Một số giải pháp phát triển chuỗi hệ thống bán lẻ của Tổng công ty Thương mại Hà nội - Hapro mart - Pdf 31

Đề án Kinh tế Thương mại
MỤC LỤC
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
Đề án Kinh tế Thương mại
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX, Thế giới chứng kiến sự xuất hiện của loại hình kinh doanh Siêu thị
- một hình thức phân phối bản lẻ văn minh, hiện đại. Cùng với quá trình Công nghiệp
hóa – Hiện đại hóa đất nước, kinh doanh Siêu thị cũng đã xuất hiện ở Việt nam từ
mười năm nay và hiện nay đang phát triển rất nhanh, đặc biệt là ở các khu vực thành
thị như Hà nội, TP Hồ Chí Minh,... Kinh doanh Siêu thị đã dần làm thay đổ bộ mặt
của thị trường bán lẻ Việt nam. Kinh doanh Siêu thị mang tới cho khách hàng những
sản phẩm có chất lượng cao, kiểu dáng phong phú, đa dạng, giá cả cạnh tranh,... so
với các kiểu kinh doanh bán lẻ cũ, truyền thống.
Từ ngày 11/1/2007, Việt nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại Thế giới WTO, đưa nền Thương mại Việt nam vào thị trường
chung của Thương mại Thế giới, sẽ có rất nhiều Doanh nghiệp nước ngoài vào Việt
nam kinh doanh. Đứng trước điều đó, với nhiệm vụ là nòng cốt tạo diện mạo mới
cho Thương mại Thủ đô, chuỗi Siêu thị Hapro mart của Tổng công ty Thương mại
Hà nội đang từng bước khẳng định trên thị trường và hiện nay đã trở thành một trong
những nhà phân phối bán lẻ hàng đầu Việt nam. Thị trường bán lẻ Việt nam được các
nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là một thị trường tiềm năng, đầy hứa hẹn. Hơn nữa,
kể từ ngày 1/1/2009, Việt nam chính thức mở cửa thị trường bán lẻ trong nước theo
cam kết lộ trình WTO. Điều này là một thách thức to lớn, khi mà hệ thống bán lẻ của
các Doanh nghiệp Việt nam hiện nay đang được đánh giá là nhỏ lẻ và manh mún,
còn các đối thủ là những công ty Quốc tế với ưu thế về tiềm lực, vốn, và có kinh
nghiệm quản lý hiện đại. Do đó, cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ ở Việt
nam sẽ rất khốc liệt đối với các Doanh nghiệp bán lẻ trong nước.
Khi gia nhập vào WTO, một sân chơi lớn với sức ép cạnh tranh cao, một hệ
thống phân phối bán lẻ với quy mô nhỏ bé, manh mún, tính chuyên nghiệp chưa cao

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, kết cấu đề án gồm
3 chương chính như sau:
Chương I: Tổng quan về hệ thống phân phối bán lẻ Việt nam
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh phân phối bán lẻ của
chuỗi Siêu thị Hapro mart
Chương III: Một số giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của chuỗi
Siêu thị Hapro mart
CHƯƠNG I
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
2
Đề án Kinh tế Thương mại
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI BÁN LẺ VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC BÁN LẺ
Theo Philip koller, bán lẻ là tất cả những hoạt động có liên quan đến việc bán
hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng để họ sử dụng cho bản thân chứ
không phải để kinh doanh. Có nhiều tổ chức nhà sản xuất, nhà ban buôn, nhà bán lẻ
thực hiện các chức năng bán lẻ, nhưng phần lớn công việc bán lẻ là do những nhà bán
lẻ chuyên nghiệp thực hiện. Việc bán lẻ có thể thực hiện qua nhân viên bán trực tiếp,
bưu điện, điện thoại hay các máy bán lẻ tự động.
Các nhà bán lẻ thuộc đủ loại quy mô và hình thức, và luôn xuất hiện thêm
những hình thức bán lẻ mới. Các chức năng phân phối do các nhà bán lẻ thực hiện có
thể phối hợp theo nhiều cách khác nhau để tạo ra các dạng mới của định chế bán lẻ.
Có thể phân loại bán lẻ qua các tiêu thức sau:
- Theo mức độ phục vụ, gồm có: Bán lẻ tự phục vụ; Bán lẻ phục vụ có giới hạn;
Bán lẻ phục vụ toàn phần.
- Theo mặt hàng kinh doanh, gồm có: Cửa hàng chuyên doanh (Chuyên kinh
doanh một hoặc một nhóm mặt hàng); Cửa hàng bách hoá (Kinh doanh nhiều mặt
hàng, chủng loại mặt hàng); Siêu thị là những trung tâm bán lẻ lớn, chi phí thấp, tự
phục vụ giá thấp, doanh số bán cao; Cửa hàng tiện ích là những cửa hàng bán lẻ nhỏ,

bán cận ven.
1.2. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG PHÂN PHỐI BẢN LẺ Ở VIỆT NAM
Hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam hiện nay có khoảng 200 siêu thị, 30
trung tâm thương mại, hơn 600 cửa hàng tự chọn và 1000 cửa hàng tiện ích hoạt
động trên 30 Tỉnh, Thành phố. Với số lượng như vậy, hệ thống phân phối bán lẻ của
Việt Nam được xem là nhỏ bé, manh mún so với một thị trường bán lẻ hấp dẫn mang
lại doanh số trung bình hơn 20 tỷ USD/năm. Thị trường bán lẻ Việt Nam được xem
là hấp dẫn không chỉ vì nó có thể mang lại doanh số trung bình hơn 20 tỷ USD/năm
mà nó còn hấp dẫn bởi số lượng dân số lớn (84 triệu người) theo dự đoán có thể đạt
tới con số 100 triệu người năm 2020, tỷ lệ dân số trẻ dưới 30 tuổi cao (chiếm 50%
dân số). Bên cạnh đó, thu nhập cá nhân ngày càng được cải thiện một cách đáng kể,
tăng khả năng tiêu dùng hàng hoá của người dân.
Bảng 1.1: Thu nhập bình quân đầu người trên cả nước
Đơn vị: USD
Năm 1996 1999 2002 2004 2006 2007 2008
Cả nước
226,7 295,0 356,8 484,4 636,0 835,6 1.024,0
Thành thị
509,4 832,5 626,0 794,8 1.508,0 2.095,3 2.943,4
Nông thôn
187,9 225,0 276,0 376,5 506,0 650,0 735,8
(Nguồn: Kết quả điều tra mức sống của Tổng cục thống kê)
Thu nhập bình quân đầu người nước ta tăng rõ rệt kể cả thành thị và nông thôn.
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
4
Đề án Kinh tế Thương mại
Giai đoạn 2004-2006, thu nhập bình quân đầu người cả nước tăng 31,3%. GDP bình
quân đầu người hiện nay của Việt nam đã vượt qua mức 1000USD/người/năm và
đang tăng trưởng nhanh, trong đó GDP đầu người của tầng lớp trung lưu tăng khá

GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
5
Đề án Kinh tế Thương mại
Tổng
398,5 100 480,3 100 588,9 100 726,1 100 968,1 100
Quốc
doanh
59,8 15,0 62,2 12,9 72,1 12,4 79,1 10,9 112,9 11,7
Ngoài
quốc
doanh
323,6 81,2 399,9 83,3 485,4 83,6 624,4 86,0 824,5 85,2
FDI 15,1 3,8 18,2 3,8 23,3 4,0 22,6 3,1 22,7 3.1
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Bảng 1.3: Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ qua các năm gần đây
Năm
Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng
hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tốc độ tăng
GDP (%)
Hệ số (lần)
Tính theo giá
thực tế
Đã loại trừ tốc
độ tăng giá
A 1 2 3 4=2/3
2001 11,3 10,2 6,90 1,48
2002 14,5 10,2 7,08 1,44
2003 18,8 15,2 7,34 2,07
2004 19,4 10,8 7,79 1,39

sách thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế ở nước ta còn thiếu và chưa đồng bộ
làm cản trở việc đầu tư của các doanh nghiệp.
- Khả năng cạnh tranh của hàng hóa còn thấp. Nhiều mặt hàng còn đơn điệu,
mẫu mã và quy cách chậm đổi mới , chất lượng thấp và giá thành cao, do đó nói
chung là khó cạnh tranh với hàng nước ngoài trên thị trường nước ngoài và khó tiêu
thụ ngay cả ở thị trường trong nước. Vấn đề đầu ra cho hàng hóa nói chung và nông
sản hàng hóa nói riêng thương xuyên là vấn đề quan tâm hàng đầu của cả nên kinh
tế. Chất lượng hàng hóa ở Việt nam không ổn định. Hiện nay, nhiều nông sản phẩm
không thể vào siêu thị, cửa hàng lớn được do quy trình sản xuất không đảm bảo.
- Nguồn lực về con người còn hạn chế, kinh nghiệm năng lực quản lí còn yếu,
nhân viên phục vụ chưa được đào tạo bài bản.
- Việc quản lý thị trường còn hạn chế nên môi trường kinh doanh không ổn
định, lành mạnh để thu hút vốn đầu tư và phát triển hệ thống phân phối hiện đại. Các
hình thức bán lẻ truyền thống như chợ cóc, chợ tạm, hàng rong … còn nhiều và mọc
rải rác ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Thương hiệu của các doanh nghiệp hiện nay chưa mạnh, tiềm lực tài chính
chưa lớn.
- Hệ thống phân phối bán lẻ của Việt nam vẫn còn manh mún, tài chính hạn chế,
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
7
Đề án Kinh tế Thương mại
logicstic ở góc độ bán lẻ còn yếu kém, đặc biệt là thiều tính liên kết và chưa có một
chiến lược phát triển dài hạn. Do vậy, nhiều doanh nghiệp Việt nam rất khó tồn tại và
phát triển nếu phải chịu sức ép cạnh tranh từ phía các doanh nghiệp, tập đoàn phân
phối nước ngoài khi mà thị trường bán lẻ Việt nam đã được mở cửa hoàn toàn tự do
kể từ 1/1/2009 vừa rồi.
Bên cạnh đó, sau hơn một năm kể từ ngày nước ta gia nhập WTO đã xuất hiện
các tập đoàn quốc tế tâp trung vào đầu tư và hệ thống phân phối bán lẻ Việt nam như
Metro Cash & Carry của Đức, Bourbon của Pháp (BigC), Parkson của Malaysia,

thương mại nước ta chủ yếu mang tính tự phát. Do vậy, nếu ngành phân phối bán lẻ
nứơc ta không kịp thời xây dựng tổ chức lại hệ thống phân phối hiện đại, với một
chiến lược đúng đắn sẽ khó cạnh tranh khi các tập đoàn lớn, các nhà đầu tư nước
ngoài đặt chân vào thị trường nước ta.
1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG PHÂN
PHỐI BÁN LẺ
1.3.1. Tốc độ đô thị hóa
Phân phối bán lẻ là kết quả của lối sống văn minh, hiện đại, tác phong công
nghiệp ở các khu đô thị và các thành phố lớn, nó gắn liền với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh
mẽ, với sự dịch chuyển cơ cấu GDP theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, dịch
vụ ngày càng lớn và tỷ trọng nông nghiệp nhày càng giảm sút. Bên cạnh đó, quá trình
đô thị hoá diễn ra một cách mạnh mẽ ở nước ta đã tác động sâu sắc đến lối sống, thói
quen mua sắm, tiêu dùng của người dân. Số lượng các tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn
đô thị không ngừng được mở rộng. Đây là tiền đề để phát triển hệ thống phân phối
bán lẻ ở Việt Nam hiện nay.
1.3.2. Môi trường Văn hóa – Xã hội
Yếu tố văn hoá xã hội là những yếu tố bao quanh doanh nghiệp và khách hàng,
có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của hệ thống phân phối bán lẻ.tại các thành
phố, các tỉnh phát triển, người tiêu dùng luôn là những người năng động, cởi mở, có
nhu cầu cao, yêu cầu lớn cả về số lượng và chất lượng của sản phẩm. đặc điểm văn
hoá - xã hội ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi mua sắm của khách hàng trong việc
lựa chọn, quyết định tiêu dùng sản phẩm và địa điểm mua sắm. Người tiêu dùng
thành thị có những nét khác biệt so với người tiêu dùng ở nông thôn, họ có yêu cầu
cao hơn về chất lượng, dịch vụ khách hàng, cung cách phục vụ…
Theo số liệu thống kê hiện nay, người tiêu dùng thành thị rất ưa thích việc đi
mua sắm tại hệ thống phân phối bán lẻ vì tính nhanh gọn, thuận tiện, đảm bảo về chất
lượng, xuất xứ, nguồn gốc của sản phẩm.
Phân tích yếu tố văn hoá xã hội cần quan tâm tới các tiêu thức sau:

Chính phủ và khả năng điều hành của Chính phủ.
- Mức độ ổn định chính trị - xã hội
- Thái độ và phản ứng của các tổ chức xã hội của các nhà phê bình xã hội.
- Thái độ và phản ứng của dân chúng.
- Hệ thống luật pháp với mức độ hoàn thiện của nó và hiệu lực thực hiện luật
phấp trong đời sống kinh tế - xã hội.
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
10
Đề án Kinh tế Thương mại
1.3.4. Các loại hình bán lẻ truyền thống
Cạnh tranh được xem là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị
trường. Môi trường cạnh trạnh được hình thành thông qua điều kiện cạnh tranh và
các thành phần tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh.
Sự ra đời của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại gặp phải sự cạnh tranh quyết
liệt từ phía các cửa hàng, chợ truyền thống. Hiện nay, tại Việt Nam, đa số người dân
vẫn trung thành với hình thức bán hàng truyền thống này. Hệ thống chợ hình thành và
nằm rải rác khắp mọi nơi. người tiêu dùng chủ yếu mua sắm hàng hoá tại chợ, nhất là
các mặt hàng phục vụ nhu cầu hàng ngày như thực phẩm, hàng tạp phẩm,… Đối với
người dân Việt Nam đi mua sắm tại chợ truyền thống đã là một thói quen khó thay
đổi.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PHÂN PHỐI BÁN LẺ
CỦA CHUỖI SIÊU THỊ HAPRO MART
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
11
Đề án Kinh tế Thương mại

Điện thoại: 04- 8 267 984
Fax: 04-8 267 983/9 285 938
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
12
Đề án Kinh tế Thương mại
Email:
Chi nhánh tại TP.HCM:
Địa chỉ: 77-79 Phó Đức Chính, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-8 216 253
Fax: 08-8 216 250/8 216 251
Email:
Văn phòng đại diện tại Nga:
Địa chỉ:119526, Moscow, Prospekt Vernadskovo,
Dom 93/1, Kva 233
Điện thoại: 095 4342148
Email:
Tổng công ty thương mại Hà Nội có tiền thân là công ty sản xuất – dịch vụ và
xuất nhập khẩu Nam Hà Nội. Công ty được thành lập từ tháng 7 năm 1991 thuộc liên
hiệp sản xuất – dịch vụ và xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Hà Nội trong điều kiện
không có vốn, không có cơ sở vật chất, chưa có thị trường và một ít cán bộ.
Tháng 8/1991, Liên hiệp Sản xuất – dịch vụ và xuất nhập khẩu tiểu thủ công
nghiệp Hà Nội thành lập “ban đại diện” phía Nam
Đến tháng 1/1992, Ban đại diện phía Nam của liên hiệp sản xuất – dịch vụ và
xuất nhập khẩu tiểu thủ công nghiệp đã hoạt động như một công ty độc lập, tự huy
động vốn, tự hạch toán, xây dựng bộ máy và tìm thị trường.
Sau 1 năm thâm nhập thị trường, Ban đại diện phía Nam đã đạt được doanh thu
5 tỉ đồng, kim ngạch xuất nhập khẩu 500.000 USD. Tháng 4/1992, Ủy ban nhân dân
thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 672/QĐ–UB về việc chuyển Ban đại diện phía
Nam thành Chi nhánh Công ty sản xuất – dịch vụ và xuất nhập khẩu tiểu thủ công

đầu tư quản lý khu công nghiệp thực phẩm Hapro tại xã Lệ Chi – Kim Sơn – Gia
Lâm – Hà Nội.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Thương mại Hà nội
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
14
Đề án Kinh tế Thương mại
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty thương mại Hà Nội

Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
Tổng giám đốc
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Công ty mẹ
(Tổng công ty thương mại Hà Nội)
Các công ty con
(Cty TNHH một thành viên, cổ phần, liên doanh liên kết)
Các khối phòng, ban chức năng
Các đơn vị hạch toán phụ thuộc Công ty mẹ
Văn phòng
Phòng tổ chức cán bộ
Phòng kế hoạch và phát triển
Phòng quản trị thương hiệu
Ban pháp lý và hợp đồng
Ban tài chính kế toán và kiểm toán
Ban đối ngoại và tiếp thị
Ban quản lý khu công nghiệp
Hapro
T.T XK Phía Bắc

- Đưa thương hiệu Hapro trở thành thương hiệu uy tín, được nhiều người tiêu
dùng biết đến
- Trở thành nhà phân phối - bán lẻ chiến lược cho các nhà sản xuất trong nước
và nước ngoài
2.2.2. Hoạt động kinh doanh chính
- Phân phối hàng hóa thông qua kênh siêu thị, trung tâm thương mại và cửa
hàng tiện ích
- Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực bán lẻ.
- Cung cấp dịch vụ hậu cần bán lẻ (kho - vận) và dịch vụ hạ tầng thương mại
2.2.3. Tình hình hoạt động kinh doanh
Vào ngày 11/11/2006, hệ thống bán lẻ Hapro Mart chính thức ra mắt bằng việc
khai trương 2 siêu thị và gần 10 cửa hàng tiện ích tại Thủ đô Hà Nội. Hàng hóa trong
các cửa hàng tiện ích chủ yếu là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ gia dụng
phục vụ sinh hoạt hàng ngày của người dân, với chất lượng bảo đảm, chủng loại
phong phú, giá cả hợp lý, phong cách phục vụ chuyên nghiệp.
Đến 31/12/2007 Hapro Mart đã có 13 siêu thị và 18 cửa hàng tiện ích tại khu
vực phía Bắc, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và một số thành phố, tỉnh có mức sống
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
16
Đề án Kinh tế Thương mại
tương đối khá như Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Kạn, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái
Bình, Quảng Ninh.
Đến 31/12/2008 Hapro mart đã có 28 siêu thị và 31 cửa hàng tiện ích tại khu
vực phía Bắc, tập trung chủ yếu tại Hà nội.
Trong năm 2008, mặc dù có rất nhiều khó khăn vì tình hình lạm phát và suy
thoái kinh tế, Công ty đã khai trương được 08 Siêu thị, trong đó có 02 Siêu thị có góp
vốn của Tổng Công ty, 03 Cửa hàng nhượng quyền thương mại và 01 Cửa hàng tiện
ích, nâng tổng số Siêu thị và Cửa hàng thuộc chuỗi Hapro Mart đến cuối năm 2008
gồm 19 điểm/31 điểm kinh doanh mang thương hiệu Hapro Mart. Đây là một sự cố

Đề án Kinh tế Thương mại
23 Siêu thị Hapro Mart Thị trấn Nông Trường Mộc Châu, Sơn La
24 Siêu thị Hapro Mart Thị trấn Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội
25 Siêu thị Hapro Mart 66 Hoàng Văn Thụ, TP. Thái Nguyên, Thái Nguyên
26 Siêu thị Hapro Mart Thị trấn Sao Đỏ, Chí Linh, Hải Dương
28 Siêu thị Hapro Mart Tổ 8B, P. Đức Xuân, Tx Bắc Kạn, Bắc Kạn
(Nguồn: Tổng công ty Thương mại Hà Nội)
2.3. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHUỖI SIÊU THỊ
HAPRO MART
Bảng 2.3: Bảng tổng kết doanh số của các đơn vị trong năm 2008
Đơn vị tính: triệu đồng
STT CÁC ĐƠN VỊ
KẾ
HOẠCH
NĂM 2008
DOANH
THU
THỰC
HIỆN
Thực hiện/ Kế hoạch
1. Siêu thị Thanh Xuân 41.000 35.878 87,5%
Doanh thu đầu kệ 780
Doanh thu hoa hồng 2.220
Doanh thu bán lẻ 32.878
2. Siêu thị D2 Giảng Võ 35.000 29.169 83,3%
Doanh thu đầu kệ 749
Doanh thu hoa hồng 1.895
Doanh thu bán lẻ 26.525
3. Siêu thị 5 Nam Bộ 16.000 16.679 104,2%
Doanh thu đầu kệ 726

thói quen của người Việt Nam nếu chợ và siêu thị đặt liền kề nhau như vậy thì chợ sẽ
là sự lựa chọn ưa tiên hơn đối với họ, đây quả thực là một bất lợi lớn cho hoạt động
của Hapro Mart Hoàng Hoa Thám. Các đơn vị khác do tình hình đặc thù của mình
nên chưa thể hoàn thành được chỉ tiêu đề ra nhưng kết quả cũng khá tốt: Siêu thị
Thanh Xuân là 87,5%, Siêu thị D2 Giảng Võ là 83,3%, Cửa hàng tiện ích Nam Trung
Yên là 61,5%, Cửa hàng tiện ích Vĩnh Phúc là 94,7%. Trong năm 2009, Ban Giám
đốc Công ty Siêu thị sẽ xem xét kỹ tình hình của từng đơn vị và có sự chỉ đạo kịp
thời để năm nào các đơn vị cũng sẽ hoàn thành tốt và vượt kế hoạch như Siêu thị 5
Nam Bộ, góp phần mở rộng cả về qui mô và danh tiếng của chuỗi Hapro Mart.
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
19
Đề án Kinh tế Thương mại
Bảng 2.4: Bảng tổng kết doanh số theo nhóm hàng trong năm 2008
Đơn vị tính: triệu đồng
STT CÁC ĐƠN VỊ
Thực
phẩm khô
Thực phẩm
tươi
Tạp phẩm,
gia dụng
Hoá mỹ
phẩm, tẩy
rửa
May mặc
Hàng hoá
khác
1. ST. Thanh Xuân 6.897,61 3.926,41 10.608,11 4.267,19 1.956,34 939,13
2. ST. D2 Giảng Võ 10.734,45 2.168,07 7.113,09 3.018,23 9.873,17 468,11

hoá, vệ sinh an toàn được người tiêu dùng hết sức chú ý.
Tổng kết doanh thu theo nhòm hàng thì 2 siêu thị Thanh Xuân và D2 Giảng Võ
là 2 đơn vị có số lượng hàng hoá tiêu thụ mạnh nhất. Thanh Xuân đứng đầu về 3
nhóm hàng: nhóm hàng Thực phẩm tươi, nhóm hàng Tạp phẩm và hàng gia dụng và
nhóm hàng Hoá mỹ phẩm và chất tẩy rửa. Siêu thị D2 Giảng Võ đứng đầu ở 2 nhóm
hàng: nhóm hàng Thực phẩm khô và nhóm hàng May mặc.
2.4. PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CHUỐI SIÊU THỊ
HAPRO MART
2.4.1. Môi trường chung
2.4.1.1. Yếu tố kinh tế
Thuận lợi:
11/01/2007, Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức Thương mại thế
giới WTO. Lúc này thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng rộng lớn,
nó không chỉ giới hạn trong nước, trong khu vực mà là ở phạm vi toàn cầu, thị trường
quốc tế sẽ biết đến sự có mặt nhiều hơn của hàng hoá Việt Nam. Các doanh nghiệp
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
22
Đề án Kinh tế Thương mại
trong nước sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với nhiều thị trường mới đầy tiềm năng, bạn
hàng đối tác cũng sẽ tăng lên. Do vậy mà hiệu quả kinh tế cũng sẽ không ngừng tăng.
Khách du lịch đến Việt Nam ngày càng tăng, Việt Nam trở thành điểm đến hấp
dẫn của nhiều khách du lịch quốc tế. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2007 lượng
khách quốc tế tới Việt Nam là 4,23 triệu lượt tăng 18% so với năm 2006. Lượng
khách du lịch tăng khiến cho cầu về hàng hoá, sản phẩm tăng khiến các doanh nghiệp
phải mở rộng qui mô và đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ thì mới có thể thoả mãn nhu
cầu ngày càng phong phú, đa dạng.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tại Việt Nam luôn tăng trưởng trong vòng
8 năm qua. Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ đã tăng từ
220 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên đến 480 nghìn tỷ đồng năm 2006 và 726 nghìn tỷ

Thuận lợi:
Mặc dù bên ngoài đang có nhiều biến động chính trị bất thường như vấn đề
Irac, những cuộc khủng bố lớn trên thế giới,... nhưng Việt Nam vẫn được đánh giá là
có môi trường chính trị ổn định, không có xung đột tôn giáo, sắc tộc trong nước.
Nhận định này rất có lợi cho sự phát triển của Việt Nam.
Trong thời gian vừa qua Việt Nam đã chứng tở với bạn bè trên thế giới thấy
Việt Nam là điểm đến, địa điểm du lịch an toàn. Đặc biệt là trong đợt dịch cúm gia
cầm vừa qua, Việt Nam đã khống chế được dịch không để dịch lan rộng, do vậy mà
niềm tin của Việt Nam trong lòng bạn bè quốc tế ngày càng được tăng lên.
Việt Nam chủ trương đa phương hóa, đa dạng hoá các mối quan hệ hợp tác với
các nước trên thế giới, từ đó thị trường hàng hoá ngày càng phong phú, khách hàng
ngày càng đa dạng.
Khó khăn:
Trong thời gian qua, chiến tranh và các cuộc khủng bố liên tiếp nổ ra ở nhiều
nơi trên thế giới gây ra những biến động về giá cả ảnh hưởng đến tâm lý tiêu dùng
Bất đồng chính trị giữa các nước, bất đồng giữa Mỹ và các nước theo con
đường chủ nghĩa xã hội ngày càng gia tăng, đặc biệt là những sự kiện gần đây của
Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều tiên về chương trình hạt nhân và vụ thử tên lửa, và
chương trình hạt nhân của nước I-Ran cũng gây nên tình trạng bất ổn định, ảnh
hưởng chung đến nền kinh tế thế giới.
2.4.1.3. Yếu tố pháp luật
Thuận lợi:
Pháp luật Việt Nam hướng tới tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
kinh doanh, xu hướng ngày càng đơn giản hoá các thủ tục hành chính cho các doanh
nghiệp. Đặc biệt là khi Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới, các
doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam sẽ không ngừng tăng lên do vậy mà
hệ thống pháp luật ngày càng phải hoàn chỉnh, tạo độ thông thoáng cho các doanh
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
24

doanh giúp doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và năng suất hơn.
Các doanh nghiệp trong nước được bảo vệ quyền lợi hơn trong việc mua sắm
Nguyễn Đức Linh - Thương mại 48B - ĐH KTQD
GVHD: PGS.TS.Phan Tố Uyên
25

Trích đoạn Xây dựng thương hiệu Nghiên cứu nhu cầu thị trường Hoàn thiện chiến lược giá Các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thương mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status