển. Theo Mác-Ănghen
trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tƣ bản chủ nghĩa đã rút ra kết luận, một
trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất tƣ bản là nhờ
có vai trò của hoạt động quản lý.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục trong và ngoài nƣớc,
bên cạnh những công trình nghiên cứu có tính chất tổng quan về quản lý giáo dục thì
các công trình nghiên cứu về quản lý nhà trƣờng, quản lý các thành tố của quá trình
sƣ phạm trong nhà trƣờng ngày càng chiếm vị trí quan trọng bởi nhà trƣờng đƣợc
thừa nhận rộng rãi nhƣ một thiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục - đào tạo thế
hệ trẻ trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Nhà giáo dục học Xô-Viết: V.A. Xukhomlinxki khi tổng kết những kinh
nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là ngƣời hiệu trƣởng nhà trƣờng đã cho
rằng: "Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công
việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động dạy học", V.A Xukhomlinxki
và Xvecxlerơ cùng nhấn mạnh đến biện pháp dự giờ, phân tích bài giảng, sinh hoạt
tổ chuyên môn...Việc dự giờ, phân tích bài giảng của đồng nghiệp đƣợc coi là "đòn
bẩy" để nâng cao chất lƣợng dạy học. Việc phân tích bài giảng với mục đích là chỉ
cho giáo viên thấy các thiếu sót để khắc phục, đồng thời nhận ra các mặt tích cực
để khuyến khích họ phát huy nhằm nâng cao chất lƣợng bài giảng.
Đề tài khoa học công nghệ trọng điểm cấp Bộ của nhóm tác giả: PGS.TS.
Nguyễn Ngọc Hợi (chủ nhiệm đề tài); PGS.TS. Phạm Minh Hùng; PGS. TS. Thái
Văn Thành "Thực trạng và các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên" (2006).
Nhóm tác giả đó nêu lên nguyên tắc chung về nâng cao chất lƣợng của đội ngũ
giáo viên nhƣ: Xác định đầy đủ nội dung hoạt động chuyên môn; Xây dựng hoàn
10


thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn của giáo viên; Tổ chức đánh giá, xếp
loại chuyên môn của giáo viên.
Tác giả Trần Bá Hoành trong công trình nghiên cứu của mình cũng đã đề

1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý, chức năng, biện pháp quản lý.
1.2.1.1. Khái niệm “Quản lý”
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời, hoạt động quản lý đã xuất
hiện rất sớm. Từ khi con ngƣời biết tập hợp lại với nhau, tập trung sức lực để tự vệ
hoặc kiếm sống, thì bên cạnh lao động chung của mọi ngƣời đã xuất hiện những
hoạt động tổ chức, phối hợp điều khiển đối với họ. Những hoạt động đó xuất hiện,
tồn tại và phát triển nhƣ một yếu tố khách quan, là cơ sở cho các hoạt động chung
của con ngƣời đạt đƣợc kết quả mong muốn. K.Marx đã viết: “Một người độc tấu
vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng”. Nhƣ vậy, đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức,
điều khiển các hoạt động của con ngƣời theo những yêu cầu nhất định đƣợc gọi là
hoạt động quản lý. Từ đó có thể hiểu là lao động và quản lý không tách rời nhau,
quản lý là hoạt động điều khiển lao động chung. Xã hội phát triển qua các phƣơng
thức sản xuất thì trình độ tổ chức, điều hành tất yếu đƣợc nâng lên, phát triển theo
những đòi hỏi ngày càng cao hơn. Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời,
quản lý đã trở thành một ngành khoa học và ngày càng phát triển toàn diện.
Quản lý là một hiện tƣợng xã hội đƣợc hình thành và phát triển cùng với sự
xuất hiện, phát triển của xã hội loài ngƣời. Nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân
công, hợp tác lao động. Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan đƣợc ra đời
một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi
thời đại. Quản lý là một dạng hoạt động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của
sự phát triển xã hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ
và liên quan đến mọi ngƣời. Có thể nói quản lý là một trong những loại hình lao
động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất.
Khái niệm quản lý (management) là khái niệm rất chung, tổng quát. Trong
quá trình nghiên cứu của lý luận khoa học quản lý, tùy theo góc độ tiếp cận mà
khái niệm này đƣợc quan niệm theo nhiều cách khác nhau.
Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich đƣa ra khái niệm: “Quản
lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm bảo đảm sự phối hợp những nỗ lực cá nhân

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời
cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.
1.2.1.2. Chức năng quản lý.
13


Quản lý một thuộc tính gắn liền với xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội.
Để đảm bảo thực hiện đƣợc hai chức năng này, hoạt động quản lý bao gồm bốn
chức năng cụ thể: Lập kế hoạch; tổ chức; lãnh đạo chỉ đạo; kiểm tra đánh giá.
- Chức năng kế hoạch: Là một chức năng, một khâu quan trọng nhất trong
hoạt động quản lý, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết
cho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp cơ bản và
các điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đó. Kế hoạch là nền tảng của quản lý,
là sự quyết định lựa chọn đƣờng lối hành động của một tổ chức và các bộ phận của
nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức.
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc quyền
hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt đƣợc các
mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi
hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau. Nhờ tổ chức hiệu quả mà ngƣời quản
lý có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác. Một tổ
chức đƣợc thiết kế phù hợp sẽ phát huy đƣợc năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết
định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực.
- Chức năng lãnh đạo chỉ đạo: Là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hƣởng của
mình tác động đến con ngƣời trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực
phấn đấu để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Vai trò của ngƣời chỉ đạo là phải
chuyển đƣợc ý tƣởng của mình vào nhận thức của ngƣời khác, hƣớng mọi ngƣời
trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị.
- Chức năng kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của
quản lý, quản lý mà không kiểm tra thì coi nhƣ không có quản lý. Nhờ có hoạt

nên sức mạnh tổng hợp, mang lại hiệu quả thiết thực trong từng tình huống quản lý
cụ thể.
- Biện pháp kinh tế: Là biện pháp tác động đến đối tƣợng quản lý thông qua
các lợi ích kinh tế. Mà cơ sở của nó là các quy luật kinh tế.
Đặc trƣng của biện pháp này là kích thích đối tƣợng quản lý phấn khởi, chủ
động, sáng tạo hành động, thực hiện nhiệm vụ để đạt những lợi ích kinh tế nhất
định. Đây là biện pháp hiện đại, tiên tiến, đạt hiệu quả cao trong quản lý vì nó phát
huy cao độ tính chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo của đối tƣợng quản lý,
hƣớng đến năng suất lao động tối đa. Biện pháp này không phụ thuộc nhiều vào
các quan hệ tổ chức và hành chính, vì vậy cả chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý
đều cảm thấy chủ động, thoải mái hơn, giảm bớt hoạt động có tính chất sự vụ của
nhà quản lý.
15


Thực hiện biện pháp kinh tế đòi hỏi nhà quản lý phải có kiến thức và kinh
nghiệm sâu rộng để có thể định hƣớng hành động cho đối tƣợng quản lý bằng các
nhiệm vụ, kế hoạch, hợp đồng... với những chỉ tiêu số lƣợng, chất lƣợng rõ ràng,
với những định mức cụ thể, chế độ thƣởng phạt nghiêm minh, đảm bảo kỷ cƣơng,
theo pháp luật trong mọi trƣờng hợp.
- Biện pháp tâm lý - giáo dục: Là biện pháp tác động vào nhận thức con
ngƣời, làm cho con ngƣời nhận thức đúng nhiệm vụ, tự nguyện thực hiện yêu cầu
của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp.
Đặc điểm của biện pháp này là dựa vào các quy luật tâm lý- xã hội để bồi
dƣỡng tình cảm, xây dựng lòng tin, ý chí nghị lực, tinh thần trách nhiệm trƣớc tập
thể, trƣớc uy tín của tổ chức. Nên dùng ngƣời có uy tín để thuyết phục đối tƣợng,
quá trình thuyết phục phải tôn trọng danh dự và nhân cách ngƣời nghe. Điều rất
quan trọng là phải lấy sự thay đổi hành vi cụ thể làm thƣớc đo sự thay đổi nhận
thức và phải kiên trì thuyết phục trƣớc khi áp dụng biện pháp khác. Ngày nay, vai
trò của biện pháp giáo dục, thuyết phục càng đƣợc coi trọng.

trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những
nhân tố đặc trƣng bản chất sau:
- Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nƣớc mà
cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, phòng giáo dục, ở tầm vi mô là quản lý của
hiệu trƣởng nhà trƣờng.
- Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chƣơng trình kế
hoạch thống nhất từ trung ƣơng đến địa phƣơng nhằm thực hiện mục đích giáo
dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội phải có một lực lƣợng đông đảo
những ngƣời làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất tƣơng
ứng.
- Quản lý giáo dục có tính xã hội cao. Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt
các vấn đề xã hội: Kinh tế, Chính trị, Văn hoá, An ninh quốc phòng phục vụ công
tác giáo dục.
- Nhà trƣờng là đối tƣợng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong
đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tƣợng quản lý quan trọng nhất.
1.2.3. Quản lý nhà trường
1.2.3.1. Trường học
Trƣờng học là một tổ chức giáo dục ở cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục
quốc dân. Trong nhà trƣờng hoạt động trung tâm là hoạt động dạy và học, tất cả
17


các hoạt động đa dạng khác đều hƣớng tới làm tăng hiệu quả của quá trình dạy và
học. Vì vậy quản lý trƣờng học nói chung và quản lý trƣờng THCS nói riêng theo
tác giả Phạm Thị Tuyết Oanh có bản chất là: “Quản lý hoạt động dạy – học, tức là
làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến
đến mục tiêu giáo dục” [32; Tr.35]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó
diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố

lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục
với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [17; Tr.561].
Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trƣờng là quản lý hoạt động dạy
học, tức là làm sao đƣa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần
tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo.
Quản lý nhà trƣờng là một hoạt động đƣợc thực hiện trên cơ sở những quy luật
chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó. Quản lý nhà
trƣờng khác với các loại quản lý xã hội khác, đƣợc quy định bởi bản chất hoạt động
sƣ phạm của ngƣời giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi
thành viên của nhà trƣờng vừa là đối tƣợng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản
thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trƣờng là nhân cách của ngƣời học đƣợc hình
thành trong quá trình học tập, tu dƣỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và đƣợc
xã hội thừa nhận.
Quản lý nhà trƣờng là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân
cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả. Thành công hay thất bại của
nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trƣờng phụ thuộc rất lớn vào
điều kiện cụ thể của nhà trƣờng. Vì vậy muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục
ngƣời quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trƣờng, phải trú trọng
tới việc cải tiến công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong
nhà trƣờng.
1.2.4. Hoạt động dạy học
1.2.4.1. Dạy học
Nhiều tác giả cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển
các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt đƣợc
hoặc cộng đồng đã đạt đƣợc vào bên trong một con ngƣời” [11], [22],.... Quan
niệm này lý giải đầy đủ cách mà nền giáo dục đang cố gắng đào tạo những con
ngƣời thích ứng với những nhu cầu hiện tại của xã hội. Tuy nhiên quan niệm này
19



20


phiên bản mới với nhiều tính năng mới, vv... con ngƣời phải có khả năng thích ứng
liên tục và nhanh chóng - chẳng những về tri thức mà còn về kỹ năng - với một tốc
độ cực cao. Nếu cuộc cách mạng kỹ thuật của thế kỉ trƣớc đã nối dài "cách tay"
con ngƣời thì nay cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã bố trí thêm cho mỗi con
ngƣời vô số "bộ óc" bên ngoài cơ thể. "Cách tay" của con ngƣời trong thế kỉ trƣớc
cần đƣợc đào tạo để chế tạo và điều khiển những "cách tay" máy thì trong thời đại
hôm nay "bộ óc" con ngƣời cần đƣợc đào tạo để chế tạo và điều khiển những "bộ
óc" máy. Nhƣng con ngƣời là con ngƣời! Những kiểu tâm trạng và kiểu cảm xúc
của nó nói chung là bất biến đối với thay đổi kỹ thuật. Những vấn đề cốt lõi của
con ngƣời về hạnh phúc, về sự sống, về cái chết, về chiến tranh và hòa bình, về khả
năng sống hòa hợp trong không gian các giá trị văn hóa của cộng đồng .v.v. hầu
nhƣ không hề tay đổi! Và nó cũng phải đƣợc đào tạo để thích ứng với điều đó!
Vậy có lẽ hợp lý hơn nếu cho rằng:
“Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định
hƣớng giúp ngƣời học từng bƣớc có năng lực tƣ duy và năng lực hành động với
mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn
hóa mà nhân loại đã đạt đƣợc để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết đƣợc các bài
toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi ngƣời học”
1.2.4.2. Hoạt động dạy học
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo "Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền
đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ đƣợc, nhằm biến kiến thức,
kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân" [2; Tr.78].
Hoạt động dạy học giúp ngƣời học lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển
nhân cách của ngƣời học. Vai trò chủ đạo của hoạt động đƣợc biểu hiện với ý
nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của ngƣời học, giúp ngƣời học nắm
đƣợc kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ.
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác

- Một là phải xây dựng kế hoạch năm học
- Hai là phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động trong nhà trƣờng
- Ba là việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu, chƣơng trình dạy học
- Bốn là chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy học
- Năm là chỉ đạo các hoạt động bồi dƣỡng năng lực sƣ phạm cho giáo viên
22


- Sáu là sự kết hợp giữa giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, các tổ chức
Đoàn thể, Hội cha mẹ học sinh góp phần phối hợp hƣớng dẫn hoạt động học tập
của học sinh
- Bảy là chỉ đạo việc đổi mới phƣơng pháp dạy học
- Tám là chỉ đạo hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và kế hoạch
thực hiện nhiệm vụ năm học.
1.3. Hoạt động dạy học môn Toán ở trƣờng THCS
1.3.1. Vị trí, vai trò môn Toán trong nhà trường phổ thông nói chung và trường
THCS nói riêng
Môn Toán là một môn khoa học tự nhiên, là một môn học chiếm vị trí đặc biệt
quan trọng và không thể thiếu trong chƣơng trình giáo dục phổ thông. Điều này
xuất phát từ đặc trƣng của môn Toán đó là tính trừu tƣợng cao và tính thực tiễn
phổ thông đồng thời có tính logic chặt chẽ và tính thực nghiệm.
Môn Toán có vai trò, vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng trong nhà trƣờng phổ
thông nói riêng và trƣờng THCS nói riêng bởi những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, môn Toán có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung
giáo dục phổ thông, góp phần phát triển nhân cách ngƣời học. Cùng với việc giúp
cho học sinh hình thành những tri thức và kĩ năng rèn luyện tƣ duy khoa học cơ
bản thì môn Toán có tác dụng góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung nhƣ phân
tích, tổng hợp, trừu tƣợng hóa, khái quát hóa..., rèn luyện phẩm chất, những đức
tính của ngƣời lao động nhƣ óc thẩm mỹ và tính phê phán, tính chính xác, tính
sáng tạo, tính kỉ luật... Đây là những đức tính, phẩm chất rất cần thiết của ngƣời

học, biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học thƣờng xuyên.
Tất cả các mục tiêu trên tạo cơ sở để học sinh tiếp tục học lên các trƣờng cao
đẳng, đại học, THCN, các trƣờng nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động với những
yêu cầu cụ thể cần đạt đƣợc về các mặt tri thức và kĩ năng, tƣ duy và thái độ.
Luật Giáo dục nƣớc ta cũng quy định mục tiêu, giáo dục cụ thể cho cấp học
THCS nhƣ sau:
“Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu
biết ban đầu về kỹ thuật và hƣớng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.” (Luật Giáo dục 2009,
chƣơng II, điều 27, mục 3), [37; Tr20].
24


Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục, yêu cầu cụ thể đối với cấp học THCS, từ
đặc điểm, vai trò, vị trí và ý nghĩa của môn Toán trong nhà trƣờng phổ thông thì
môn Toán ở trƣờng THCS phải thực hiện đƣợc các mục tiêu cụ thể sau đây:
Một là cung cấp cho học sinh những kiến thức, phƣơng pháp Toán học phổ
thông cơ bản, thiết thực, cụ thể là:
- Những kiến thức mở đầu về số (số tự nhiên đến số thực), về các biểu thức đại
số, về phƣơng trình bậc nhất, bậc hai, về hệ phƣơng trình, bất phƣơng trình, tƣơng
quan hàm số và vẽ đƣợc một vài đồ thị hàm số bậc nhất, bậc hai dạng đơn giản
- Một số hiểu biết ban đầu về thống kê mô tả
- Những kiến thức mở đầu về hình học phẳng, quan hệ bằng nhau và đồng
dạng của các tam giác. Một số yếu tố về lƣợng giác và một số vật thể trong không
gian
- Những hiểu biết ban đầu về một số phƣơng pháp Toán học: Dự đoán và
chứng minh, quy nạp và suy diễn, phân tích và tổng hợp,...
Hai là hình thành và rèn luyện các kĩ năng: Tính toán và sử dụng bảng số, máy
tính bỏ túi; thực hiện các phép biến đổi các biểu thức đại số; giải đƣợc phƣơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status