Hoàn thiện công tác đào tạo công nhân kỹ thuật tại Công ty cổ phần Lilama Hà Nội - Pdf 31

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Nguồn nhân lực là vốn quan trọng trong bất kì tổ chức nào, chất lượng
nguồn nhân lực chính là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường, do vậy cần thiết phải có một đội ngũ lao động trình độ chuyên môn
cao, giỏi, thạo việc để doanh nghiệp có thể phát triển vững mạnh
Công nhân kỹ thuật (CNKT) chiếm một vị trí to lớn trong doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh, đây là bộ phận lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm, chất
lượng sản phẩm tuỳ thuộc vào tay nghề và ý thức làm việc của họ. Xã hội
ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hoá, máy móc được trang bị
ngày càng hiện đại. Công nhân kỹ thuật phải có đủ trình độ để vận hành quá
trình sản xuất, là bộ phận lao động chính tạo chỗ đứng cho doanh nghiệp trên
thị trường.
Việc học tập, nâng cao trình độ kỹ thuật cho công nhân là một nhu cầu
bức thiết của nhiệm vụ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, tạo đà hội nhập
kinh tế quốc tế. Nhận thức được ý nghĩa quan trọng đó nên Đảng uỷ, Công
đoàn và Đoàn thanh niên công ty trong nhiều nhà máy xí nghiệp, công trường,
cơ quan đã thực hiện được tốt công tác này, tạo điều kiện cho mỗi nhà máy là
một trường học kỹ thuật cho công nhân. Tuy nhiên, công tác đào tạo CNKT
trong một số nhà máy vẫn chưa được coi trọng, hay có được đề cập đến song
cũng còn có nhiều thiếu sót hoặc về mặt này, hoặc về mặt khác cho nên hàng
năm số CNKT được đào tạo còn rất ít, không đáp ứng đủ nhu cầu của công
tác chuyên môn đòi hỏi.
Sau thời gian nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất
kinh doanh nói chung và thực hiện công tác đào tạo CNKT nói riêng của
Công ty cổ phần Lilama Hà Nội thuộc Tổng công ty lắp máy Việt Nam, em
nhận thấy đào tạo luôn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của
công ty, vì vậy đòi hỏi mỗi công ty phải xây dựng cho mình một chương trình
đào tạo hoàn thiện, đem lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học, công nghệ, thực hiện tái sản xuất mở rộng, cơ cấu tổ chức
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44

ty cổ phần Lilama Hà Nội
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO CNKT
I. CNKT và vai trò của CNKT trong quá trình phát triển doanh
nghiệp
1. Khái niệm CNKT
Trong thực tế thuật ngữ “lao động kỹ thuật” được dùng khá phổ biến
với quan niệm rất khác nhau, tùy mục đích nghiên cứu các tác giả đưa ra khái
niệm song các khái niệm đó không mang tính toàn diện và cho đến nay vẫn
chưa có một khái niệm thống nhất về lao động kỹ thuật
Đề án nghiên cứu tổng thể về giáo dục – đào tạo và phân tích nguồn
nhân lực Việt Nam (VIE/89/2002) do UNESCO, UNDP và Bộ giáo dục đào
tạo thực hiện đã đưa ra khái niệm “lao động kỹ thuật là lao động qua đào tạo
được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục
quốc dân thống nhất”.
Như vậy, lao động kỹ thuật xét về tính chất lao động gồm hai loại:
- Lao động mang tính chất thực hành
- Lao động chuyên môn (quản lý, nghiên cứu và chuyên gia) mang tính
chất hàn lâm
Trong phạm vi bài viết chỉ nghiên cứu lao động kỹ thuật theo nghĩa hẹp
là loại lao động được đào tạo theo hướng kỹ thuật thực hành. Đó là loại lao
động được đào tạo, được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong
hệ thống giáo dục nghề nghiệp quốc dân thống nhất đáp ứng yêu cầu của thị
trường lao động và có năng lực thực hiện những công việc phức tạp phù hợp
với ngành nghề ở các cấp trình độ khác nhau tạo ra sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44


1
Giáo trình Phân tích lao động xã hội – PGS.TS Trần Xuân Cầu, Tr174
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trình độ lành nghề của công nhân trước hết phụ thuộc vào thời gian
đào tạo. Đối với các công việc phức tạp, đòi hỏi trình độ cao, thời gian đào
tạo dài và ngược lại
Mỗi người công nhân đều có một bậc thợ nhất định trong một khoảng
thời gian phù hợp với trình độ lành nghề của mình trong tiêu chuẩn cấp bậc
kỹ thuật. Doanh nghiệp sẽ căn cứ vào bản tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật để tổ
chức bồi dưỡng kiến thức và tay nghề, thi nâng bậc cho công nhân, bố trí, sắp
xếp lao động phù hợp và hiệu quả nhất
Sự phân chia CNKT theo cấp bậc công nhân trong nhiều doanh nghiệp
chỉ thể hiện quá trình tích luỹ kinh nghiệm nên đôi khi không đồng nhất với
cách phân chia theo trình độ
2.2. Phân loại CNKT theo ngành nghề
Có rất nhiều ngành nghề khác nhau, tùy vào những đặc điểm sản xuất
kinh doanh, tính chất nghề nghiệp của mỗi doanh nghiệp sẽ xác định loại
ngành nghề CNKT. Ví dụ một số nghề như:
- Ngành công nghiệp cơ khí bao gồm:
+ CNKT hàn điện, hàn hơi
+ CNKT bào
+ CNKT phay
+ CNKT tiện
+ CNKT khoan….
- Ngành công nghiệp xây dựng bao gồm:
+ CNKT lái ủi, xúc, cẩu
+ CNKT mộc, mầu

mà còn cả giá cả. Giá thành thấp đồng nghĩa với tiết kiệm nguyên vật liệu và
thực hiện tăng năng suất lao động. Nguyên vật liệu là tư bản bất biến nên
trong nhiều trường hợp không thể tiết kiệm và cái doanh nghiệp lựa chọn để
hạ giá thành sản phẩm là tăng năng suất của lao động trực tiếp thông qua hoạt
động nâng cao trình độ, tay nghề, ý thức làm việc
CNKT luôn chiếm vị trí lớn trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất
nên chi phí tiền lương cho lực lượng này khá nhiều, nếu quản lý tốt sẽ đem lại
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rất nhiều lợi ích. Mặt khác CNKT có ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm sản
xuất của doanh nghiệp nên nếu có một đội ngũ công nhân lành nghề thì doanh
nghiệp sẽ không phải mất những chi phí không đáng có như kiện tụng của
khách hàng về chất lượng sản phẩm
II. Đào tạo công nhân kỹ thuật
1. Khái niệm đào tạo CNKT
Đào tạo và phát triển là các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, là điều kiện quyết định sự tồn tại của các tổ chức và
tạo thế cạnh tranh trên thị trường
Đào tạo CNKT được hiểu là hoạt động huấn luyện công nhân nhằm
giúp cho công nhân nắm được các kiến thức, kỹ năng để có thể thực hiện hiệu
quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đào tạo sẽ tạo nền tảng căn bản về
kỹ năng nghề nghiệp, nó hướng vào cái cụ thể, hiện tại đang cần được thực
hiện ngay.
Bồi dưỡng tay nghề và nâng cao bậc thợ cho công nhân là các hoạt
động đào tạo công nhân vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của công
nhân, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên yêu cầu của kỹ thuật
công nghệ sản xuất sản phẩm và những định hướng tương lai của tổ chức.
Nếu đối tượng của đào tạo chỉ là những công nhân thì bồi dưỡng nâng cao tay
nghề hướng vào tổ chức và mang tính chất dài hạn.

thuật cũng như có khả năng vận hành, bảo dưỡng một số máy móc thiết bị
liên quan. Không những thế người CNKT còn có thêm hiểu biết về sản phẩm
của mình và góp phần sáng tạo làm cho sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn,
thành thạo các thao tác và phối hợp chúng sao cho hợp lý và hiệu quả, đảm
bảo an toàn lao động
Đào tạo CNKT phải thích hợp và đón trước trình độ trang bị kỹ thuật,
trình độ cơ giới hoá, tự động hoá trong sản xuất kinh doanh
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Mục tiêu và vai trò của đào tạo CNKT
2.1. Mục tiêu của đào tạo CNKT
Khi doanh nghiệp đưa vào sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại, có thể
một số nghề cũ không còn phù hợp nữa, nếu không được đào tạo thì tất yếu số
CNKT này sẽ trở thành lực lượng thất nghiệp, gây ảnh hưởng đến xã hội. Mặt
khác, sau khi đào tạo sẽ đảm bảo người công nhân đó có thể thực hiện chức
năng, nhiệm vụ một cách tự giác, thực hiện công việc tốt hơn và có những am
hiểu nhất định về công việc của họ, tăng sự hợp tác tự nguyện giữa người lao
động và quản lý. Đào tạo sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được khoản chi phí
tuyển dụng mới, thời gian người lao động làm quen với dây chuyền sản xuất.
Đào tạo CNKT có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, có ý thức kỷ luật,
tác phong công nghiệp đẩy tiến độ thi công, tạo phong trào thi đua sản xuất,
sự hiệp tác giữa các nhóm, cá nhân với nhau, xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Người lao động làm chủ dây chuyền sản xuất, chủ động giải quyết sự cố xẩy
ra, giảm tai nạn lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, góp phần nâng cao
thành tích của tổ chức, tăng lợi nhuận và mở rộng thị trường, tạo lợi thế cạnh
tranh cho doanh nghiệp. Hơn nữa, đào tạo CNKT sẽ nâng cao khả năng tự
giám sát nên hạn chế sự giám sát của người quản lý từ đó tiết kiệm được chi
phí sản xuất, tạo điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật quản lý vào
doanh nghiệp, duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

càng trở nên quan trọng trong sự phát triển kinh tế, nhất là trong điều kiện
công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH – HĐH) đất nước và chuyển đổi nền
kinh tế.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo CNKT
3.1. Nhân tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Nước ta đang tiến hành quá trình CNH – HĐH nhằm thúc đẩy kinh tế
phát triển nhanh, theo kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Do vậy công tác
đào tạo CNKT được nhà nước quan tâm rất nhiều vì để vận hành các thiết bị
hiện đại nhân tố không thể thiếu được là con người và điều quan trọng là để
làm sao có thể điều khiển và sử dụng được chúng. Đào tạo CNKT sẽ tạo ra
lực lượng lao động có trình độ chuyên môn. Mặt khác, hiện tượng “thừa thầy,
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thiếu thợ” vẫn đang diễn ra khá phổ biến, tỷ lệ đại học, cao đẳng : trung học
chuyên nghiệp : công nhân kỹ thuật của nước ta là 1 : 1,4 : 2,7 chênh lệch khá
lớn so với mức chuẩn để so sánh là 1:4:10 thể hiện sự bất hợp lý trong khâu
đào tạo. Nhà nước đã có nhiều phương pháp khuyến khích cũng như đầu tư
trang thiết bị vào công tác dạy nghề, đào tạo CNKT nhằm cân bằng tỷ lệ trên
cũng như tránh lãng phí khi đào tạo ra quá nhiều bậc đại học, cao đẳng chỉ có
lý thuyết, trình độ quản lý mà không thể vận dụng kiến thức vào thực tế. Nếu
so sánh hiệu quả làm việc thì một người kĩ sư chưa chắc tạo ra nhiều bằng
người công nhân. Nhận thức được điều đó, một số năm trở lại đây đào tạo
CNKT, đào tạo nghề đã được thực hiện ở khắp nơi trong cả nước với đủ loại
hình tạo cơ hội tham gia cho những người có nhu cầu.
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã dẫn đến sự thay đổi các công cụ lao động
và đối tượng lao động, thay đổi quy trình công nghệ, phương tiện làm việc và
cách thức làm việc của con người để có thể làm chủ quá trình sản xuất, vận
hành máy móc thiết bị. Với công nghệ mới hiện đại, chu kỳ sản xuất càng rút
ngắn, thao tác của người lao động đòi hỏi phải càng chính xác, đồng thời với

là những bộ phận quản lý và bán hàng
Các doanh nghiệp nhỏ thường hạn hẹp về vốn, công nghệ sản xuất và
sản phẩm chậm được đổi mới, cải tiến nên ít có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
người lao động. Mặt khác, trong doanh nghiệp nhỏ thường ít có sự thay đổi
nghề nghiệp của người lao động trong nội bộ doanh nghiệp do phạm vi hạn
hẹp về số lượng nghề, chuyên môn - kỹ thuật, số lượng chỗ làm việc. Bên
cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp nói chung cũng như dành
cho công tác đào tạo nói riêng ảnh hưởng rất nhiều đến công tác đào tạo
CNKT. Máy móc, thiết bị là nhân tố để xác định những nội dung, kiến thức
cần đào tạo, bổ sung. Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy có vị trí quan trọng bởi vì đó chính là cầu nối
giữa khoa học giáo dục và thực tiễn sản xuất, là yếu tố căn bản tạo nên môi
trường tiếp cận dần đến sản xuất, giúp học viên có cái nhìn trực quan hơn về
nghề nghiệp mình đang theo học. Trang thiết bị giảng dạy là một trong những
yếu tố quyết định hình thành kỹ năng thực hành nghề, có ảnh hưởng trực tiếp
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tới quá trình hình thành và phát triển kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của học
viên, quyết định tính chất công nghệ sản xuất, chất lượng bài tập của học
viên. Cơ sở vật chất dành cho đào tạo cũng là thể hiện sự quan tâm của lãnh
đạo tổ chức đối với hoạt động này, đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Lực lượng lao động trong doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao
động làm việc cho doanh nghiệp đó, lực lượng lao động được xem xét theo
quy mô (tức số lượng) và cơ cấu, thông qua đó chất lượng lao động được
phản ánh. Số lượng và chất lượng lao động hiện tại của doanh nghiệp sẽ quyết
định nhu cầu đào tạo. Nếu số lượng lao động lớn doanh nghiệp sẽ đầu tư, tự tổ
chức đào tạo để tiết kiệm chi phí còn doanh nghiệp có quy mô lao động nhỏ
sẽ chọn giải pháp gửi đi học ở các trung tâm hoặc doanh nghiệp khác. Bên
cạnh đó, chất lượng lao động cao, khả năng thích ứng với công cụ lao động

theo yêu cầu và thực tế mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp đào
tạo thích hợp. Sau đây là một số phương pháp đang áp dụng trong các doanh
nghiệp hiện nay
4.1. Đào tạo tại các trường dạy nghề chính quy, trung tâm dạy nghề tại
doanh nghiệp
Đối với phương pháp đào tạo này, các doanh nghiệp sẽ cử công nhân
đến học tập ở các trường dạy nghề đáp ứng nhu cầu cho doanh nghiệp. Các
trường chính quy thông thường trực thuộc ngành thương binh – xã hội, ngành
giáo dục và các Bộ ngành liên quan
Ưu điểm của phương pháp này là: việc tiếp thu sẽ nhanh chóng và dễ
dàng hơn, thuận lợi trong việc tiếp cận những vấn đề mới, chủ động giải quyết
công việc.
Nhược điểm: thời gian và chi phí đào tạo là khá lớn nên các doanh
nghiệp chỉ áp dụng khi ngành nghề đó khá mới mẻ và phải đào tạo mới và
được sử dụng phổ biến ở các doanh nghiệp có mối quan hệ hợp tác mang tính
chất dài hạn với các cơ sở đào tạo.
Một số doanh nghiệp có quy mô lớn có hẳn trung tâm dạy nghề đào tạo
công nhân không những đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp mà còn có thể đào
tạo công nhân cho các doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc có tính chất nghề
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp tương tự. Đối tượng đào tạo chủ yếu là công nhân mới vào nghề hoặc
đào tạo trình độ cao khi các doanh nghiệp áp dụng những nghề tương đối
phức tạp hoặc công việc có tính đặc thù
Ưu điểm: doanh nghiệp mở các trung tâm dạy nghề thì có bộ máy quản
lý gọn nhẹ, chỉ gói gọn trong doanh nghiệp, tận dụng được về mặt quy mô
nên có thể giải quyết được nhu cầu cấp bách về lao động, chi phí đào tạo thấp
so với cử người đi học ở các trường chính quy,
Nhược điểm: chỉ được áp dụng trong các doanh nghiệp lớn có phương

hưởng bởi người hướng dẫn kể cả đặc điểm tích cực và tiêu cực, kiến thức lý
luận không được bài bản, không hệ thống. Người hướng dẫn đôi khi không có
kiến thức sư phạm nên sự truyền đạt không hiệu quả nên chỉ áp dụng đào tạo
cho những công nhân có trình độ không cao.
Đối với phương pháp đào tạo này được các doanh nghiệp thường xuyên
sử dụng trong quá trình sản xuất thông qua hoạt động trao đổi kinh nghiệm
giữa người lao động với nhau. Tuỳ từng trường hợp, nội dung, kiến thức có
được sau khi kèm cặp mà doanh nghiệp sẽ quyết định cấp chứng chỉ hay
không.
Các doanh nghiệp cần lựa chọn phương pháp đào tạo phù hợp với nhu
cầu, trình độ công nhân và khả năng tài chính
III. Tiến trình đào tạo CNKT
Khi xuất hiện các hiện tượng như chất lượng sản phẩm giảm sút, doanh
số giảm, công nghệ hoặc phương thức sản xuất thay đổi, khi doanh nghiệp có
kế hoạch và chiến lược sản xuất mở rộng, chúng ta cần xem xét và tìm ra
nguyên nhân và đề ra biện pháp. Nếu nguyên nhân thuộc về máy móc thiết bị
thì cần phải sửa chữa, bảo dưỡng hoặc nhập mới. Nếu nguyên nhân xuất phát
từ phía người lao động trực tiếp thì cần tiến hành xây dựng một chương trình
đào tạo để bổ sung kiến thức và kỹ năng. Trình tự xây dựng một chương trình
đào tạo được khái quát như sau:
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1. Xác định nhu cầu đào tạo CNKT
1.1. Nhu cầu đào tạo CNKT
Xác định nhu cầu đào tạo CNKT là việc xác định loại công nhân cần
đào tạo? thuộc bộ phận nào? những kỹ năng, thao tác nào cần đào tạo? và khi
nào sẽ tiến hành đào tạo? với số lượng là bao nhiêu?
Để xác định nhu cầu đào tạo CNKT cần tiến hành phân tích tổ chức,
phân tích tác nghiệp và phân tích CNKT.

một chương trình đào tạo, làm giảm sự thiếu hụt về lao động, là một trong
những nhân tố quyết định hiệu quả đào tạo nên khi xác định nhu cầu đào tạo
CNKT cần phải kết hợp phân tích tổ chức, phân tích tác nghiệp và phân tích
người công nhân sao cho nhu cầu của công ty trùng khớp với nhu cầu của cá
nhân người lao động
Các phương pháp xác định nhu cầu CNKT cần đào tạo hầu hết là dựa
trên cơ sở số lao động cần bổ sung qua một số công thức sau:
 Dựa vào lượng lao động hao phí
Σt
i
* q
i
N
ct
=
T
n
* k
m
Trong đó:
N
ct
: số lượng CNKT cần thiết kì sau
q
i
: lượng sản phẩm i
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
t

W: năng suất lao động (thường dựa vào kì trước)
 Tính theo chỉ số
N
hc
* I
m
* I
c
N
ct
=
Iw
Trong đó
N
hc
: là số công nhân hiện có
I
m
: chỉ số máy móc
I
c
: chỉ số ca làm việc
Iw: chỉ số năng suất lao động
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Số máy móc kì kế hoạch
(Các chỉ số tính theo I
m
=

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục tiêu đào tạo cần dựa vào mục tiêu chung của doanh nghiệp đáp
ứng được nhu cầu chung của nhiệm vụ chuyên môn đồng thời phải thích hợp
với tình hình và nhiệm vụ cụ thể của doanh nghiệp. Mục tiêu đào tạo phải cụ
thể rõ ràng và gắn với nhu cầu đào tạo, nó chính là cơ sở để đánh giá kết quả
cuối khoá đào tạo
Căn cứ để xác định mục tiêu đào tạo là các văn bản, quy định hiện hành
của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo CNKT, tiêu chuẩn CNKT, yêu cầu
của đơn vị
3. Xác định đối tượng đào tạo
Do nhu cầu được đào tạo luôn lớn hơn số lượng thực tế được đem đi
đào tạo nên cần phải xác định thứ tự ưu tiên đối tượng đào tạo
Lựa chọn đối tượng đào tạo dựa trên tác dụng của chương trình với việc
thay đổi kỹ năng, thao tác, ý thức của công nhân cũng như động cơ của người
học và thường dựa vào hồ sơ nhân sự, kết quả thực hiện công việc qua các kì
đào tạo.
Xác định đối tượng đào tạo phải phù hợp với khả năng dành cho đào
tạo của doanh nghiệp, chiến lược sản xuất kinh doanh, mục tiêu đào tạo, nhu
cầu, khả năng của người lao động tham gia đào tạo.
4. Xây dựng nội dung chương trình đào tạo và lựa chọn phương pháp
đào tạo
Dựa vào đặc điểm ngành nghề cần đào tạo, mục tiêu đào tạo và khả
năng của doanh nghiệp dành cho việc đào tạo, cơ hội tham gia đào tạo để xác
định chương trình đào tạo như: nội dung, kỹ năng cần đào tạo, thao tác nào
cần đào tạo sâu, kỹ, thao tác nào chỉ làm nền tảng. Chương trình còn nêu rõ
trình độ cung cấp, nội dung đào tạo, cũng như thời gian dành cho một nội
dung
Phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với loại hình công nhân, phù
hợp với chương trình đào tạo và khả năng của doanh nghiệp. Đồng thời cần
phải dựa vào đánh giá kết quả đào tạo của những đợt đào tạo trước để điều

SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Chi phí cơ hội: “Chi phí cơ hội của một thứ là cái mà bạn phải từ bỏ để
có được nó”
2
. Chi phí cơ hội của đào tạo là thời gian, sản phẩm của CNKT và
giáo viên phụ trách giảng dạy, ảnh hưởng của việc người tham gia đào tạo tới
quá trình sản xuất.
- Chi phí thực tế bao gồm chi phí cho nhà trường, chi phí cho người dậy
(tiền lương, phụ cấp), chi phí cho người học (học bổng, học phí, phụ cấp), chi
phí cho phương tiện dạy và học (nhà xưởng, phương tiện đào tạo, giáo trình,
phòng học, thiết bị thực hành…), chi phí quản lý và chi phí khác để duy trì
lớp học.
Tuỳ thuộc loại hình và ngành nghề mà chi phí đào tạo được chia cho
các bộ phận theo các trường hợp sau:
+ chi phí đào tạo bao gồm cả ba bộ phận: chi phí cá nhân, chi phí của
doanh nghiệp và chi phí xã hội. Tuỳ từng chương trình đào tạo chi phí sẽ
được chia theo tỷ lệ nhất định và hợp lý, vẫn tạo động lực tham gia đào tạo
của người lao động, vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế. Chi phí xã hội (trợ cấp)
dành cho những nghề mà xã hội khuyến khích, tạo sự phát triển đồng đều
giữa các ngành.
+ chi phí đào tạo do cá nhân trả toàn bộ khi kiến thức và kỹ năng nghề
có thể được sử dụng rộng rãi, người lao động không phải cam kết làm việc
cho doanh nghiệp sau khi đào tạo (có thể tìm việc ở doanh nghiệp khác)
+ chi phí đào tạo do doanh nghiệp trả toàn bộ khi đó là ngành nghề đặc
trưng của doanh nghiệp, người lao động không thể đi tìm việc ở nơi khác.
Trước khi đào tạo người tham gia phải làm bản cam kết chấp hành sau khóa
học sẽ làm việc tại tổ chức đó trong một thời gian nhất định
7. Đánh giá chương trình đào tạo

Sau khoá đào tạo, tiến hành đánh giá kiến thức, kỹ năng học viên thu
được qua các bài kiểm tra và thi cuối khoá, khả năng sử dụng máy móc thiết
bị
SVTH. Nguyễn Thị Minh Hải Lớp Kinh tế lao động 44
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
7.4. Đánh giá hiệu quả đào tạo
Đánh giá hiệu quả của chương trình thông qua so sánh chi phí và lợi
ích của chương trình mang lại, nếu chi phí đào tạo ít, năng suất lao động cao,
thu nhập thuần tuý nhiều thì hiệu quả kinh tế lớn.
Hiệu quả đào tạo còn thông qua mức độ phù hợp giữa chương trình, nội
dung, phương pháp, phương pháp đào tạo với trình độ của học viên, với công
việc họ đảm nhận sau đào tạo, với dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp.
Kiến thức đào tạo được áp dụng vào thực tế nhiều hay không?
Người phụ trách công tác đào tạo có trách nhiệm phân tích tác động của
đào tạo tới việc tăng năng suất lao động, doanh thu, tới vị trí của doanh
nghiệp trên thị trường, chất lượng sản phẩm, ý thức làm việc của công nhân
trước và sau khi đào tạo. Ngoài ra, để đánh hiệu quả công tác đào tạo người ta
còn sử dụng các chỉ tiêu sau:
• Thời gian thu hồi chi phí đào tạo
C
d
T
d
=
M
Trong đó
T
d
: thời gian thu hồi chi phí đào tạo

Trích đoạn Thực hiện kế hoạch đào tạo Kết quả đào tạo CNKT qua một số năm Đánh giá trình độ CNKT so với yêu cầu công việc So sánh chi phí dự tính và chi phí thực hiện Mục tiêu và phương hướng sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời gian
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status