Định hướng phát triển kinh tế trang trại gia đình tỉnh bà rịa vũng tàu - Pdf 31

B

TR

GIÁO D C VÀ ÀO T O

NG

I H C KINH T TP.HCM

HUY HOÀNG

LU N V N TH C S KINH T

TP. H Chí Minh – N m 2000


LỜI NÓI ĐẦU
I. Đặt vấn đề nghiên cứu:
Sản xuất Nông nghiệp trên thế giới hiện nay có nhiều hình thức tổ chức sản
xuất khác nhau. Đến nay trang trại gia đình là hình thức sản xuất ổn đònh nhất, là
lực lượng sản xuất chủ yếu, tạo ra phần lớn khối lượng nông sản hàng hoá ở các
nước nhất là ở các nước đã phát triển, đã tiến hành công nghiệp hoá và cơ giới
hoá nông nghiệp.
Từ khi có chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thò trường, có sự quản lý cuả nhà nước, ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều loại
hình kinh tế mới trong nông lâm nghiệp, trong đó có kinh tế trang trại.
Đối với nước ta kinh tế trang trại gia đình mới hình thành và đang ở giai
đoạn đầu phát triển trong nền kinh tế thò trường còn sơ khai. Thực trạng, xu hướng
phát triển, đònh hướng phát triển và các giải pháp đồng bộ cho kinh tế trang trại
gia đình là những vấn đề đang đặt ra một cách bức xúc trên phạm vi cả nước cũng

Vấn đề kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại gia đình nói riêng ở
nước ta được đề cập và quan tâm từ sau đổi mới nhất là từ sau 1993. Từ đó đến
nay có nhiều bài viết cuả nhiều nhà nghiên cứu được đăng trên nhiều tạp chí. Tuy
vậy, cho đến nay vẫn cón khá nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề mang tính thời
sự này.
II. Mục tiêu nghiên cứu:
Phân tích cơ sở khoa học vai trò và xu hướng phát triển kinh tế trang trại
gia đình. Từ đó đề xuất đònh hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế
trang trại gia đình ở tỉnh Bà Riạ- Vũng tàu sao cho đúng hướng và có hiệu quả.
III. Nội dung nghiên cứu
1. Hệ thống và làm rõ những vấn đề lý luận về kinh tế trang trại .
2. Đánh giá thực trạng và xu thế phát triển kinh tế trang trại gia đình ở tỉnh
Bà Riạ- Vũng tàu.
3. Từ thực tiễn sản xuất, đề ra một số đònh hướng và các giải pháp cụ thể
để có thể quản lý và phát triển kinh tế trang trại gia đình ở tỉnh Bà Riạ Vũng
Tàu. Kiến nghò về chủ trương , cơ chế chính sách, luật pháp đối với loại hình kinh
tế này., hầu góp phần tạo một nội lực mới trong việc phát huy các tiềm năng về
đất đai, lao động, vốn.v.v..... trong nông nghiệp nông thôn.
IV. Đối tượng và phạm vi giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: các trang trại gia đình - là kiểu trang trại độc lập
sản xuất kinh doanh cuả từng gia đình do người có năng lực và uy tín trong gia
đình đứng ra quản lý và lao động chủ yếu là các thành viên trong gia đình ( không
quan tâm tới các loại hình khác như Hợp tác xã, Nông trường ) thuộc các lãnh vực
bao gồm : chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, lâm nghiệp trong
phạm vi tỉnh Bà Ròa- Vũng tàu.
V. Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng va duy vật lòch sử , luận án còn
sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích hệ thống,
phương pháp thống kê so sánh, phưong pháp điều tra chuyên sâu : phỏng vấn.
VII. Bố cục cuả luận án gồm: lời mở đầu, 3 chương, kết luận và danh mục tài

đạt được kết quả cao hơn các thời kỳ trước, tuy nhiên tỷ suất hàng hóa của nông
hộ còn thấp như quy mô và những điều kiện sản xuất như ruộng đất, vốn, kỹ
thuật, thò trường…bò hạn hẹp, dẫn đến năng suất lao động thấp. Sản phẩm làm ra
mới đủ tự cấp, tự túc, phần còn lại là sản phẩm hàng hóa rất ít. Như C.Mác đã
phân tích về kinh tế tiểu nông: “Những người sản xuất, tức nông dân ở đây đã
tiêu dùng đại bộ phận sản phẩm nông nghiệp là tư liệu sinh hoạt trực tiếp và chỉ
một phần dư ra mới đi vào lưu thông buôn bán với thò trường với tư cách là hàng
3


hóa.(C.Mác toàn tập 25 tr. 520). Đó chính là những giới hạn của kinh tế tiểư nông
hay kinh tế nông hộ. Trong nền kinh tế thò trường như hiện nay, tính chất sản xuất
cuả kinh tế tiểu nông không còn phù hợp nưã mà đòi hỏi phải có 1 hình thức tổ
chức sản xuất khác tiến bộ hơn, phù hợp hơn mang lại hiệu quả kinh tế hơn. Từ đó
kinh tế trang trại ra đời.Do đó xu hướng phát triển từ kinh tế tiểu nông sang kinh
tế trang trại là tất yếu, khách quan của qúa trình phát triển vì những lẽ sau:
- Tích tụ và tập trung tư bản trong sản xuất là quy luật của qúa trình chuyển
từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, từ sản xuất hàng hóa giản đơn lên sản xuất hàng
hóa trình độ cao. Chỉ khi mà tư liệu sản xuất, vốn, sức lao động được tập trung ở
một quy mô nhất đònh thì mới có điều kiện phát triển phân công lao động cả chiều
rộng lẫn chiều sâu và sản xuất hàng hóa do vậy phát triển.
- Xuất phát từ quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sau hơn 10 năm đổi mới, cùng với sự tăng
cường tiềm lực cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp thì một đội ngũ nông
dân sản xuất giỏi, biết làm giàu, có năng lực sản xuất kinh doanh cũng đã từng
bước hình thành. Như vậy là tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong
nông nghiệp đã có sự phát triển mới. Do vậy đòi hỏi quy mô sở hữu, quan hệ,
cách thức, công cụ và biện pháp quản lý sản xuất kinh doanh cũng có sự "chuyển
dòch "tương ứng. Thực tiễn cho thấy quy mô qúa nhỏ bé, phân tán về tư liệu sản
xuất, vốn, sức lao động là những cản ngại cho việc cơ giới hóa và việc áp dụng

việc sản xuất ra hàng loạt sản phẩm với chi phí thấp nhất, trên cơ sở đó thúc đẩy
tăng trưởng cả thò trường đầu ra lẫn thò trường đầu vào.
Tóm lại, kinh tế trang trại là mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của một
nền nông nghiệp thương phẩm mà sự xuất hiện vận động của nó nảy sinh từ
những yêu cầu khách quan bởi qúa trình phát triển cơ chế thò trường trong nông
nghiệp, nông thôn. Từ kinh nghiệm các nước trên thế giới và thực tiễn nước ta, có
thể thấy con đường để sản xuất nông nghiệp từ tự cấp, tự túc chuyển sang sản
xuất hàng hóa là con đường phát triển kinh tế trang trại mà phổ biến là trang trại
gia đình.
II. ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CUẢ KINH TẾ TRANG TRẠI
GIA ĐÌNH
1. Đặc điểm kinh tế trang trại gia đình
- Kinh tế trang trại gia đình là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc
điểm sản xuất nông nghiệp mà đối tượng chủ yếu là sinh vật. Người chủ trang trại
trực tiếp tác động vào quá trình sinh sản cuả cây trồng, vật nuôi luôn bám sát
ruộng đồng, chuồng trại nên đạt hiệu quả cao trong sản xuất.
- Kinh tế trang trại gia đình thực chất là một tập thể lao động gia đình bao
gồm chủ trại, lao động chính, lao động phụ và khi cần thuê thêm 1 ít lao động. Vì
vậy việc điều hành quản lý lao động rất thuận lợi, đem lại hiệu quả cao.
- Khác với nền sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp cuả tiểu nông, kinh tế
trang trại là bước phát triển mới, trở thành lực lượng sản xuất quan trọng, nổi bật
trong nền kinh tế nông nghiệp thương phẩm.
- Cơ sở sản xuất cuả kinh tế trang trại gia đình phổ biến là quy mô vưà
phải, gọn nhẹ nên có khả năng thích ứng linh hoạt trước các biến động cuả thò
trường và hoàn cảnh cho phép thay đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất, phương
hướng, tạo thế cạnh tranh có lợi cho nền kinh tế thò trường.
5


- Kinh tế trang trại gia đình tuy là cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể nhưng

để tăng thêm lợi nhuận. Sự tập trung sản xuất đòi hỏi các trang trại phải sử dụng
máy móc để sản xuất nâng cao năng suất lao động, đầu tư khoa học công nghệ
máy móc thiết bò, tăng cường quản lý , nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Tăng tích lũy và thu nhập cho đất nước , cho nông dân.
6


- Góp phần thúc đẩy hình thành phân công lại lao động xã hội trong khu
vực và chuyển dòch cơ cấu kinh tế ở đòa bàn.
IV. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
Ở VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI.
1. Lòch sử phát triển kinh tế trang trại các nước trên Thế giới
Trải qua mấy trăm năm phát triển cuả chủ nghiã Tư Bản, dưới tác động cuả
các quy luật kinh tế thò trường, kinh tế trang trại trong nông nghiệp đã ra đời và
phát triển khá phổ biến ở các nước trên thế giới và ngày nay đã trở thành một mô
hình tổ chức kinh tế cơ bản đem lại hiệu quả cao ở nhiều nước.
- Ở Châu u, trước hết Tây u là cái nôi cuả cuộc Cách Mạng Công
nghiệp lần thứ nhất, đồng thời cũng là nơi xuất hiện đầu tiên hình thức tổ chức
sản xuất trang trại gia đình trong nông nghiệp sản xuất nông sản hàng hoá thay
thế cho hình thức tiểu nông và hình thức đại điền trang cuả giai cấp quý tộc.
Ở Nước Anh, theo thực tiễn cho thấy sản xuất nông nghiệp tập trung quy
mô lớn , sử dụng lao động làm thuê không mang lại hiệu quả mong muốn. Vì vậy
chính nước Anh vẫn tồn tại và phát triển kinh tế trang trại gia đình , theo thống kê
năm 1987 ở Anh có 254.000 trang trại.
Ở các nước Châu u khác như Pháp, Đức, Italy, Hà Lan, Đan Mạch, Na
Uy, Th Điển..... trang trại gia đình rất phát triển, sản xuất ra nhiều sản phẩm
hàng hoá. Ví dụ: Ở Pháp năm 1928 có 5.672.000 trang trại gia đình quy mô bình
quân 5,9ha đến năm 1892 số trang trại tăng lên 5.703.000 và quy mô bình quân
5,8ha. Ở Đức năm 1882 có 5.276.000 trang trại quy mô bình quân 6ha đến năm
1907 số trang trại tăng lên 5.736.000 và quy mô bình quân 5,8ha.

kinh tế trang trại gia đình cũng đã xuất hiện, tập trung chủ yếu ở các vùng đồi núi
sản xuất nông sản xuất khẩu, còn chính ở vùng Đồng bằng sản xuất lương thực thì
phần lớn vẫn là hộ tiểu nông sản xuất còn mang nặng tính chất tự cung tự cấp.
Ở Malaixia, Inđônexia từ lâu đã có các đồn điền trồng cao su, cà phê sử
dụng công nhân làm thuê theo phương thức tư bản doanh nghiệp. Từ khi giành
được độc lập đã chuyển sang hình thức các công ty quốc doanh và tư nhân sản
xuất kinh doanh theo phương thức cho các hộ nông dân tự khai phá đất đai lập
trang trại sản xuất cây công nghiệp ở vùng tập trung . Quy mô trang trại chỉ từ 12ha là phổ biến, nhưng toàn bộ sản phẩm làm ra đều là hàng hoá. Các công ty
quốc doanh và tư nhân đảm bảo dòch vụ đầu vào, đầu ra cho các trang trại gia
đình sản xuất luá và cây công nghiệp. Đặc biệt ở Malaixia đã tổ chức phát triển
trang trại gia đình ở các vùng đất mới trồng cây công nghiệp xuất khẩu như cao
su, dầu cọ..... khá thành công và đạt hiệu quả cao, tiếp đến là phát triển kinh tế
trang trại trong ngành chăn nuôi gia cầm và bò sưã. Theo số liệu năm 1992 ở
Malaixia có 600.000 trang trại quy mô từ 2-3ha đã sản xuất 4 triệu tấn dầu cọ, 1
triệu tấn cao su, 6,5 triệu tấn dầu thực vật và 23.000 tấn hạt tiêu.
Ở Thái Lan, cũng hình thành các vùng sản xuất nông sản xuất khẩu như cà
phê, cao su, sắn mà lực lượng sản xuất chủ yếu là các trang trại gia đình. Đến
năm 1988 Thái Lan có 5.245 trang trại quy mô bình quân 4,52 ha.
2. Lich sử phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam qua các giai đoạn
2.1 Trước 1975
Ở Việt Nam kinh tế trang trại đã có từ lâu, nhưng có lẽ phải đến khi thực
8


dân Pháp thiết lập chế độ thuộc điạ tại Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX thì kinh tế
trang trại mới hình thành rõ nét do người Pháp lập ra các đồn điền trồng cao su ,
cà phê chè ở các tỉnh Miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc.
- Kinh tế tiểu nông cuả những gia đình bần nông và một phần trung nông
lớp dưới là những gia đình có chút ít ruộng đất và công cụ sản xuất thường phải
lãnh canh ruộng đất cuả đòa chủ để cày cấy thêm. Việc làm thuê chỉ là phụ.

dụng ruộng đất”
9


- Như vậy sau 30 năm tổ chức phong trào hợp tác hoá, đến nay chúng ta
mới có quan niệm đứng đắn về kinh tế hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.
Từ việc coi hộ gia đình là đơn vò kinh tế tự chủ , nên các hộ được giao quyền sử
dụng đất- tư liệu sản xuất chủ yếu một cách ổn đònh, lâu dài và có quyền sở hữu
các tư liệu sản xuất khác. Các hộ gia đình hoạt động theo cơ chế thò trường, tự
hạch toán, tự trang trải, lấy thu bù chi và làm ăn có lãi. Đây là nguồn gốc động
lực mới, tạo điều kiện để các hộ gia đình hoạt động theo phưong thức sản xuất
hàng hoá, trở thành các trang trại gia đình. Bên cạnh đóù chính phủ thực hiện
chương trình 327 về phủ xanh đất trống, đồi trọc, chủ trương giao đất, giao rừng
nhiều hộ gia đình miền Đông Nam bộ đã mượn đất trồng rừng, trồng cây công
nghiệp dài ngày như cây cao su, điều.... đã hình thành những hộ có diện tích canh
tác lớn, kinh tế trang trại phát triển nhanh chóng. Cho đến nay có trên 100 ngàn
trang trại hình thành, thu hút hàng chục vạn lao động, tạo ra một khối lượng nông
sản hàng hoá ngày càng cao.
V. KHÁI NIỆM VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI
1. Đònh nghiã cuả một số tác giả về kinh tế trang trại
Ở nước ta kinh tế trang trại có từ lâu đời , tuy nhiên qua các thời kỳ lòch sử
kinh tế trang trại cũng có lúc thăng, lúc trầm.Trong những năm gần đây với đường
lối mới của Đảng chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
động theo cơ chế thò trường có sự quản lý của nhà nước, theo đònh hướng XHCN
,hộ nông dân được khẳng đònh là đơn vò kinh tế tự chủ thì kinh tế trang trại được
phát triển nhanh chóng ở khắp mọi miền đất nước. Song cho đến nay xung quanh
vấn đề kinh tế trang trại có rất nhiều ý kiến khác nhau. Sau đây là một số đònh
nghóa của một số tác giả về kinh tế trang trại.
Có tác giả cho rằng :” Kinh tế trang trại là loại hình tổ chức sản xuất hàng
hóa lớn trong nông lâm ngư nghiệp của một chủ hộ có sức đầu tư lớn; có năng lực

- Trang trại kinh doanh sinh vật cảnh: trồng hoa, cây cá cảnh.
3. Tiêu thức để nhận dạng trang trại
Hiện nay, mỗi tỉnh có một tiêu thức riêng để nhận dạng kinh tế trang trại
trên điạ bàn cuả mình. Sắp tới có lẽ cũng cần có sự thống nhất để nhận dạng kinh
13


tế trang trại trên phạm vi cả nước. Tuy vậy , chúng tôi cho rằng tiêu thức để nhận
dạng kinh tế trang trại chỉ mang tính chất quy ước và theo thời gian có thể điều
chỉnh cho phù hợp với tình hình.
Theo suy nghó cuả chúng tôi để nhận dạng trang trại trong thực tế cần phải
lượng hoá môt số chỉ tiêu sau:
- Vốn (Cố đònh+ Lưu động) được chủ trang trại đưa vào quá trình sản xuất
kinh doanh
- Giá trò tổng sản lượng hàng hoá và thu nhập do trang trại tạo lập ra trong
một năm:có thể có một con số bằng cách so sánh với mức bình quân hộ nông dân
trong vùng hoặc trong phạm vi toàn quốc.
- Số lao động thuê mùn
- Diện tích ruộng đất: có quy mô tuỳ theo đặc điểm ngành nghề sản xuất
kinh doanh và trình độ thâm canh.
Ngoài ra còn còn có thể có một số chỉ tiêu đònh tính: ứng dụng khoa học kỹ
thuật, công nghệ, trang bò máy móc, thiết bò…. Trong trường hợp trang trại gia đình
thì chủ trang trại phải là người trực tiếp quản lý, điều hành toàn bộ quá trình sản
xuất kinh doanh cuả trang trại.
Từ nhận thức trên, khi tiến hành điều tra thực trạng kinh tế trang trại, Ban
kinh tế Tỉnh Uỷ tỉnh Bà Riạ Vũng tàu lưạ chọn đối tượng điều tra bao gồm những
trang trại có vốn (cố đònh + lưu động- không kể giá trò quyền sử dụng đất) được
chủ trang trại đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh khoảng từ 100 triệu đồng trở
lên. Theo chúng tôi chỉ tiêu về vốn là chỉ tiêu có thể phản ánh khái quát mức độ
tập trung, tích tụ các điều kiện sản xuất kinh doanh , xu hướng sản xuất hàng hoá

thành 9 nhóm (xem bảng 1- phần phụ lục)
Trong tổng số 190.742 ha được điều tra khảo sát thì đất có độ dốc 0-8độ là
156.449 ha ( chiếm 82%). Điều đó cho thấy đất đai Bà Ròa Vũng tàu tương đối
bằng phẳng thuận lợi cho cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp và giao thông vận tải.
Xét về quy mô diện tích, hiện trạng sử dụng và khả năng thích ứng cuả các
nhóm cây thì bốn nhóm đất có ý nghiã hơn cả trong sản xuất nông nghiệp là các
nhóm: đất đỏ vàng, đất xám, đất đen và đất phù sa.
15


Nếu xét trên độ phì canh tác nông nghiệp, đất đai Bà Ròa - Vũng Tàu chia
thành 6 loại như sau:
Bảng 1: Tính chất đất đai của BRVT
Loại đất

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

1.
2.
3.
4.
5.
6.

37.437
50.504
27.030
19.620

- Có 16.740 ha đất xấu có khả năng cải tạo bao gồm cồn đất, đụn cát, đất xám
trên grant. Tuy hạn chế về độ phì nhưng có khả năng cải tạo cho nông nghiệp.
Nếu không có vốn cải tạo thì cải tạo để trồng rừng có tán che giữ đất.
- Có 39.556 ha chiếm 20,7% đất khó cải tạo như đất phèn, đất sói mòn, trơ sỏi đá,
đất vàng trên grant. Đất ở đây có tầng đất quá mỏng, thiếu độ phì lại ở đòa hình
cao, chủ yếu để trồng rừng.
2.3 Nguồn nước và môi trường sinh thái:
- Nguồn nước ở BRVT có 3 lưu vực chính: sông Thò Vải, sông Dinh, sông Ray.
- Sông Thò Vải chảy dọc theo quốc lộ 51,dài 30km, rộng 200- 400m do gần cửa
biển bò thủy triều xâm lấn nên bò mặn quanh năm không dùng cho sinh hoạt và
tưới cây trồng được, chỉ có thể lợi dụng nuôi trồng thủy sản mặn, lợ.
16


- Sông Dinh thượng lưu là sông Xoài, phía Tây quốc lộ 56, dài 58km, lưu vực rộng
504 km2. Các suối Châu Pha, Đá đen, suối son ,suối cầu, suối Nghệ chảy vào
sông Dinh là nguồn nước ngọt chủ yếu của tỉnh. Có hồ Kim Long tưới cho 500 ha
cafê; có 2 đập dâng lớn ( sông Dinh và sông Xoài) và một số đập dâng nhỏ tưới
cho 1.000 ha lúa và cung cấp 30.000 m3 / ngày đêm sinh hoạt
- Hệ thống sông Ray: thượng lưu bắt nguồn từ đòa phận tỉnh Đồng nai, dài 120 km
với 1.300km2 lưu vực. Đi qua phía đông tỉnh dài 49km, trên sông đã có 1 trạm
thủy điện và hồ nước nhỏ, đập dâng để tưới cho cây trồng, cũng là một nguồn
nước ngọt quan trọng của tỉnh.
- Nguồn nước ngầm của tỉnh có độ sâu 60 – 90m. Ở khu vực xa sông, suối, đồi cao
từ 15 – 20m là mức có ít nước. Khai thác mực nước ngầm hiện nay có nhà máy
nước ngầm Bà Ròa và Phú Mỹ có công suất 20.000m3 / ngày đêm / nhà máy.
− Môi trường sinh thái: Bà Ròa -Vũng Tàu có hệ sinh thái biển rất điển hình gồm
3 loại chính: hệ sinh thái vùng biển cửa sông, hệ sinh thái nội đòa trên đất liền, hệ
sinh thái Côn Đảo. Sinh thái môi trường ở Bà Ròa -Vũng Tàu vấn đề chính là sự
khôi phục cho được thảm thực vật nhiệt đới là sự cân bằng sinh thái ven biển bền

- Đồng cỏ
2. Đất lâm nghiệp
3. Diện tích mặt nước
4. Đất ở
5. Đất chuyên dùng
6. Đất chưa sử dụng

Diện tích (ha)
200.670,00
81.968,20
34.464,00
47.038,00
192,00
54.282,57
4.316,77
50.017,00
226,74
9.858,72

Tỷ lệ (%)
100,00
40,84
17,17
23,57
0,09
27,05
2,15
24,92
0,12
4,92


511,275 595,490 690,275 793,148

907

970

tỷ
391,591 433,523 526,076 577,591
đồng
nt
119,684 161,967 164,649 215,557

629

657

278

313

639,698 669,275 690,725 752,760

798

834

106,05

tỷ


- DT cây lương thực

Ha

40.297

41.387

43.203

46.602 45.792 45.755

103,25

- DT cây thực phẩm

Ha

12.455

13.030

13.148

12.357 12.912 13.000

100,90

- DT cây CN ngắn

chuyển đổi theo hướng tăng tỷ trọng các sản phẩm có giá trò kinh tế cao. Diện tích
cây công công nghiệp lâu năm, rau, cây ăn quả tăng nhanh. Đã hình thành một số
vùng tập trung chuyên canh như :
- Cây cao su :19.165ha ( Châu Đức : 9.882ha, Xuyên Mộc: 8.915ha),
- Cây cà phê : 7072ha ( Châu Đức: 4.426ha; Tân Thành: 1.324ha, Xuyên Mộc:
1.161ha), Cây hồ tiêu ( Châu Đức, Xuyên Mộc)
- Cây Điều: 14.800ha ( Xuyên Mộc:6.136ha ,Tân Thành:4.256ha, Châu Đức:
3.475ha),
- Cây bắp: 15.020ha (Châu Đức: 10.053ha, Xuyên Mộc: 3.461ha),
- Cây luá: 21.603ha ( Long Đất: 9.360ha - Châu Đức: 4.072ha - Bà Ròa:3.209hạ), - Cây ăn quả ( Tân Thành Châu Đức, Bà Ròạ).... Chăn nuôi phát triển tương đối
toàn diện.
Qua số liệu trên huyện Châu Đức, Xuyên Mộc có thế mạnh về cây công
nghiệp dài ngày:cao su điều, cà phê, cây bắp và cây mì. Huyện Long đất và thò
xã Bà Riạ nên tập trung cây luá và rau. Huyện Tân thành cây điều và cà phê
3.3 Dân số và lao động nông nghiệp nông thôn
Bà Ròa- Vũng Tàu là một tỉnh công nghiệp và kinh tế dòch vụ trên đòa bàn
tương đối phát triển so với một số điạ phương khác nhưng có một bộ phận lớn
nông dân sống bằng nông nghiệp.
Bảng 4: Cơ cấu hộ nông nghiệp phân theo ngành nghề
Tổng số hộ
1. Hộ nông nghiệp
2. Hộ lâm nghiệp
3. Hộ thuỷsản
4. Hộ CN,tiểu thủ CN
5. Hộ xây dựng
6. Hộ thương nghiệp
7. Hộ dòch vụ
8. Hộ khác

Số hộ (hộ)


nuôi trồng thủy sản) có 161.320 người chiếm 35,29% dân số nông thôn. Theo số
liệu điều tra nông nghiệp – nông thôn năm 1994 của cục thống kê. Toàn tỉnh có
88.687 hộ nông thôn. Trong đó có 50.520 hộ nông nghiệp chiếm tỷ lệ 54,35%,
134 hộ lâm nghiệp, 9.535 hộ thủy sản, còn lại là các ngành nghề khác.
Lao động nông nghiệp năm 1992 là 167.345 người, đến năm 1995 185.950 người ,
tốc độ tăng bình quân hàng năm là 3,75%.
Kết luận: Nông thôn tỉnh Bà Riạ Vũng Tàu cơ bản vẫn là thuần nông. Lực lượng
lao động nông nghiệp dồi dào và có chiều hướng phát triển
3.4 Cơ sở hạ tầng
* Giao thông: toàn tỉnh có 2.195 km đường bộ gồm 495 km đường nhựa,
158 km đường rải đá, 255 km đường cấp phối và 1.287km đường đất. Quốc lộ 51
nối liền BRVT với khu trọng điểm phát triển kinh tế phía nam. Nhìn chung hệ
thống đường sá, giao thông thủy bộ khá phát triển đây là điều kiện thuận lợi cơ
bản để mở rộng và phát triển sản xuất.
* Thủy lợi: cuối năm 1997, tỉnh BRVT về hồ chứa có 24 cái với dung tích
thiết kế 80.340.000m3, năng lực huy động tưới 4.839 / 9.370; tiêu 12.890 ha /
13.020 ha ( Trong đó nhà nước quản lý 14 hồ chứa với dung tích 52.350.000 m3,
tưới được 2.570 / 7.120 ha). Đa phần hồ chứa thuộc kh vực sông Ray, các đập
dâng nước nằm ở hệ thống sông Dinh. Ngoài ra còn hệ thống đê ngăn mặn dài
86.200m phục vụ được 4.470 ha; đê bao chống lũ dài 6.134m phục vụ cho 600
ha; Có 364.501m kênh mương nội đồng.
* Mạng lưới điện: điện lưới giao thông ngày càng được mở rộng. Cuối năm
1997 đường điện trung thế với 392,63km gồm 668 trạm biến áp với công suất
33,786kw. 100 số xã ( 43 / 43 xã) ở nông thôn có lưới điện quốc gia; 63% số hộ
nông thôn được dùng điện ( Long Đất 72%, Tân Thành 62%, Xuyên Mộc 55%,
Châu Đức 52%).
* Y tế – Giáo dục :
- Cơ sở y tế đã có ở hầu hết các xã bảo đảm sức khỏe cho người lao động.
- Trường lớp giáo dục ở các xã nông thôn ngày một mở rộng bảo đảm việc học

Nhìn chung cơ cấu kinh tế vẫn là thuần nông , manh mún, mức bình quân ruộng
đất trên đầu người ít, số lao động dư thưà, thiếu việc làm còn nhiều năng suất lao
động còn thấp.
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
Ở TỈNH BÀ-RIẠ VŨNG TÀU
Quá trình hình thành kinh tế trang trại ở BRVT có những nét tương đồng với
những tỉnh khác trong vùng Đông Nam Bộ, về đại thể có thể chia làm 3 giai đoạn:
trước 1975, 1975 – 1986, 1986 đến nay.
- Trước năm 1975: Sau khi thiết lập chế độ thuộc đòa ở Việt Nam, người Pháp
chủ trương tập trung ruộng đất để thiết lập đồn điền cao su với quy mô diện tích
hàng trăm, hàng ngàn ha. Bên cạnh đó, ở nông thôn vẫn tồn tại tầng lớp đòa chủ,
phú nông và số đông nông dân do không có hoặc thiếu ruộng đất phải đi làm
thuê hoặc lónh canh ruộng đất.

21


Sau cách mạng tháng tám và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã
cùng tồn tại hai loại chính sách ruộng đất khác nhau. Vùng do cách mạng kiểm
soát đã thực hiện chính sách người cày có ruộng với việc giảm tô thuế, chia cấp
ruộng đất cho nông dân. Để đối phó với chính sách của cách mạng, chính quyền
Bảo Đại và Ngô Đình Diệm đã ban hành chính sách như quy đònh mức tối đa của
tô thuế, quy chế tá điền, chế độ tái phân ruộng đất, hạn chế tập trung ruộng đất,
…đã điều chỉnh lại ruộng đất đòa chủ từ 100 ha xuống 15 ha, đất hương quả từ 15
ha xuống 5ha.
- Giai đoạn 1975 –1986:
Sau ngày đất nước thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, thực
hiện chủ trương cải tạo ruộng đất, phần lớn đồn điền được quốc hữu hóa thành
các nông trường quốc doanh bên cạnh đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa nông
nghiệp, tập thể hóa ruộng đất, đưa nông dân vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất.

Đòa bàn

Tổng Trồng Trồng
trọt
trọt kết
số hộ
hợp CN
trang
trại

Chăn
nuôi

Lâm
Nông
lâm kết nghiệp
lâm kết
hợp
hợp
nuôi
TTS
Nông

Nuôi
trồng
thủy
sản

Làm
muối


373

211

90

5

21

7

7

17

14

1

1.TP.V.Tàu

33

31

0

0


0

0

3. Huyện 162
T.Thành

64

75

1

1

3

1

2

14

1

4. Huyện
Châu Đức

54

7

1

0

2

0

0

6. Huyện
Xuyên
Mộc

93

61

8

1

2

3

6


Hiện nay có 90 trang trại chiếm 24,12% trong số trang trại toàn tỉnh. Tập
trung ở Tân Thành 75 trang trại, Long Đất 6 trang trại, Xuyên Mộc có 8 trang trại,
thò xã Bà Ròa 1 trang trại. Trên 90% doanh thu từ sản phẩm trồng trọt khoảng 10%
còn lại là sản phẩm chăn nuôi. Việc kết hợp chăn nuôi trong mô hình này chưa
thực sự mang tính chất sản xuất hàng hóa, mà nhằm giải quyết việc làm cho các
lao động phụ trong gia đình và kiếm theo thu nhập.
* Trang trại chăn nuôi:
Toàn tỉnh có 5 trang trại, trong đó có 4 trang trại chăn nuôi tổng hợp và 1
trang trại chuyên chăn nuôi bò, các trang trại chăn nuôi thường không có hoặc có
ít diện tích canh tác.
Ngoài sản phẩm chính là thòt và trứng đối với gia cầm. Trang trại chăn nuôi
còn thu phần sản phẩm phụ như phân heo, trâu, bò, để bán cho các hộ sản xuất
nông nghiệp. Bên cạnh đó, các trang trại chăn nuôi còn là nơi sản xuất ra các
giống vật nuôi như heo, gà, vòt,... Năng suất vật nuôi thường cao hơn so với các
trang trại trồng trọt kết hợp với chăn nuôi.
* Trang trại nông lâm kết hợp: có 21 trang trại chiếm 5,6% trong tổng số
Trang trại nông lâm kết hợp là loại mô hình trang trại chuyên môn hóa sản
xuất đi đôi với phát triển tổng hợp. Điểm xuất phát của trang trại này là trang trại
lâm nghiệp. Phần nông nghiệp kết hợp chính chủ yếu là chăn nuôi bò, và 1 số gia
cầm khác, bên cạnh đó còn trồng xen xanh 1 số loại cây trồng ngắn ngày.
* Trang trại nông lâm kết hợp với nuôi trồng thủy sản:
Loại mô hình trang trại này có 7 trang trại chiếm 1,87% tổng số trang trại
toàn tỉnh. Đây là loại hình phát triển tổng hợp và hoàn thiện nhất nhưng trong số 7
trang trại chỉ có 1 trang trại ở Huyện Tân Thành là hội đủ yếu tố: Nông – Lâm –

24


Trích đoạn Về nhận thức, quan điểm đối với kinh tế trang trạ Xâc định mô hình trang trạ Vấn đề xđy dựng quan hệ sản xuất mới với kinh tế trang trạ Xđy dựng mô hình liín kết TĂI LIỆU THAM KHẢO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status