PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, Việt Nam đang diễn ra công cuộc đổi mới sâu sắc trong phạm vi toàn
xã hội. Sự nghiệp giáo dục của nước ta đang được nhận thức một cách sâu sắc và rất
quan trọng là “quốc sách hàng đầu”, được thể hiện rõ ở Nghị quyết Đại hội Đảng lần
thứ VIII và được khẳng định lại ở Đại hội X, Đại hội XI của Đảng. Đảng và Nhà nước
ta đã, đang có những chủ trương, chính sách quan trọng đối với giáo dục để thúc đẩy
nền giáo dục Việt Nam phát triển toàn diện, hiện đại phù hợp với xu thế chung của thế
giới. Do đó giáo dục cần đẩy mạnh hơn công tác xã hội hoá cho mọi người tham gia
học tập, hoàn thành phổ cập THPT đáp ứng yêu cầu mới của xã hội nhằm góp phần
xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiến lên xây dựng xã hội
chủ nghĩa của nước ta.
Trong văn kiện Hội nghị lần II Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
khẳng định rằng: Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát
triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự
phát triển nhanh và bền vững, để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh. Phát triển nguồn lực con người là phát triển đức và tài.
Trong điều kiện đời sống hiện nay, xã hội có những bước chuyển biến không
ngừng, sâu rộng và to lớn về mọi mặt. Tuy nhiên với sự phát trển của nền kinh tế thị
trường đã có những mặt trái của nó; mặt trái của cơ chế thị trường đang tác động rất
mạnh đến tư tưởng và lối sống của một bộ phận nhân dân. Trong đó sự tác động đối
với thanh niên, thiếu niên là rất lớn, các tệ nạn xã hội đang xâm nhập vào các trường
học. Qua những năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, chúng ta đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội. Tuy vậy, về mặt học tập của một bộ phận
thanh niên, thiếu niên và các bậc phụ huynh vẫn chưa xác định rõ, còn xem nhẹ. Đặc
biệt là thế hệ trẻ, một số bộ phận học sinh sống không có lí tưởng, không có mục đích,
sống thực dụng chạy theo các nhu cầu tầm thường, ngại cống hiến, ngại khó khăn, sống
thích hưởng thụ, sống không có niềm tin, hoang mang, sống buông thả dẫn đến lười
biếng trong học tập nên xếp loại yếu kém để rồi lưu ban, bỏ học. Trước tình hình và
thực trạng này, trong những năm qua đã được các cấp các ngành, đặc biệt là ngành
giáo dục đã quan tâm, đầu tư giáo dục toàn diện, nhưng vấn đề này có những nơi còn
yếu kém, lưu ban và bỏ học.
Cùng chung tình hình của ngành giáo dục, tình trạng học sinh yếu kém, học sinh
yếu kém, lưu ban và bỏ học ở trường THPT Vinh Xuân cũng diễn ra khá phức tạp.
Trường THPT Vinh Xuân thành lập và phát triển trong bảy năm, nằm trên vùng ven
biển đầm phá huyện Phú Vang, nằm trong vùng các xã bãi ngang có kinh tế đặc biệt
khó khăn; đời sống nhân dân đa số còn có nhiều khó khăn nên hiện tượng học sinh yếu
kém, lưu ban bỏ học vẫn có tỉ lệ cao trở thành một vấn đề quan tâm đặc biệt của Chi
bộ, Ban Giám hiệu, các tổ chức đoàn thể của trường THPT Vinh Xuân, đồng thời đã đã
triển khai thực hiện nhiều biện pháp để ngăn chặn và hạn chế học sinh yếu kém, lưu
ban, bỏ học để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
Đối với trường THPT Vinh Xuân từ khi mới thành lập mặc dù còn nhiều khó
khăn nhưng qua từng năm học đã có nhiều tiến bộ, đạt được nhiều kết quả đáng khích
lệ trong giáo dục toàn diện, góp phần ngăn ngừa, hạn chế một bộ phận lớn học sinh lưu
ban, bỏ học. Đó là nhờ vào kết quả của việc tăng cường giáo dục kỷ cương nề nếp
trong hoạt động dạy và học, đặc biệt là sự tận tâm, tận tình của Chi bộ, Ban Giám hiệu
cùng tập thể giáo viên trong nhà trường luôn kịp thời động viên, tạo mọi điều kiện cho
học sinh học tập và đến trường. Bản thân đang là Phó Hiệu trưởng, được nhà trường
phân công quản lí hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục đạo đức tư tưởng cho học sinh,
quản lý hoạt động của Đoàn thanh niên đồng thời qua việc giảng dạy, tôi nhận thấy
công tác tìm hiểu, nghiên cứu những biện pháp ngăn ngừa và hạn chế học sinh yếu
kém dẫn đến lưu ban, bỏ học phải được luôn được coi trọng và có nhiều giải pháp
thích hợp, từ đó làm nền tảng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT
Vinh Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và ở trường THPT nói
chung.
Xuất phát từ những lý do như đã nêu trên, tôi chọn đề tài: Những biện pháp
quản lý nhằm hạn chế học sinh yếu kém, lưu ban và bỏ học ở trường THPT Vinh Xuân,
huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay.
2
khảo sát thực tế, tổng kết thực tế, so sánh, thống kê chất lượng giáo dục trong 7 năm
học 2003-2004; 2004-2005; 2005-2006; 2006-2007; 2007-2008; 2008-2009 và 20092010 của trường THPT Vinh Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
5.3. Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ: Bảng biểu, thống kê, điều tra xử lý
số liệu.
5.4. Từ những phương pháp trên, tiến hành phân tích, tổng hợp và khái quát
thành những vấn đề cơ bản trong công tác thực hiện các biện pháp hạn chế học sinh
yếu kém, lưu ban và bỏ học ở trường THPT Vinh Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC THỰC HIỆN NHỮNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HẠN CHẾ HỌC SINH YẾU KÉM,
LƯU BAN, BỎ HỌC CỦA TRƯỜNG THPT VINH XUÂN,
HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1.1. Cơ sở lý luận của việc thực hiện những biện pháp quản lý nhằm hạn
chế học sinh yếu kém, lưu ban và bỏ học của học sinh
Để xác định đúng mục tiêu của việc quản lí giáo dục và quản lí nhằm ngăn ngừa
và hạn chế học sinh yếu kém, lưu ban và bỏ học ở trường THPT chúng ta cần nhận
thức đúng đắn, đầy đủ về đối tượng giáo dục; từ đó người quản lí xác định được nội
dung, phương pháp chính xác, toàn diện để đảm bảo đạt hiệu quả cao trong công tác
giáo dục học sinh. Trước hết, nhà quản lí và giáo viên phải nhận thức rõ cơ sở pháp lí
về vấn đề giáo dục toàn diện cho học sinh THPT.
Xét về góc độ tâm lí lứa tuổi:
Theo tổ chức Y tế thế giới WHO độ tuổi vị thành niên có từ 10 đến 19 tuổi, ở
Việt Nam quy định độ tuổi vị thành niên từ 10 đến 18 tuổi, theo điều tra tỷ lệ thanh
niên ở nước ta năm 2009 chiếm 18,7% dân số, trong đó 83% đang theo học. Như vậy
Chính vì vậy, các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và các tổ chức trong xã hội
phải có trách nhiệm quan tâm sát sao, động viên kịp thời để định hướng, điều chỉnh các
em có những suy nghĩ và hành động đúng, đặc biệt là các học sinh có học lực yếu kém,
bị lưu ban, hoặc bỏ học đi học lại. Để quản lí các hoạt động giáo dục tốt quá trình học
tập và rèn luyện học sinh trong nhà trường THPT, người cán bộ quản lí cần nắm vững
vấn đề cụ thể quá trình học tập và rèn luyện nâng cao chất lượng giáo dục phát triển
toàn diện học sinh có các đặc điểm sau:
- Có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình dạy học trên lớp và dạy học giáo dục
ngoài giờ lên lớp.
- Có định hướng thống nhất các yêu cầu, mục đích giáo dục giữa các tổ chức
giáo dục trong và ngoài nhà trường.
- Tính biện chứng, phức tạp trong quá trình phát triển, biến đổi về nhân cách của
học sinh về mặt ý thức tự giác, không ngừng tự vươn lên trong học tập, tìm tòi, sáng
tạo và rèn luyện để hình thành nhân cách, trí tuệ.
- Tính lâu dài của quá trình hình thành, phát triển tri thức và nhân cách.
- Có sự tương tác hai chiều giữa nhà giáo dục và đối tượng được giáo dục.
1.2. Cơ sở pháp lý của việc thực hiện những biện pháp quản lý nhằm hạn
chế học sinh yếu kém, lưu ban và bỏ học của học sinh
Quá trình giáo dục toàn diện được xác định trong các văn kiện của Đảng, Nhà
nước và của ngành giáo dục:
Trong văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII đã nêu
rõ: Nhiệm vụ mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế
hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong
sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh
hoa văn hoá của nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có
ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và
công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có tính tổ chức kỷ luật cao là những con người
kế thừa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa hồng vừa chuyên.
Quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 đã khẳng định: Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện
lớn nhân dân còn khó khăn . Những năm gần đây huyện Phú Vang được nhà nước và
tỉnh quan tâm đầu tư để thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển , trong đó có việc
đầu tư xây dựng trường lớp ở các xã các còn khó khăn, đặc biệt là xây dựng các trường
phổ thông trung học. Hiện nay, trên địa bàn của huyện Phú Vang có 4 trường THPT và
một trường THCS và THPT.
Trường THPT Vinh Xuân nằm ở xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang , một xã
thuộc diện bãi ngang vùng cát ven biển. Học sinh chủ yếu của trường là con em vùng
dân cư của bốn xã Phú Diên, Vinh Xuân, Vinh Thanh, Vinh An, ngoài ra còn có những
học sinh ở xã khác như: Thuận An, Phú Thuận, Phú Hải, Vinh Hà,Vinh Phú. Đời sống
người dân cơ bản là thu nhập từ nguồn nông nghiệp, ngư nghiệp; chỉ có một bộ
phận học sinh có đời sống khá cao là con em của những gia đình có thân nhân
đi nước ngoài tập trung ở xã Vinh An.
Trường THPT Vinh Xuân được xây dựng năm 2001, lúc này trường là phân
hiệu cấp 3 của trường THCS Vinh Thanh, năm 2003 trường chính thức được thành lập
được mang tên là trường THPT Vinh Xuân. Trường THPT Vinh Xuân là ngôi trường
mới, xây dựng theo dự án trường bán nội trú dành cho vùng đầm phá. Về sau do nhu
cầu giáo dục của vùng bãi ngang ven biển Phú Vang nên được chuyển thành trường
THPT công lập. Khi mới thành lập trường chỉ có 4 lớp với số học sinh khoảng 200 em
và 15 giáo viên giảng dạy ở bậc THPT. Khi tách trường, trường có 18 lớp, 800 học
sinh và 32 giáo viên, 01 cán bộ quản lý. Đến nay trường đã có 28 lớp với số lượng học
sinh là 1269 em và 74 cán bộ, giáo viên và nhân viên.
Sau bảy năm được thành lập, nhà trường đã từng bước phát triển từ cơ sở vật
chất đến các mặt chất lượng dạy học. Ban đầu chỉ là một dãy nhà hai tầng với 14 phòng
học và một khoảng sân rộng toàn cát trắng, không một bóng cây xanh. Đến nay, trường
đã xây dựng một số hạn mục như : nhà hiệu bộ, nhà thi đấu đa chức năng; các phòng
chức năng như : phòng thực hành, thư viện, phòng vi tính ; đã trang bị một số thiết bị
dạy học như: máy tính, máy chiếu, máy projector... để phục vụ cho việc nghiên cứu
giảng dạy và học tập của giáo viên, học sinh; sân trường đã được lát gạch và cây xanh
đã vươn mình phủ bóng tạo nên sự khang trang cho ngôi trường mới ở vùng đầm phá
ven biển.
pháp dạy học...đặc biệt từ khi nhà trường thực hiện nghiêm túc cuộc vận động của
ngành Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, thực hiện
cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó đã thay
đổi nhận thức dạy và học của giáo viên và học sinh; đã đạt được một số kết quả khả
quan.
- Tỷ lệ tốt nghiệp THPT và học đạt giải học sinh giỏi cấp Tỉnh:
Năm học 2003-2004: 81,9% ; 01 giải KK
Năm học 2004-2005: 92,0% ;
Năm học 2005-2006: 72,0%.; 01 giải KK
Năm học 2006-2007: 76,7%;
02 giải ba, 02 giải KK
Năm học 2007-2008: 82,6%;
03 giải KK
Năm học 2008-2009: 89,9%;
01 giải ba, 05 giải KK
Năm học 2009-2010: 97,2% ; 10 giải KK
8
- Tỷ lệ học sinh lớp 12 đỗ vào các trường đại học hằng năm đạt khoảng 20 đến
36%; đỗ cao đẳng 25 – 30%
- Kết quả giáo dục trong 7 năm học như sau:
Năm
học
2003
2004
2004
2005
trườn
g
10
11
12
Toàn
trườn
g
10
11
12
Toàn
trườn
g
10
11
12
Toàn
trườn
g
Hạnh kiểm (%)
Số
lớp
Tốt
Khá
Yếu
Kém
7,3
4,2
0,3
0,5
0,3
0
6,2
4,0
2,2
32,0
30,5
25,5
58,1
49,2
34,4
18,3
14,2
6,7
1,6
0,3
0,5
0
6,0
4,0
2,2
32,0
30,5
25,5
58,6
49,2
34,4
18,5
14,2
6,7
1,6
0,5
0
24
66,2
31,3
0,7
0,5
0
6,5
4,2
2,5
32,8
30,3
26,5
58,1
49,0
34,3
18,0
14,0
6,7
1,6
0,5
0
28
65,5
30,2
0,6
0,5
0
0,5
1,7
0
15,3
17,0
14,6
56,6
55,9
61,3
26,4
25,0
24,0
1,2
0,4
0
28
60,9
31,2
0,3
0,5
0
1,0
1,9
0,5
17,4
18,2
20,5
62,0
59,9
64,3
18,5
19,5
14,7
1,1
0,5
0
28
65,6
32,4
0,2
0,8
0
1,3
1,1
1,2
27,0
25,8
34,3
50,4
57,1
48,4
21,1
15,3
16,1
0,2
0,7
0
28
74,7
23,1
0,7 25,7
2009
12
09
68,1 24,1
2,8
0
0,6
22,3
Toàn
2010 trườn
28
71,3 24,1
4,2
0,4
1,2 26,2
g
- Thực trạng học sinh lưu ban, bỏ học trong các năm học như sau:
49,5
52,8
55,6
18,1
20,1
21,5
0,8
0,7
0
48 (tỉ lệ 4,7%)
2005 -2006
1225
20 (tỉ lệ 1,6%)
53 (tỉ lệ 4,4%)
2006 - 2007
1217
19 (tỉ lệ 1,6%)
52 (tỉ lệ 4,3%)
2007 - 2008
1172
18 (tỉ lệ 1,5%)
32 (tỉ lệ 2,7%)
2008 - 2009
1160
lưu ban; có hạnh kiểm trung bình, yếu; sau khi thi lại, rèn luyện lại được xét tốt nghiệp
THCS vẫn được vào học lớp 10 của trường. Do đó có nhiều học sinh bị mất kiến thức
cơ bản từ cấp THCS vì cấp học này không thi tốt nghiệp, nên học sinh xem nhẹ việc
10
học hoặc không có phương pháp học tập phù hợp nên khi lên học ở bậc THPT các em
không theo kịp chương trình, nên chán nản, lại không cố gắng nên học tập yếu kém,
một số em lưu ban hoặc bỏ học.
Do cha mẹ lo làm ăn, đi làm ăn ở các tỉnh xa, ở nước ngoài thiếu quan tâm đối
với con cái, các em đã tự ý bỏ học nhưng gia đình không biết; số em khác thì lười học,
học vẹt, hay quay cóp trong kiểm tra, thi cử, kiến thức không vững dẫn đến chán nản,
bỏ học; số khác thì sa đà vào các trò chơi điện tử, internet. Sau khi kiểm tra học kỳ 1 là
thời điểm gần giáp Tết nguyên đán, học sinh có tư tưởng xả hơi, kỷ luật nhà trường có
phần lơi lỏng, thêm vào đó việc nghỉ Tết dài ngày, vui chơi thỏa thích, xa rời sách vở,
đến lúc đi học lại thì ngại hoặc kiến thức đã rơi rụng khiến học sinh đuối dần, không
theo kịp các bạn nên chán chường bỏ học. Một số học sinh có người thân đi làm ăn ở
các tỉnh xa như: Thành phố Hồ Chí Minh, Kon Tum, Đăk Lăk, Hà Tỉnh, Nghệ An,
Lào…về quê ăn Tết rủ rê, lôi kéo học sinh nghỉ học đi làm.
Một số học sinh có người thân đi nước ngoài, có kinh tế khá giả nên có tư tưởng
sống trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của người thân, học mang tính đối phó, xem nhẹ
việc học tập, không quan tâm đến việc học của mình; vừa học vừa “chờ thời” là chờ
đợi người thân tìm cách bảo lãnh đi nước ngoài.
Một số bộ phận học sinh sống không có lí tưởng, thiếu ý chí cố gắng phấn đấu,
không có bản lĩnh vững vàng trước những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội; sống thờ ơ,
không thực sự hoà đồng với các bạn trong lớp, trong trường, không tích cực tham gia
các hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện của nhà trường, chỉ lo vui chơi, đua đòi chạy
theo các trào lưu thời trang, bắt chước các thần tượng âm nhạc, điện ảnh, thể thao... của
mình một cách lố lăng không phù hợp với học sinh...
chậm tiến chỉ khi có học sinh bỏ học giáo viên chủ nhiệm mới đến nhà vận động phụ
huynh đưa con đi học trở lại...
Mặc dù các nguyên nhân dẫn đến việc học sinh bỏ học đã được xác định nhưng
để giải quyết tình trạng này không đơn giản, nhất là trong bối cảnh xã hội nhiều phức
tạp, tác động đến việc học tập của học sinh.
Việc kết hợp giữa giáo dục nhà trường-gia đình-xã hội còn chưa đồng bộ. Nhiều
phụ huynh học sinh không hoặc ít quan tâm đến việc học tập của con em, họ phó mặc
việc giáo dục con em cho nhà trường. Đồng thời các quán nhậu, quán cà phê, quán
internet...quá gần trường, dung túng, bao che, chứa chấp một số học sinh bỏ học để vui
chơi, trong khi đó chính quyền địa phương chỉ làm qua loa chiếu lệ khi nhà trường yêu
cầu phối hợp, không có biện pháp hữu hiệu và không tích cực phối hợp giúp đỡ nhà
trường giải quyết những vướng mắc đó.
2.3. Những vấn đề đặt ra trong quản lí nâng cao chất lượng giáo dục học
sinh ở trường THPT Vinh Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên trong giai
đoạn hiện nay
Từ phân tích cụ thể thực trạng của việc quản lí nhằm hạn chế học sinh học tập
yếu kém, lưu ban, bỏ học; đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học
sinh ở trường THPT Vinh Xuân, Phú Vang, Thừa Thiên Huế; tôi nhận thấy có những
vấn đề đặt ra là :
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Chi bộ Đảng trong việc quản lí để nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đặc biệt là ngăn ngừa và hạn chế học sinh
có học lực yếu kém, lưu ban, bỏ học từng bước đưa sự nghiệp giáo dục nhà trường
ngày càng phát triển.
- Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra để nắm tình hình và khắc
phục hạn chế học sinh yếu kém, lưu ban và bỏ học.
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ
môn trong việc nắm bắt và bồi dưỡng cho học sinh từng bước nâng cao chất lượng học
tập và rèn luyện đạt kết quả cao .
- Phát huy vai trò xung kích sáng tạo của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh và Công đoàn trong nhà trường.
3.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Chi bộ Đảng
Từ khi mới thành lập, Chi bộ Đảng đã tăng cường vai trò lãnh đạo trong các
hoạt động giáo dục của nhà trường, có những định hướng, nghị quyết, kế hoạch đúng
đắn để nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục của nhà trường. Bởi vì trong trường
THPT vị trí của Chi bộ Đảng là trung tâm chính trị tập hợp các lực lượng quần chúng
nhằm thực hiện tốt các chủ trương, đương lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong trường học, Chi bộ Đảng nắm quyền lãnh đạo quản lí các hoạt động của
nhà trường, là hạt nhân, là nền tảng của sự đoàn kết, chính vì thế phải xây dựng Chi bộ
Đảng nhà trường luôn luôn trong sạch vững mạnh, thực hiện tốt vai trò của mình, luôn
thực hiện theo phương châm "Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lí".
Mỗi một đảng viên trong Chi bộ luôn gương mẫu trong mọi hoạt động, đặc biệt là
trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, công tác dạy và học để nâng cao chất lượng
giáo dục của nhà trường.
Chi bộ thường xuyên cập nhật thông tin, quán triệt các quan điểm, đường lối,
nghị quyết của Đảng và các cấp chính quyền. Họp định kỳ vào cuối tháng để đánh giá
công tác đã thực hiện, tìm ra ưu điểm để phát huy và những mặc tồn tại để khắc phục,
từ đó đề ra chủ trương cụ thể, giao trách nhiệm cho các tổ chức trong nhà trường thực
hiện. Đặc biệt là công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cho cán bộ giáo viên,
13
học sinh; chú trọng giáo dục học sinh chậm tiến, chưa ngoan, học lực yếu kém, bỏ tiết,
vắng nhiều…. Chỉ đạo công tác bồi dưỡng, rèn luyện và giáo dục học sinh từng bước
nâng cao chất lượng học tập, hoàn thiện nhân cách.
Chi bộ thực hiện và quán triệt Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương
Đảng, Chi bộ đã tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong trường học;
thực hiện tốt các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”, cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung và phong trào “Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ GD&ĐT, triển khai kịp thời việc giáo dục tư
tưởng chính trị công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sư phạm và học tập nâng
các em còn yếu. Tổ chức phụ đạo, ôn tập kiến thức cho học sinh khối 12 từ đầu năm
học.
14
Chỉ đạo các tổ khối chuyên môn chú trọng tới việc ra đề thi chính xác, kiểm tra,
coi thi học kỳ nghiêm túc nhằm xây dựng thái độ học tập đúng đắn, nghiêm túc cho
học sinh. Giáo viên đánh giá đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh
trên cơ sở chuẩn kiến thức và các kỹ năng của chương trình và hướng dẫn học sinh biết
tự đánh giá kết quả học tập của mình. Các tổ khối chuyên môn có kế hoạch từng bước
để xây dựng quỹ đề kiểm tra thường xuyên, định kỳ của tổ, thường xuyên bổ sung quỹ
đề với sự đóng góp của giáo viên, trao đổi với đơn vị bạn, tham khảo ngân hàng đề của
Sở, của Bộ GD& ĐT trên internet...Cần kết hợp một cách hợp lý hình thức tự luận với
trắc nghiệm khách quan, sử dụng các hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau trong quá
trình đánh giá kết quả học tập của học sinh. Nhà trường kiểm tra, thanh tra đề kiểm tra,
đề thi của tổ, của giáo viên để có điều chỉnh phù hợp với sự phân hoá của học sinh, phù
hợp với chuẩn kỹ năng, kiến thức và quy định của Bộ GD& ĐT.
Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm tăng cường công tác chủ nhiệm lớp, giáo viên chủ
nhiệm ngoài việc theo dõi tình hình học tập, rèn luyện của học sinh cần quan tâm đến
hoàn cảnh điều kiện học tập và giáo dục các em ở gia đình. Đặc biệt là những em có
hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ bất hoà, mồ côi hoặc những học sinh cha mẹ không có
điều kiện chăm sóc giáo dục. Nắm được tâm tư nguyện vọng, hướng học sinh cố gắng
học tập rèn luyện, có chí tiến thủ, ngăn chặn kịp thời các hiện tượng tiêu cực dẫn đến
vi phạm pháp luật.
Tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả “Hộp thư giúp bạn” nhằm ngăn chặn các hoạt
động xấu trong học sinh, ngăn ngừa học sinh vi phạm nội quy, học tập yếu kém dẫn
đến lưu ban, bỏ học.
Tổ chức các hội thảo chuyên đề trong hội đồng sư phạm, các tổ khối chuyên
môn để bàn những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học, khắc phục hiện tượng học
làm tốt công tác giáo dục học sinh thì người cán bộ quản lí cần phải làm tốt các công
việc sau:
- Khi phân công giáo viên chủ nhiệm, người quản lí phải chọn trong những giáo
viên có lập trường chính trị tư tưởng vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có nhiều
kinh nghiệm, yêu nghề, năng động, thương yêu học sinh, hết lòng vì sự nghiệp giáo
dục, đặc biệt nên quan tâm đến giáo viên là người ở địa phương để có những điều kiện
thuận lợi hơn trong việc kết hợp giáo dục giữa nhà trường, giáo viên chủ nhiệm với gia
đình học sinh .
- Có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm thường xuyên để giáo
viên nắm vững được nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình, kế hoạch cụ thể, phù
hợp trong công tác chủ nhiệm. Đồng thời phải kết hợp với giáo viên bộ môn, Ban cán
sự lớp và Ban chấp hành Hội Phụ huynh học sinh để theo dõi, giúp đỡ để kịp thời uốn
nắn, giáo dục học sinh. Nhất là các học sinh có vấn đề về học lực yếu kém, lười biếng
trong học tập, bỏ tiết, vắng học nhiều hoặc học sinh có hoàn cảnh khó khăn, như trong
Điều 29 chương IV Điều lệ trường trung học quy định về nhiệm vụ của giáo viên chủ
nhiệm là: Cộng tác chặt chẽ với phụ huynh học sinh, chủ động phối hợp với các giáo
viên bộ môn... trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh. Giáo viên chủ nhiệm là
người thay mặt nhà trường phối hợp với các lực lượng giáo dục khác để tổ chức giáo
dục đạo đức và giáo dục toàn diện cho học sinh.
- Ngoài các tổ khối chuyên môn, cần thành lập tổ giáo viên chủ nhiệm, tổ chức
hội nghị hội thảo dành cho giáo viên chủ nhiệm để trao đổi và học tập lẫn nhau. Chú
trọng công tác học tập kinh nghiệm bằng cách cho các giáo viên chủ nhiệm đi dự giờ
thăm lớp các giờ sinh hoạt lớp của đồng nghiệp có năng lực và kinh nghiệm chủ nhiệm
hoặc giao lưu với các giáo viên chủ nhiệm của trường bạn để học hỏi và nâng cao năng
lực chủ nhiệm.
- Trong công tác quản lí, cần quán triệt chỉ đạo cho giáo viên chủ nhiệm phải kết
hợp chặt chẽ với Ban chấp hành Đoàn trường, Ban giám thị để tìm hiểu tình hình học
sinh trong lớp để uốn nắn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những học sinh vi
phạm nội quy, quy định của trường như: đi muộn, trốn học, bỏ tiết, trang phục không
đúng quy định....Đồng thời động viên khen thưởng những học sinh trong lớp có sự tiến
giáo viên chủ nhiệm làm tốt công việc, bên cạnh đó cũng nhắc nhở các giáo viên chủ
nhiệm làm chưa tốt công việc của mình. Trường hợp đã nhắc nhở mà vẫn không
chuyển biến thì có biện pháp xử lí, nếu có điều kiện cho phép thì không để cho giáo
viên đó làm công tác chủ nhiệm nữa. Sau mỗi đợt thi đua cần có tổng kết rút kinh
nghiệm kịp thời để giáo viên phát huy những ưu điểm và khắc phục những thiếu sót
hạn chế trong công tác chủ nhiệm .
3.3.2. Đối với giáo viên bộ môn
Trong nhà trường THPT, ngoài giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn là một
thành phần hết sức quan trọng hợp thành một tập thể sư phạm có sức mạnh to lớn.
Người giáo viên vừa là nhà sư phạm, vừa là nhà tổ chức, vừa tham gia các hoạt động
chính trị, xã hội. Phương tiện lao động của người giáo viên là phẩm chất nhân cách và
trí tuệ của chính họ. Những phẩm chất đó tạo nên sức mạnh, niềm tin và lí tưởng nó
thấm nhuần vào bài giảng, từng hoạt động giáo dục của họ. Để tác động lực phấn đấu
cho học sinh trước hết người quản lí cần phải chú ý bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm
cho đội ngũ giáo viên. Lòng nhân ái, tình yêu thương con người là cái gốc của đạo lý
làm người, tình yêu thương học sinh là điểm xuất phát của sự sáng tạo sư phạm làm
cho giáo viên có trách nhiệm cao với công việc của mình. Tình yêu thương học sinh
thể hiện trong các hoạt động dạy học và giáo dục, đó cũng là cơ sở xuất phát của tình
17
yêu nghề nghiệp, ý thức thái độ và tình yêu nghề nghiệp thể hiện ở việc không ngừng
nâng cao phẩm chất đạo đức để trở thành gương sáng, tạo nên niềm tin trước học sinh,
trước nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt yêu cầu đạo đức của người
thầy lên hàng đầu, Người đòi hỏi thầy giáo Không những phải có trí tuệ phổ thông mà
phải có đạo đức cách mạng, vì quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo
đức .... Đối với người giáo viên lòng yêu nghề, sự say sưa hứng khởi, sự kiên trì, khắc
phục khó khăn trong học hỏi rèn luyện, toàn tâm toàn ý với sự nghiệp giáo dục, tất cả
vì học sinh thân yêu là biểu hiện đạo đức cách mạng và lí tưởng nghề nghiệp. Người
có hiệu quả tốt nhất.
18
- Giáo viên chủ động gặp phụ huynh trao đổi về việc học tập của các em, cùng
với phụ huynh tìm biện pháp giáo dục học sinh cố gắng tích cực học tập hạn chế học
sinh yếu kém, lưu ban dẫn đến bỏ học.
- Giáo viên lập kế hoạch phụ đạo học sinh yếu kém ngoài giờ học chính khóa có
thể ở trường hoặc ở nhà nếu nhà trường và phụ huynh đồng ý.
- Trong tiết dạy học bình thường giáo viên soạn bài nhất thiết phải có lưu ý đến
đối tượng những học sinh yếu kém. Kế hoạch dạy học cho học sinh yếu kém, lưu ban
phải phù hợp với trình độ học sinh đó, từng bước bổ sung kiến thức cơ bản cho học
sinh, có thể dạy kiến thức của lớp dưới; học sinh hỏng kiến thức ở đâu thì giáo viên
phải có kế hoạch ôn tập, bổ sung ở đó, giúp đỡ các em bằng tất cả tình thương và trách
nhiệm.
- Giáo viên phân công học sinh khá, giỏi giúp đỡ bạn ở trường, ở nhà. Tạo ra các
nhóm học tập, thi đua trong các nhóm có học sinh yếu kém, lưu ban và các em bỏ học
trở lại trường.
- Giáo viên luôn luôn động viên, tuyên dương kịp thời, có các biện pháp cho
điểm thưởng, cộng điểm thưởng cho học sinh có tiến bộ, phát biểu xây dựng bài.
- Trong buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng hai lần, giáo viên bộ môn và giáo
viên chủ nhiệm báo cáo tiến độ tiếp thu bài của những học sinh yếu kém, lưu ban cho
Tổ trưởng và giáo viên trong khối, từ đó giáo viên nào còn vướng mắc thì bàn bạc, trao
đổi đề các giáo viên trong tổ khối chuyên môn góp ý bổ sung, tìm hướng giải quyết
phù hợp có hiệu quả.
Những năm học vừa qua, cán bộ quản lí của trường đã áp dụng những biện pháp
đã nêu trên để tăng cường giáo dục học sinh, tuy nhiên có một số biện pháp có lúc
chưa thực hiện, hoặc có thực hiện nhưng chưa có sự kiểm tra đánh giá nghiêm túc, kịp
thời, thường xuyên, đồng bộ; có những giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn còn
thông báo và làm việc với phụ huynh học sinh. Mặt khác, Ban Thường vụ Đoàn trường
thông báo cho phụ huynh của học sinh vi phạm bằng thư (giấy báo, giấy mời) qua Bưu
điện nhằm tránh việc học sinh che dấu và phụ huynh sẽ nắm được các hành vi vi phạm
của con em mình để có biện pháp phối hợp giáo dục kịp thời.
- Xây dựng kế hoạch, phối hợp chặt chẽ giữa Đoàn trường, giáo viên chủ nhiệm,
giáo viên bộ môn, đặc biệt với Đoàn cấp trên, với Ban đại diện Hội Phụ huynh học
sinh, tạo ra các hoạt động bổ ích góp phần giúp đỡ học sinh yếu kém, lưu ban, bỏ học
đi học lại; giáo dục đạo đức học sinh đạt kết quả cao hơn, đặc biệt là học sinh chưa
ngoan, cá biệt.
- Tổ chức các các hoạt động ngoại khóa về văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt động
từ thiện, hoạt động lao động công ích, từ đó giúp các em có ý thức làm chủ, bồi dưỡng
tình yêu thương, ý chí cộng đồng tạo ra sự gắn kết giữa cá nhân - gia đình - xã hội. Bồi
dưỡng lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý. Rèn luyện đức tính, cần cù,
sáng tạo, quan tâm đến môi trường sống, ham học hỏi, suy nghĩ độc lập và có sự quyết
đoán trong mọi hoạt động. Lực lượng đoàn viên Chi đoàn Giáo viên là lực lượng tiên
phong trong công tác giúp đỡ, động viên học sinh tham gia tích cực vào phong trào và
qua đó tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện cho các em ý thức tự giác học tập, nâng cao
các giá trị đạo đức từng bước hoàn thiện nhân cách, bằng các hoạt động, phong trào cụ
thể như dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém miễn phí, giúp đỡ tăng cường kiểm tra, dò
bài đối với các em học sinh yếu kém, phát động gây quỹ khuyến học giúp đỡ các em có
hoàn cảnh gia đình khó khăn, động viên những học sinh hư hỏng thiếu tinh thần học
tập và sẵn sàng cùng phụ huynh học sinh giải quyết mọi vấn đề khi các em vấp phải
làm ảnh hưởng đến việc học tập, rèn luyện.
Thời gian qua, tổ chức Đoàn được Hội đồng sư phạm và cán bộ quản lí của
trường đặc biệt quan tâm chỉ đạo sâu sát, kịp thời nên đã tổ chức nhiều hoạt động
phong trào tăng cường giáo dục học sinh thường xuyên và đạt được nhiều thành tích
cao trong các phong trào thi đua học tốt và rèn luyện tốt, như các phong trào: Học tập
để ngày mai lập nghiệp, Đôi bạn cùng tiến, Nhóm bạn cùng tiến,...Đoàn thanh niên
20
nước... để giáo dục học sinh giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của nhà trường và
của quê hương đất nước. Từ đó, các em cảm nhận được giá trị của việc đến lớp và ý
thức về trách nhiệm học tập của mình, cố gắng học tập, giúp đỡ cùng nhau tiến bộ để
góp phần giữ gìn và xây dựng truyền thống hiếu học của học sinh trường THPT Vinh
Xuân.
3.5. Phát huy hoạt động tự quản của tập thể học sinh
Ban Giám hiệu đã có định hướng và tổ chức tốt việc xây dựng, phối hợp các tổ
chức tự quản của học sinh, đây là nhiệm vụ không chỉ của Ban giám hiệu mà của tất cả
giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm. Phát huy hoạt động tự quản của học sinh là
phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh và là điều kiện, là yếu tố quan
21
trọng trong hoạt động dạy và học, giáo dục đạo đức hình thành và phát triển nhân cách
của các em.
Tập thể học sinh là một tổ chức có cùng môi trường học tập, có cùng lứa tuổi, là
nơi các em dễ bộc lộ bản thân. Vì thế người cán bộ quản lí kết hợp với giáo viên chủ
nhiệm phải giúp các em xây dựng được một tập thể lớp có kế hoạch và tổ chức hoạt
động tự quản tốt.
Ban Giám hiệu cần định hướng chỉ đạo cho giáo viên chủ nhiệm, tổ chức Đoàn
trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục, tổ chức các hoạt động ngoại khoá, văn
hoá tinh thần, thể dục thể thao, vui chơi giải trí...; giáo viên khi lập kế hoạch, hướng
dẫn thực hiện cần tạo điều kiện thuận lợi về thời gian để học sinh tự tổ chức tập luyện
và tham gia. Chú ý đến tính tự nguyện, tự giác, chủ động tích cực và sáng tạo, thu hút
đông đảo học sinh tham gia một cách hứng thú, tạo nhiều sân chơi “học mà chơi, chơi
mà học” bổ ích cho học sinh trong các buổi tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp hàng tháng.
Để phát huy được hoạt động tự quản của học sinh cần có sự đầu tư về đội ngũ
cán bộ lớp, cán bộ chi đoàn cụ thể:
Thông qua đội ngũ cán bộ lớp, chi đoàn và học sinh ưu tú, nhà trường đã nắm
bắt thông tin và xử lí kịp thời, chính xác các tình huống, trường hợp học sinh vi phạm,
có biện pháp giáo dục cụ thể, kịp thời, thích hợp với từng đối tượng học sinh góp phần
nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh, góp phần hạn chế học sinh yếu
kém, bỏ học và lưu ban.
3.6. Kết hợp giáo dục giữa nhà trường - xã hội - gia đình để giáo dục học
sinh
Gia đình là tế bào của xã hội. Xã hội có sự tác động vô cùng to lớn đến việc
giáo dục thế hệ trẻ. Do đó giáo dục gia đình và xã hội là một bộ phận hữu cơ trong sự
nghiệp giáo dục. Hoạt động giáo dục học sinh là nhiệm vụ của toàn xã hội, do đó nhà
trường nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ nhà trường - gia đình và xã hội
trong công tác giáo dục nâng cao chất lượng toàn diện; người quản lí giáo dục cần
phải:
- Xây dựng Ban đại diện cha mẹ học sinh có tổ chức hoạt động tích cực có hiệu
quả : Hàng tuần Ban chấp hành Hội Phụ huynh học sinh cùng Ban giám hiệu, giáo viên
chủ nhiệm nắm bắt các thông tin về rèn luyện của con em mình kịp thời thông báo với
gia đình để cùng nhau giáo dục .
- Thực hiện tốt cam kết giữa học sinh - nhà trường - gia đình - xã hội, trong
chương VI điều 84 quy định về trách nhiệm của xã hội: Giúp nhà trường trong công
tác các hoạt động giáo dục... góp phần xây dựng phong trào học tập và môi trường
giáo dục lành mạnh, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên....
Như vậy gia đình - xã hội có vai trò rất lớn trong việc cùng nhà trường nâng cao chất
lượng giáo dục ngăn ngừa, hạn chế học sinh học tập yếu kém, lưu ban và bỏ học.
- Thực hiện cam kết không vi phạm pháp luật, không sa vào các tệ nạn xã hội
giữa học sinh và công an được làm thường xuyên trong năm học. Xây dựng đề án an
ninh trường học kết hợp với an ninh địa phương có học sinh học tại trường, họp giao
ban hàng tháng, thông tin, thông báo các hiện tượng học sinh vi phạm và có biện pháp
cùng nhau giáo dục. Giúp các em yên tâm và tập trung vào việc học tập.
- Các giáo viên chủ nhiệm phải có trách nhiệm thông tin đầy đủ, thường xuyên,
kịp thời về tình hình học tập và rèn luyện của học sinh đến Ban giám hiệu, đặc biệt là
động viên học sinh đi học chuyên cần, vắng học khi có lý do rất quan trọng. Nhà
trường duy trì liên lạc thường xuyên với phụ huynh học sinh, với chính quyền địa
phương.
- Phụ huynh học sinh thường xuyên theo dõi và kiểm tra bài vở của con em
mình. Tạo điều kiện tối đa để giúp đỡ học sinh trong quá trình học tập ở nhà, phải có
thời gian biểu học tập cho các em, động viên con em đi học chuyên cần, đến lớp phát
biểu xây dựng bài. Phụ huynh thường xuyên có sự kiểm tra và chuẩn bị cho con em
trước khi đến trường, lưu ý đến trang phục của học sinh, nếu không đúng quy định thì
nhắc nhở và bắt buộc học sinh thay đổi trang phục đúng nội quy của trường vì khi học
sinh vi phạm sẽ bị nhà trường xử lý làm ảnh hưởng đến việc học tập và tâm lý của học
sinh. Đồng thời thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp để nắm được tình
hình học tập của con em mình, từ đó giáo viên chủ nhiệm cùng trao đổi với phụ huynh
để tìm biện pháp tốt nhất cho con em mình học tập. Phụ huynh cũng cần quan tâm đến
các mối quan hệ bạn bè của học sinh để tư vấn, hướng dẫn giúp học sinh có định
hướng đúng đắn trong quan hệ bạn bè để cùng nhau học tập và tiến bộ tránh hiện tượng
chơi với bạn xấu, bị lôi kéo ham vui chơi, lười học, vi phạm nội quy của trường dẫn
đến học tập sa sút, ngày càng yếu kém dẫn đến lưu ban và bỏ học.
Với việc thực hiện và kết hợp nhiều phương pháp giáo dục khác nhau, qua từng
năm học số lượng học sinh học tập xếp loại yếu kém, học sinh bị lưu ban, bỏ học ngày
càng giảm, tỉ lệ học sinh bị thi lại, bị lưu ban cũng được hạn chế và học sinh bỏ học đã
24
khắc phục đến mức thấp nhất, góp phần làm chuyển biến tích cực, tạo tiền đề cho sự
phát triển chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, góp phần xây dựng nhà trường
ngày càng phát triển và vững mạnh.
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hoá của đất nước, đặt nền móng ban đầu rất
phẩm chất và năng lực của người giáo viên ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đối với học
sinh, phẩm chất của thầy cô giáo là vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để giáo dục
học trò. Người thầy có nhiều phẩm chất tốt và càng toàn diện thì càng đạt hiệu quả giáo
25