HƯỚNG dẫn học SINH LUYỆN tập DẠNG đề NGHỊ LUẬN về một đoạn TRÍCH văn XUÔI - Pdf 31

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LUYỆN TẬP DẠNG ĐỀ
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
ThS Đặng Thị Lan Hương – GV THPT
Chuyên Thái Nguyên

Có người đã cho rằng, nếu coi mỗi tác phẩm văn chương trong
nhà trường là một kho báu, thì thầy cô là người hướng dẫn học sinh
thấy cánh cửa ấy và cách mở nó ra, còn các em phải là người bước
vào, lượm lấy châu ngọc làm của riêng, đem về chế tác và làm giàu,
làm đẹp cho tâm hồn mình.
Tuy nhiên, để làm được điều ấy, đối với các thầy cô giáo và
các em học sinh, đều không phải là dễ dàng. Nhất là gần đây, môn
Ngữ văn có những dạng đề rất mới mẻ, đòi hỏi khả năng tư duy
sáng tạo, chủ động của học sinh. Ví như dạng đề “nghị luận về một
đoạn trích văn xuôi”.
Đối tượng nghị luận là một đoạn văn ngắn (từ 5 đến 20 dòng),
thường là đoạn văn quan trọng, khá hoàn chỉnh và có tính độc lập
tương đối trong tác phẩm. Nếu như các kì thi cấp tỉnh hướng tới
những đoạn văn quen thuộc, đã được cày xới nhiều thì các kì thi cấp
quốc gia lại quan tâm đến những đoạn văn mang yếu tố mới lạ, bất
ngờ.
Việc hướng dẫn các em học sinh tìm hiểu tất cả các đoạn trích
văn xuôi trong chương trình, nghĩa là lấy châu ngọc và chế tác sẵn
rồi trao cho từng em, là không thể. Vì vậy, việc trao cho các em bí
quyết để các em có thể tự mình làm công việc đó có ý nghĩa đặc
biệt, giúp các em chủ động, tự tin khi gặp dạng đề này.
Đề bài:
Cảm nhận của anh (chị) về đoạn trích sau:
“… Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn
một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn
tiếng sáo. Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với

do. Chỉ vì bố mẹ Mị vay nợ nhà thống lí Pá Tra để cưới nhau không
trả được nên Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho gia đình này. Còn
A Sử là con trai của thống lí Pá Tra.
2.Đoạn văn thuật kể sự việc:
- Trước đó, nhà văn miêu tả sự hồi sinh trong tâm hồn của Mị.
Trong trạng thái đã bị kích thích bởi men rượu, bởi âm thanh náo
động của bữa cơm cúng ma trong nhà Pá Tra và sự lôi cuốn của
tiếng sáo gọi bạn tình, Mị đã vượt khỏi tâm trạng thờ ơ nguội lạnh
bấy lâu nay. Mị hồi tưởng quá khứ tươi đẹp bằng tâm hồn nhạy cảm
của tuổi thanh xuân đầy sức sống. Đó cũng là lúc những suy nghĩ và
mong muốn diễn ra dồn dập trong tâm trí nhân vật: “Mị trẻ lắm. Mị
vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”.
2


- Đoạn trích kể lại sự việc Mị chuẩn bị để đi chơi. Nhưng A Sử bất
chợt trở về. Hắn đã trói nghiến Mị vào cột nhà, sau đó thản nhiên bỏ
đi.
- Sau khi bị A Sử trói đứng vào cột, Mị vẫn chập chờn nửa mê nửa
tỉnh cho đến khi trời sáng, men rượu đã nhạt, tiếng sáo cũng không
còn, Mị mới bàng hoàng tỉnh hẳn lại. Đúng là trong cùng cực “mọi
thế lực tội ác không thể giết được sức sống của con người. Lay lắt,
đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt” (Tô
Hoài).
3. Những chi tiết nghệ thuật gắn với việc miêu tả nhân vật Mị:
+ Mị không hiện lên ở lời nói: “Bây giờ Mị cũng không nói. Mị
không nói”. Cấu trúc câu phủ định, lặp lại tới 2 lần có tác dụng nhấn
mạnh, khắc sâu tính chất bất thường (vì lời nói chính là một thuộc
tính của con người). Bởi lẽ Mị đang sống một cách mãnh liệt, cao
độ, toàn tâm toàn ý trong nội tâm của mình, với tiếng sáo, tuổi trẻ và

trong Mị. Ở Mị đã có sự trở lại của ý thức nữ tính (muốn làm đẹp
cho mình), và của nhu cầu nhân tính (nhu cầu vui chơi). Từ hành
động xắn mỡ bỏ vào đĩa đèn đến hành động “quấn lại tóc, với tay
lấy cái váy hoa, sửa soạn đi chơi tết, Mị hành động như một con
người hoàn toàn tỉnh táo và tự do, theo tiếng gọi của lòng mình.
* Nhận xét:
Việc chuẩn bị đi chơi, niềm vui sướng rạo rực trong không khí
tết đến xuân về lẽ ra phải được thể hiện bằng nụ cười, ánh mắt, bằng
lời nói… Còn Mị, mọi việc làm, cử chỉ, hành động… của cô đều
diễn ra trong vô thức, trong câm lặng. Điều đó chứng tỏ sự hồi sinh
của nhân vật mới ở bên trong thế giới tâm hồn, mạnh mẽ nhưng
cũng thật nhỏ hẹp, đáng thương. Cho nên khi bị A Sử trói đứng vào
cột nhà một cách dã man, Mị vẫn câm lặng, không hề phản ứng.
Nhìn bề ngoài, Mị vẫn như là một cái xác không hồn. Ẩn chứa trong
từng câu chữ là thái độ thương cảm, xót xa của nhà văn đối với số
phận bi thảm của người phụ nữ dưới ách thống trị của giai cấp
phong kiến đương thời.
3. Những chi tiết nghệ thuật gắn với việc miêu tả nhân vật A Sử:
Khác với Mị đang chập chờn nửa say nửa tỉnh, A Sử đang rất
tỉnh táo. Y tạt qua nhà chỉ để thay trang phục và tiếp tục đi chơi
xuân. Y nhận thấy Mị đang có những hành động khác thường.
+ Lời nói: A Sử hỏi: Mày muốn đi chơi à? Mị không nói. A Sử
cũng không hỏi thêm nữa. Câu hỏi là lời nói duy nhất được cất lên,
nhưng là do quá bất ngờ, nó bật lên như một phản xạ chứ A Sử hoàn
toàn không có nhu cầu nghe câu trả lời. Cho nên dù Mị không trả
lời, A Sử cũng không hỏi thêm nữa. A Sử cũng không thấy cần phải
nói thêm điều gì với Mị, kể cả ra lệnh, hay cấm đoán, chứ chưa nói
là lời giải thích. A Sử cũng thấy không cần phải biểu lộ thái độ tức
giận hay bực bội. A Sử không coi Mị là con người, mà chỉ như con
4

quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu
được nữa. A Sử đã sử dụng một thứ dây trói đặc biệt tàn ác, phi
nhân tính. Bởi lẽ, mái tóc luôn là dấu hiệu của nữ tính. Nó không chỉ
gợi lên vẻ đẹp, sự duyên dáng, quyến rũ mà còn gợi nên sự mong
manh, yếu đuối, cần được chở che, bênh vực. Song với A Sử, mái
tóc ấy không thức tỉnh một chút nhân tính nào trong con người hắn.
Với A Sử, mái tóc ấy chỉ đơn thuần là một thứ dây trói, khiến cho
5


Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa. Và cũng chỉ đến lúc
này, hắn mới thật sự yên tâm!
+ Hành động: Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh
ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại...”. Những
hành vi tội ác thường diễn ra khi con người rơi vào trạng thái bị kích
động dữ dội, đến mức không còn lí trí, không còn khả năng kiềm
chế và kiểm soát bản thân. Nhưng ở đây, A Sử trói vợ một cách thản
nhiên, lạnh lùng như đối với một công việc bình thường, quen
thuộc. Một chuỗi những hành động “tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng
lại” diễn ra một cách tuần tự, rành rẽ, bình tĩnh, thản nhiên; ẩn chứa
tiếng nói căm giận của nhà văn với kẻ vũ phu vô nhân tính.
Hành động tàn ác như vậy nhưng hắn vẫn không quên mục
đích trở về nhà của hắn. Chi tiết “cái thắt lưng” một lần nữa quay trở
lại, nhưng là chiếc thắt lưng xanh được thắt ra ngoài áo, chiếc thắt
lưng góp phần làm cho hắn trở nên bảnh bao, ấn tượng hơn trong
các cuộc chơi ngày Tết. Nó không chỉ tô đậm sự tàn ác, vô cảm của
A Sử mà còn nói lên sự chà đạp bất công của giai cấp thống trị. Bi
kịch của Mị gợi nhớ bi kịch của cô Tấm ngày xưa khi bị mụ dì ghẻ
trộn thóc với gạo, bắt nhặt cho xong trong khi mẹ con mụ xúng xính
quần là áo lựơt đi dự hội làng. Mị không chỉ bị bóc lột tàn tệ sức lao

bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi
theo những cuộc chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao
rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào…”. Mị vùng bước đi.
Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa.
Chỉ nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi
chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.
(Vợ chồng A Phủ - Văn học 12, tập một, NXB Giáo dục
năm 2000).
Cảm nhận của anh (chị) về nhân vật Mị và ngòi bút của Tô
Hoài trong đoạn trích trên.

BÀI LÀM CỦA HỌC SINH
(Em Nguyễn Ngọc Thúy
Học sinh lớp 11 chuyên Văn trường THPT Chuyên Thái
Nguyên)
Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài,
nhân vật Mị đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Đó là một cô
7


gái Mèo trẻ đẹp, yêu đời có khát khao tự do cháy bỏng nhưng phải
sống một cuộc sống đau khổ trong “địa ngục trần gian” nhà thống lí
với thân phận người con dâu gạt nợ. Nếu như quãng đời tù ngục ấy
luôn tồn tại sự đấu tranh âm ỉ mà mãnh liệt giữa số phận bi thảm và
sức sống tiềm tàng của Mị, thì cảnh Mị bị A Sử trói đứng vào cột
nhà trong bóng tối, phải chăng là một hình ảnh đã cô đúc sâu sắc và
thấm thía về cái hiện thực cuộc sống đau khổ kia? Nhà văn Tô Hoài
như đã hóa thân vào nhân vật để viết nên một đoạn văn thật tinh tế
và giàu ý nghĩa: “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết
mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo

từng lớp sóng ào ạt trong tâm hồn Mị!
Nếu như ở các đoạn trước, men rượu và tiếng sáo đã đưa Mị
trở về sống với những ước mơ, khát vọng, thì giờ đây những vòng
dây trói siết chặt đã kéo cô về với thực tại, với số phận đau khổ của
mình! “Mị vùng bước đi” trước sự quyến rũ và mời gọi của tiếng
sáo, thế nhưng “tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng
sáo nữa.” Tiếng sáo vụt tắt, ước mơ tan biến, thay vào đó là hiện
thực trần trụi, phũ phàng: “Chỉ còn tiếng chân ngựa đạp vào vách.”
Với hai từ “bước đi”, dường như Mị đã bước sang một thế giới khác
đầy tối tăm, đau khổ! Nhưng không chỉ đau đớn về thể xác, Mị còn
cay đắng nhận ra số phận mình không bằng con ngựa! “Ngựa vẫn
đứng yên gãi chân nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con
ngựa…” Cái dây trói kia chỉ có thể làm Mị đau đớn về thể xác,
nhưng cái tiếng chân ngựa này mới thực sự xoáy sâu vào nỗi đau
tinh thần của Mị khi nó gợi lên một sự so sánh thật nghiệt ngã, xót
xa về thân phận con người!
Chỉ với một đoạn văn ngắn gọn, được xây dựng bởi những
chi tiết cô đọng giàu ý nghĩa, tác giả đã khắc họa một cách sâu sắc
và tinh tế tâm trạng của nhân vật trong hai cảnh đối lập: ước mơ tự
do - hiện thực tù ngục: từ khi chập chờn, mê man theo tiếng sáo như
một kẻ mộng du, rồi dẫn đến hành động “vùng bước đi” để rồi tỉnh
lại và cay đắng xót xa cho thân phận khi “thổn thức nghĩ mình
không bằng con ngựa”. Hai tâm trạng ấy nối tiếp nhau để góp phần
xây dựng nên hoàn chỉnh bức chân dung thân phận của nhân vật.
Với ngòi bút phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo, những chi
tiết vừa hiện thực vừa giàu chất thơ, ngôn ngữ giọng điệu linh hoạt
cùng với tấm lòng yêu thương bao la và đồng cảm cho những số
phận bất hạnh, Tô Hoài đã khắc họa thật rõ nét và chân thực ước
mơ, khát vọng của Mị cũng như sức sống tiềm tàng ẩn trong tâm
hồn của nhân vật.


10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status